Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Thái thượng cảm ứng thiên

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (Tập 35)

Thứ hai - 29/09/2014 00:11

Chào chư vị đồng tu, chào mọi người.

Chúng ta xem “Cảm Ứng Thiên”, đoạn thứ hai mươi bảy: “Bất chương nhân đoản, bất huyễn kỷ trường”.

Hai câu nói này xem ra rất bình thường, nhưng có quan hệ rất lớn đối với người tu hành chân chánh. Mở đầu của tiểu chú nói rất hay: “Nhân chi hữu đoản, như văn phụ mẫu chi danh, nhĩ khả đắc văn, khẩu bất khả đắc ngôn giả”. Lời nói này là vào xã hội thời xưa, hiện nay chúng ta rất khó thể hội rồi. Trung Quốc thời xưa, có thể nói là từ triều Hán mãi cho đến triều Thanh, trước sau duy trì lễ tiết, cái gọi là “dùng lễ trị thiên hạ”. Ý nghĩa của câu nói này rất sâu. Vào thời cổ đại, quan hệ vô cùng mật thiết mới được gọi tên. Thông thường tên của một người, ở trong một đời chỉ có hai người là có thể gọi tên của người đó, một người là cha mẹ, một người là thầy. Lễ xưa, con trai 20 tuổi trưởng thành thì hành quan lễ (quan lễ chính là đội mũ). Hai mươi tuổi là thành niên rồi, đội mũ là biểu thị họ trưởng thành. Bắt đầu từ ngày này trở đi, anh em, bạn bè, bạn học cùng trang lứa của họ, mọi người cùng nhau chúc mừng cho họ, đồng thời tặng cho họ một cái tên riêng, cho nên họ có tên và tên riêng. Tên của họ thì không được gọi mà chỉ gọi tên riêng, đây là tôn kính đối với họ. Cho nên sau khi thành niên, chỉ có cha mẹ và thầy là những người có thể gọi tên của họ. Cho dù làm quan ở triều đình, hoàng đế đối với họ cũng gọi tên riêng, chứ không gọi tên, đây là tôn kính đối với họ. Nếu như hoàng đế không gọi tên riêng mà gọi tên của họ thì người này đã có tội rồi, không đối xử họ giống như người khác, hay nói cách khác, họ đang đợi xử tội. Thông thường không phải một người bình thường có thể tùy tiện gọi tên của một người, huống chi con cái đối với tên của cha mẹ, không dám gọi. Người khác gọi tên cha mẹ của họ, họ có thể nghe, họ dứt khoát không được nói. Ở chỗ này nói “Bất chương nhân đoản”, dùng thí dụ này, ý nghĩa này rất là sâu xa. Nghe thấy người khác nói thị phi, nói hay dỡ, ý là nói giống như nghe người ta nói tên của cha mẹ bạn vậy. Bạn chỉ được nghe, bạn không được nói, nói là đại bất kính, là đại bất hiếu đối với cha mẹ. Chú giải dùng cái ví dụ này rất hay. Hiện nay không có người học lễ, cũng không có người giảng lễ. Đọc đến câu này, người hiện tại hiểu được là không nhiều rồi, cũng không có cách gì thể hội được, thậm chí là ý nghĩa này rốt cuộc rộng cỡ nào, người hiện nay cũng không thể nghĩ được.

Vào thời xưa, đối với xưng hô vô cùng coi trọng, dứt khoát không được lộn xộn. Đây là căn bản của giáo dục luân lý. Thế nhưng người phương tây không có, ngay cả cái khái niệm này cũng không có. Người phương tây, con cái tùy tiện gọi tên của cha mẹ. Điều này ở trong xã hội xưa Trung Quốc không thấy. Trung Quốc vào thời xưa, tôn kính đối với một người thì ta gọi tên riêng, đây là bình thường. Nếu như họ có đạo đức, có học thức, có cống hiến đối với quốc gia xã hội, thì mọi người cũng không gọi tên riêng của họ, mà đặt cho họ một danh hiệu khác, gọi là hiệu. Đây là đối với họ tôn kính hơn rồi. Nếu như rất mực tôn kính thì ngay cả hiệu cũng không gọi, mà gọi địa danh của họ. Ví dụ như Lý Hồng Chương, Hồng Chương là danh của ông. Ông làm đến tể tướng, được đại chúng xã hội tôn kính, cho nên ngay cả tên, tên riêng và hiệu của ông, người ta đều không gọi, mà gọi là Lý Hợp Phì (ông là người Hợp Phì), gọi địa danh của ông. Điều này không những tôn kính đối với ông mà đối với quê hương của ông cũng tôn kính. Hợp Phì đã sinh ra nhân vật lớn như vậy, đây là sự vinh dự của toàn bộ người Hợp Phì, cho gọi [địa danh] là cái ý này. Thông thường xã hội cũng dùng phương pháp này để xưng hô đối với người xuất gia. Thời triều Tùy, Trí Giả Đại Sư, gọi “Trí Giả” đã là đối với Ngài rất tôn kính rồi. Pháp danh của Ngài là Trí Khải, nhưng không gọi Trí Khải mà gọi Trí Giả, đây là rất tôn kính rồi. Rất mực tôn kính, nhưng ngay cả tên này cũng không gọi, mà gọi là Thiên Thai Đại Sư, vì Ngài trụ tại núi Thiên Thai. Rất mực tôn kính thì gọi địa danh của họ, nơi họ sinh ra và lớn lên, hoặc giả nơi họ thường ở. Điều này chúng ta đã thấy quá nhiều ở trong sách cổ rồi. Phàm là cách xưng hô này, đều là được người xã hội đương thời phổ biến kính ngưỡng.

Tiến thêm một bước nữa là miệng không được phép nói, “nhĩ diệc bất khả đắc văn, tắc cánh thượng giả”. Trên một bậc nữa, không những là nghe xong không được nói, mà tốt nhất là nghe cũng không nên nghe. Điểm này rất quan trọng.

Chúng ta tu hành, điều quan trọng nhất là tu Tâm Thanh Tịnh. Phật pháp quy kết đến cuối cùng là có ba môn: Giác, Chánh, Tịnh.

Thứ nhất là môn “Giác”

Môn “Giác” là Tánh tông tu, là Thiền tông tu, phải người thượng thượng căn mới đắc lực, không phải người thượng thượng căn thì không thể vào cửa. Nếu nói đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh thì người căn tánh trung hạ, cả đời không làm được. Cho nên đi cửa “Giác” tất nhiên là nhanh, nhưng nhất định là số ít người. Ở trong lịch sử Thiền tông Trung Quốc, dưới hội của Đại Sư Lục Tổ Huệ Năng, số người được độ nhiều nhất cũng chỉ có 43 người. Quí vị thử nghĩ, người tiếp nhận Đại Sư Lục Tổ Huệ Năng giáo huấn là bao nhiêu người? Chúng tôi tính sơ lược một chút, mấy chục vạn người chắc chắn là có. Trong mấy chục vạn người, chỉ có 43 người khai ngộ, chỉ là thiểu số. Nếu không phải căn thượng thượng thì chắc chắn không làm được. Từ Lục Tổ trở về trước, từ khi Tổ sư Đạt Ma đến Trung Quốc, cả đời chỉ được một người, cho nên đơn truyền. Từ Lục Tổ về sau, những Tổ sư đại đức này dưới hội khai tuệ chỉ có ba người, năm người, chưa từng có vượt qua mười người, năm - ba người là rất nhiều. Cho nên cửa “Giác” tuy hay nhưng rất khó đi.

Thứ hai là môn “Chánh”

Môn “Chánh” cũng không dễ dàng. Môn “Chánh” là nghiên cứu giáo lý, tiệm tu. Môn “Giác” là đốn tu, đốn siêu. Ngoài Thiền tông ra, toàn là thuộc vào Giáo Hạ; thiên thai, hiền thủ, tam luận, pháp tướng, duy thức đều là thuộc về Giáo Hạ, điển tịch quá nhiều, giống như đi học vậy, từ tiểu học, trung học đến đại học, phòng nghiên cứu, dần dần từ từ nâng cao lên. Người căn tánh trung hạ đi con đường này là thuận tiện, nhưng mà hao tốn thời gian quá nhiều. Thời gian dài thì tương đối sẽ có nhiều chướng ngại, chướng ngại về mặt nhân sự, chướng ngại về mặt hoàn cảnh luôn là điều không thể tránh khỏi, cho nên tiến thì ít mà thoái thì nhiều, thành tựu cũng tương đối gian nan. Chúng ta ở trong truyện sử đều xem thấy, nếu không có bền chí, không có nghị lực, không thể thật sự hành công phu khắc kỷ thì không thể thành tựu. Cho nên con đường Giáo Hạ vô cùng xa xôi, cũng không phải dễ học.

Thứ ba là môn “Tịnh”.

“Tịnh” là tu tâm thanh tịnh. Từ môn này, ở trong Phật pháp Đại Thừa có hai tông phái, Tịnh Độ tông đi cửa này, Mật tông cũng đi cửa này, đều là tu tâm thanh tịnh. Người tu tâm thanh tịnh, nếu như thường xuyên xen tạp thị phi hay dở thì tâm của bạn làm sao có thể được thanh tịnh? Thường xuyên nghe thị phi, thường xuyên nói thị phi thì tạo khẩu nghiệp nặng, không những tâm không thanh tịnh mà tương lai tạo quả báo cũng rất khó tưởng tượng, trong Kinh Phật nói là đọa địa ngục “Kéo Lưỡi”. Địa ngục “Kéo Lưỡi” là quả báo của khẩu nghiệp. Nghiệp mà bạn đã tạo đối với người khác, đối với xã hội, nếu như có tổn hại lớn thì không chỉ đọa địa ngục “Kéo Lưỡi”, mà có thể từ địa ngục “Kéo Lưỡi” sẽ chuyển đến địa ngục “Vô Gián”, trong “Phát Khởi Bồ Tát Thù Thắng Chí Nhạo Kinh” có nói, vừa mở đầu liền nói rõ ràng rồi.

Tông chỉ thật sự của bộ Kinh này là dạy người tu hành tin sâu nhân quả, đoạn ác tu thiện, nhất là khẩu nghiệp. Có thể biết thường xuyên gìn giữ tâm thanh tịnh của mình, giữ vững sự thành thật của mình, người này cho dù đạo nghiệp không thể thành tựu thì cũng là người thiện của trời người. Thiện mà nhà Phật nói, cổ nhân có tổng kết một đời giáo pháp Phật Đà. Lý mà Phật Bồ Tát nói không ngoài tâm tánh, nói ra những sự tướng không ngoài nhân quả. Nếu như nhân quả hoàn toàn tương ưng với tâm tánh thì đây là đại thiện, đó là sự hành trì của Phật Bồ Tát. Chúng ta học Phật, quí ở chỗ có thể nắm bắt được cương lĩnh thì chúng ta tu học sẽ không cảm thấy khó khăn. Sau khi hiểu rõ nhân quả rồi, bạn sẽ khẳng định gieo nhân thiện, được quả thiện. Chúng ta mong cầu quả thiện, tại sao không đi gieo nhân thiện? Tôi đời này biết giữ tròn đối với điểm này. Người khác nói thị phi, tôi lập tức tránh xa, tôi không muốn nghe, vì nghe xong tâm địa sẽ bị ô nhiễm. Người khác phá hoại tôi, nói thị phi về tôi, có đồng tu cầm những băng ghi âm này, hoặc giả ghi lại những lời nói này, cầm đến đưa tôi xem, tôi hoàn toàn không xem, đem băng ghi âm đi ghi những thứ khác, những phần ghi chép thì vứt vào sọt rác, không lưu lại trong A Lại Da Thức những chủng tử này, đây là chủng tử không tốt. Người khác đặt điều sinh sự, phỉ báng là oan gia. Oan gia nên giải, không nên kết. Cứ để họ đi tạo tác, chúng ta không nên nghe. Chúng ta chỉ nhớ ưu điểm của người khác, không nên nhớ khuyết điểm của người; chỉ nghe thiện hạnh, việc tốt của người khác, không nghe ác ngôn, ác hạnh của người. Đây không chỉ là tu tâm thanh tịnh, cũng là tu sự thành thật của mình. Người ở trong một đời thường xuyên giữ gìn tâm thanh tịnh, giữ gìn thành thật, mặc dù đời sống vật chất có thiếu thốn, có vất vả đi nữa, đời sống tinh thần phong phú thì sẽ sống rất vui vẻ, “lý đắc tâm an”, đạo lý hiểu rõ rồi thì tâm an. Nhất là bạn đã nghe Phật pháp, đã phát nguyện cầu sanh Thế giới Tây Phương Cực Lạc. Bạn thử nghĩ, Thế giới Tây Phương Cực Lạc là “các bậc thượng thiện đều hội về một chỗ”, tâm hạnh của bạn bất thiện thì làm sao có thể đi được? A Di Đà Phật tuy từ bi đến tiếp dẫn bạn, nhưng tiếp dẫn vẫn phải có điều kiện. Bản thân bạn tâm hạnh bất thiện, bạn niệm Phật có cần mẫn đi nữa, tâm nguyện của bạn có khẩn thiết đi nữa, nhưng mà không tương ưng với hoàn cảnh lớn của Thế giới Tây Phương Cực Lạc, Phật A Di Đà tiếp dẫn bạn đi, bạn hàng ngày cãi nhau với người khác, hàng ngày sinh thị phi với người khác, bạn làm náo loạn Thế giới Cực Lạc rồi, tình cảm của bạn đối với A Di Đà Phật sâu dày đi nữa, A Di Đà Phật cũng sẽ không vì bạn mà đem Thế giới Cực Lạc hủy đi. Cho nên muốn vãng sanh Thế giới Tây Phương Cực Lạc, điều kiện của bản thân là thiện tâm, thiện hạnh. Khổng Phu Tử dạy chúng ta “Chỉ ư chí thiện”, vậy mới có điều kiện “các bậc thượng thiện đều hội về một chỗ” ở Thế giới Tây phương Cực Lạc. Tôi thường nói, một mảy may ác ý cũng không được phép có. Nếu có một may may ác ý, ác niệm thì không thể vãng sanh. Không nên cho rằng pháp môn này không linh, tôi tu cả đời, niệm Phật cả đời, hàng ngày lạy Phật, hàng ngày niệm Phật, đến lúc lâm chung vẫn không thể vãng sanh, “Phật Thích Ca Mâu Ni lừa người”. Thật ra, Phật không hề lừa dối bạn, mà chính bạn đã hiểu sai ý nghĩa. Thật sự mong cầu Thế giới Tây Phương Cực Lạc thì mảy may ác ý cũng không được phép có.

Hai câu nói này là quan trọng. Tuyệt đối không được phép nói khuyết điểm của người khác, tốt nhất nghe cũng không nên nghe.

Câu phía dưới là: “Bất huyễn kỷ trường”. Chúng ta có sở trường, có ưu điểm thì không nên khoe khoang, không nên khoa trương, điều đó không có lợi ích gì.

Hôm qua chúng ta học đến “Cảm Ứng Thiên”, đoạn thứ hai mươi bảy: “Bất chương nhân đoản, bất huyễn kỷ trường”. Hai câu nói này, đối với chúng ta làm người xử thế là lời chỉ dạy quý báu nhất. Sống ở thế gian, mọi người đều có công việc và bổn phận riêng. Công việc, bổn phận làm tốt rồi, là bổn phận thì bạn cần phải làm tốt, vậy có gì đáng để kiêu ngạo? Cho nên không có lý do để khoe khoang sở trường của mình. Làm tốt là bổn phận, làm không tốt chính là lỗi lầm, chính là tội nghiệp.

Tạo tác tội nghiệp dễ dàng nhất, thường thường nghiêm trọng nhất là khẩu nghiệp, đặt điều sinh sự, khơi chuyện thị phi. Quí vị đều biết, hiện nay thế gian này có tai nạn lớn. Hôm qua đồng tu Úc châu, Mỹ điện thoại đến hỏi tôi là ngày 18 tháng 8 xử lý như thế nào? Bạn hỏi, xử lý như thế nào, đến đâu để tránh nạn? Ngạn ngữ thường nói, “chạy trời không khỏi nắng”, bạn trốn ở đâu được? Ngày nay điều quan trọng nhất, người thông minh nhất là làm thế nào có thể hóa giải kiếp nạn này, chứ không phải trốn tránh. Kiếp nạn từ đâu mà ra vậy? Từ trong tâm biến hiện ra. “Tất cả pháp từ tâm tưởng sanh”, trong Tướng tông nói: “Chư pháp sở sanh, duy tâm sở hiện”. Nguồn gốc của nghiệp chướng là ở khởi tâm động niệm của mình, hóa giải vẫn là ở khởi tâm động niệm. Sự hóa giải này không phải nhất thời, không phải một lần. Lần này kiếp nạn đến rồi, chúng ta mau mau đoạn ác tu thiện, nhưng khi kiếp nạn không còn nữa thì lại tạo ác nghiệp tiếp. Loại tâm thái này là vô phương tránh khỏi tai nạn! Ác nghiệp, ác niệm phải đoạn mãi mãi thì kiếp nạn mới thật sự hóa giải. Chúng ta lợi dụng cơ hội này, cơ hội này là cơ hội tốt cho tu hành, đây là thời tiết nhân duyên, không được chậm trễ. Chúng ta phải ở trong thời gian ngắn nhất, đem cảnh giới của mình nâng cao lên, nâng lên đến cảnh giới của Phật Bồ Tát thì kiếp nạn này liền không còn nữa, kiếp nạn này liền hóa giải. Không chịu nâng cao lên, hoặc giả là tôi nâng lên một chút, kiếp nạn qua rồi tôi lại đi xuống, thế là xong rồi, không có cái đạo lý này! Đại đức xưa đã từng làm tấm gương cho chúng ta thấy. Thời triều Tống có Pháp sư Oánh Kha (trong “Vãng sanh truyện” có viết về Ngài, ở trong “Tịnh Độ Thánh Hiền Lục” cũng có viết về Ngài, ở trong “An Sĩ Toàn Thư”, “Tây Quy Trực Chỉ” cũng có ghi chép về Ngài), đây là một người xuất gia không giữ thanh quy, vi phạm giới luật. Ông cũng được xem là người không hồ đồ, được xem là người giác ngộ. Trong tâm ông tự suy nghĩ, hành vi cả đời của mình, tương lai quả báo nhất định ở địa ngục (điều này bản thân ông biết chắc chắn ở địa ngục). Ông thỉnh giáo các đồng tham đạo hữu, có cách gì có thể cứu ông không? Các đồng học bèn đưa cho ông quyển “Vãng Sanh Truyện”. Sau khi xem xong, ông vô cùng cảm động, cho nên đóng cửa lại, niệm A Di Đà Phật ba ngày ba đêm, không ăn gì, không uống nước, cũng không ngủ. Suốt ba ngày ba đêm dốc sức, nhìn chung ông thành tâm, cho nên “thành tắc linh”, ông niệm thấy A Di Đà Phật rồi. A Di Đà Phật nói với ông: “Tuổi thọ của con còn 10 năm nữa, con cố gắng tu hành, sau 10 năm ta sẽ trở lại tiếp dẫn con”. Pháp sư Oánh Kha nói với A Di Đà Phật: “Tập khí ác của con rất nặng, không ngăn nổi cám dỗ, bên ngoài vừa dụ dỗ, con lại tạo tội nghiệp. Ở trong 10 năm này, con không biết lại tạo bao nhiêu tội nghiệp. Thọ mạng 10 năm, con không cần nữa. Bây giờ con muốn đi với Ngài”. Sự khẩn cầu này của ông, A Di Đà Phật đồng ý nhận lời. A Di Đà Phật nói với ông: “Sau ba ngày, ta đến tiếp dẫn con, có được không?”. Pháp sư Oánh Kha nói: “Dạ, được!”. Ông vô cùng hoan hỷ, mở cửa liêu phòng ra và nói cho đại chúng biết ba ngày sau ông sẽ vãng sanh. Ở trong chùa không có người nào tin ông, một người không có ác nào không làm, đóng cửa ba ngày, không biết làm gì ở trong đó, lại nói sau ba ngày ông sẽ vãng sanh. Được! Thời gian ba ngày cũng không dài, mọi người sẽ theo dõi ông, xem thử sau ba ngày ông có vãng sanh hay không? Đến ngày thứ ba, quả nhiên ông thay quần áo sạch sẽ, tắm rửa, mời đồng tham đạo hữu trong đạo tràng, giúp ông niệm Phật để tiễn đưa ông đi. Đương nhiên là mọi người đều rất hoan hỷ. Một người thật sự có thể vãng sanh Thế giới Tây Phương Cực Lạc, bạn thấy, ông không bị bệnh, người bình thường như vậy, niệm đến thời gian chưa đầy một khắc (thời gian một khắc rất ngắn), ông bèn nói với mọi người: “A Di Đà Phật đến rồi, tôi phải đi”. Từ biệt với mọi người, liền ngồi ngay đó ra đi. Đây đã chứng thực lời mà trong “Kinh A Di Đà” nói: “Nếu một ngày, nếu hai ngày, nếu ba ngày đến bảy ngày…” không hề sai. Bạn ở niệm Phật đường đã niệm lâu như vậy, không có niệm thấy A Di Đà Phật là tâm của bạn không thành. Tại sao người ta niệm ba ngày là thấy được A Di Đà Phật rồi, còn các bạn niệm lâu như vậy, tin tức của A Di Đà Phật cũng không có? Nguyên nhân do đâu thì tự mình phải biết. Ông vãng sanh Thế giới Tây Phương Cực Lạc chính là đi làm Phật rồi. Quí vị thử nghĩ, từ địa vị phàm phu bỗng chốc nâng lên đến cảnh giới của Phật Bồ Tát. Đây là một điển hình rất tốt, một tấm gương rất tốt của chúng ta. Tôi tin lịch đại người giống Pháp sư Oánh Kha như vậy, thật sự quay đầu, triệt để quay đầu, sửa chữa lỗi lầm, từ một người ác trở thành một người tối thiện. Đây là thật sự quay đầu trong khoảng một niệm. Người vãng sanh Thế giới Tây Phương Cực Lạc như vậy, từ xưa đến nay không biết có bao nhiêu người, không có người ghi chép lại, họ cũng không nói cho người biết. Người niệm Phật vãng sanh không biết có bao nhiêu người. “Vãng Sanh Truyện”, “Tịnh Độ Thánh Hiền Lục” có thể ghi lại là số ít, chỉ là một phần mười, một phần trăm mà thôi.  Sự thật này chúng ta phải biết. Chúng ta còn có gì sợ sệt, còn có gì sợ hãi? Chúng ta phải sống cuộc sống như thế nào? Hãy cứ thật thà niệm Phật. Thân thể này của chúng ta còn lưu ở thế gian này, tạm thời vẫn chưa đi thì phải thay A Di Đà Phật làm công việc tuyên dương nhiều thêm, vì tất cả chúng sanh làm gương nhiều thêm, vậy là đúng rồi. Giúp A Di Đà Phật tiếp dẫn đại chúng, khuyên tất cả chúng sanh niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, nhất định phải sửa chữa lỗi lầm.

Hôm qua tôi đã nói với quí vị rồi, mở đầu của chú giải này rất hay: “Nhân chi hữu đoản, như văn phụ mẫu chi danh. Nhĩ khả đắc văn, khẩu bất khả đắc ngôn dã”. Các bạn nghe lại băng ghi hình hôm qua một chút, tôi đã giảng rất rõ ràng. Mấy câu nói này, hiện nay giảng với các bạn, có thể các bạn không có ấn tượng, nhưng vào thời xưa là rất nghiêm trọng rồi. Thời đại này, có xảy ra tai nạn lớn như vậy, nói thực ra là không có tiếp nhận lời dạy của thánh hiền. Tất cả thuận theo tập khí của mình mà sống thì đâu có đạo lý nào không tạo nghiệp? Tạo tội nghiệp cực kỳ nghiêm trọng mà vẫn cho là việc tốt, không biết bản thân có sai lầm. Học Phật, không những làm trái ngược với lời dạy của Phật Bồ Tát, mà thiện pháp thế gian cũng chẳng biết gì cả; đem tất cả pháp ác xem là thiện pháp; đem tất cả ác niệm, tà niệm xem là chánh niệm, cho nên chiêu cảm tai nạn lớn. Chúng ta ngày nay phải triệt để sám hối, khiến bản thân chúng ta một đời phải sống ở trong thế giới cảm ân, hạnh phúc, mỹ mãn thật sự. Làm thế nào mới có thể làm được vậy? Tai không nghe tiếng ác, mắt không thấy việc ác thì bạn mới có thể giữ vững tâm thanh tịnh của mình. Nhưng mà thế gian rất nhiều người, người học Phật cũng không tránh khỏi, vẫn có người xuất gia chuyên đi nghe việc ác của người khác, từ sáng đến tối gặp người là kiếm chuyện thị phi, tạo tội nghiệp cực trọng mà họ không biết. Việc của người khác thì có liên quan gì với ta chứ? Nghe còn không nên nghe. Có một số đồng tu nói với tôi: “Pháp sư! Có người nào đó phao tin về thầy…”. Họ nghe người ta đặt điều, còn đem băng ghi âm để ghi lại rồi tặng cho tôi, tôi hoàn toàn không nghe. Những văn tự này tôi hoàn toàn không xem, tôi đều đem nó cho vào sọt rác, xử lý sạch. Tại sao vậy? Tôi muốn gìn giữ một ấn tượng đẹp nhất. Trong mắt tôi, mọi ngươi đều là người tốt, mọi người đều là người thiện, mọi người đối với ta đều có ân đức. Mặc dù họ có những lời phỉ báng, đặt điều thị phi, nhưng đó là sự hiểu lầm của họ. Hoặc giả là họ nghe và tin theo lời đồn nhảm của người khác, không phải là chủ ý của họ thì việc gì phải để ở trong tâm? Việc gì phải khiến tâm thanh tịnh của mình nhiễm phải một điểm dơ bẩn? Vấn đề đến từ bên ngoài, bạn tiếp nhận hay không? Bạn không tiếp nhận thì bạn vĩnh viễn gìn giữ tâm thanh tịnh, tuyệt đối sẽ không bị ô nhiễm. Bạn tiếp nhận thì mới bị ô nhiễm. Chúng ta việc gì phải làm những việc này?

Là người thì phải hiểu được một nguyên tắc lớn là “Làm thiện với người”. Phật ở trong Kinh nói rõ ràng hơn, thấu triệt hơn: “Tất cả chúng sanh đều là cha mẹ quá khứ của ta và là chư Phật vị lai”. Đã là cha mẹ quá khứ thì chúng ta phải dùng tâm hiếu kính, tâm hiếu thuận để đối đãi. Đã là chư Phật vị lai thì chúng ta phải dùng tâm cung kính để đối đãi. Đây chẳng phải nói rất rõ ràng, rất minh bạch rồi sao? Dùng tâm hiếu thuận, tâm cung kính đối đãi tất cả chúng sanh, thành tựu thiện nghiệp của mình, thành tựu “Thanh Tịnh - Bình Đẳng - Giác” của mình, đây mới là học Phật chân chánh, đây mới là quay đầu chân chánh. Việc lợi hại với mình, nhất thiết không quan tâm. Việc có lợi hại với chúng sanh, nhưng không có gì hại lớn, cũng không cần quan tâm. Nếu như có tổn hại lớn thì phải dùng trí tuệ để xử lý, không được phép xử lý theo cảm tình. Có người lừa gạt chúng ta, tôi đã từng gặp rồi, trước đây Pháp sư Đạo An cũng gặp rất nhiều. Việc gì vậy? Lừa tiền. Pháp sư Đạo An thường hay bị người gạt. Thầy là người đặc biệt, thầy không phải không biết, vì không biết đó là khờ khạo rồi, thầy biết người ta gạt thầy, nhưng thầy vẫn cứ đưa cho họ, điểm này là đặc biệt. Biết bạn đến gạt tôi, tôi vẫn đưa cho bạn, đây là phương pháp độ chúng sanh. Sau khi gạt lâu rồi, nếu như một ngày nào đó họ biết được, hóa ra mỗi lần gạt, lão hòa thượng đều biết, họ liền sinh tâm hổ thẹn, liền quay đầu thôi. Lão hòa thượng không khờ dại! Chúng ta gặp phải những việc này, nếu như không có trí tuệ và sự độ lượng giống như Pháp sư Đạo An, thì còn có một phương pháp khác, đó là điều tra chứng minh, đi điều tra thử xem có phải sự thật không. Nếu như họ thật sự cần giúp đỡ mà cách thức họ dùng là không chính đáng, chúng ta vẫn phải giúp đỡ họ. Nếu như họ đem số tiền lừa gạt này đi ăn uống, vui chơi, làm những việc không chính đáng thì chúng ta có thể không đưa cho họ. Đây cũng là một phương pháp xử lý.

Người ở trong mỗi niệm phải nghĩ hướng về chỗ thiện, niệm niệm nghĩ sở trường của người. Mỗi người đều có ưu điểm, đều có sở trường, cũng đều có khuyết điểm, cũng đều có lỗi lầm, cho nên mới nói là “Người không phải thánh hiền, không ai không có lỗi”. Phải tha thứ lỗi lầm của người, tán thán sở trường của người khác, bồi dưỡng đạo tâm của mình. Bạn thật sự có đạo tâm thì chắc chắn không có tai nạn, chắc chắn có Phật Bồ Tát hộ niệm, chắc chắn có thần hộ pháp phù hộ, “người cùng tâm ấy, tâm cùng lý ấy”. Chúng ta gặp được người thiện, chúng ta phải tận lực bảo vệ họ, che chở họ, thiện tương ưng với thiện. Tâm của bạn bất thiện, hạnh của bạn bất thiện thì chư Phật Bồ Tát và chư thiện thần xa lánh, yêu ma quỷ quái sẽ vây quanh bạn. Trong “Cảm Ứng Thiên” này nói rất nhiều, nói rất tường tận, bạn sẽ thường xuyên gặp tai nạn, bạn sẽ thường xuyên gặp chuyện bất như ý.

Chúng ta ngày nay ở trong môi trường này, tôi đã từng nói với quí vị nhiều lần, cái môi trường tu học này ngàn năm khó gặp, không phải thật dễ dàng gặp được. Ở nơi này có hộ pháp chân chánh, chăm sóc còn chu đáo còn hơn cha mẹ. Cư sĩ Lý Mộc Nguyên ở đây chăm sóc chúng ta. Mỗi ngày ông chỉ ngủ hai giờ, thường xuyên quên ăn cơm. Người như vậy đến hộ trì chúng ta, nếu chúng ta không dụng công, không quyết tâm cố gắng thì làm sao xứng đáng với người ta? Sáng hôm qua, ông đến Cư Sĩ Lâm, đã xảy ra tai nạn xe, xe không biết đụng vào chỗ nào, vỏ xe bị nổ. Hai giờ đồng hồ, ông hoàn toàn bị quên hết mọi thứ, cái gì cũng không biết, nhưng ông lại có thể lái xe đến Cư Sĩ Lâm. Người ta nhìn thấy tình trạng xe như thế, xem ông có bị thương hay không. Mở cửa xe ra, ông bước ra, không sao cả, nhưng cái gì ông cũng không biết. Hứa Thanh Tiêu cùng một số người dìu ông lên lầu hai, cho ông uống nước, ăn một chút cháo, sau hơn một giờ đồng hồ, ông mới hồi phục tri giác. Quá vất vả rồi, quá mệt mỏi rồi! Từ sáng đến tối đều là muốn làm sao bảo vệ đạo tràng tốt hơn, làm thế nào chăm sóc mọi người tốt hơn. Lý Văn Hoa có ở đây không? Bảo anh ấy điện thoại cho hội trưởng, nói hôm nay tôi đi Hồng Kông, xin ông không nên ra sân bay đưa tiễn, để ông nghỉ ngơi nhiều một chút. Sau này tôi đến hay đi, đều không mong ông đến đón tiếp hay tiễn đưa, không có cần thiết. Ông quá vất vả rồi, mong ông nghỉ ngơi nhiều một chút. Ông ngủ không đủ giấc, thường hay quên ăn cơm. Không được! Ông nói, có một hôm, vào nửa đêm tỉnh dậy, bụng đói rồi, suy nghĩ tại sao lại đói? Một ngày không ăn cơm. Đại Bồ Tát ở nơi đây hộ trì chúng ta, toàn tâm toàn lực chăm sóc, đi khắp thế giới, không thể tìm ra người thứ hai. Chúng ta có người như vậy ở bên cạnh chăm sóc chúng ta, bản thân chúng ta không chăm chỉ, không nỗ lực, đó chính là tội nghiệp. Nếu như bạn khởi vọng tưởng, tội nghiệp đó sẽ càng nặng. Cái ân đức này hơn cả cha mẹ.

Chúng ta đã dán câu liễn “Tri ân, Báo ân” của Phác lão khắp nơi, phải thường xuyên nghĩ đến. Làm sao báo ân? Cần mẫn nỗ lực dụng công, thành tựu đức hạnh, học vấn của mình, tương lai gánh vác sứ mệnh hoằng pháp lợi sanh, tiếp nối huệ mạng Phật, vậy mới có thể báo ân thật sự. Ngày nay người chăm sóc chúng ta không phải người thông thường. Không thể thuận theo giáo giới của Phật là có lỗi với hội trưởng Lý. Nhất định phải vứt bỏ thành kiến của mình, từ bỏ tập khí phiền não của mình, thuận theo lời dạy của Phật. Cái nhân duyên này vô cùng hi hữu.

Trước đây các bạn có rất nhiều đồng tu biết, trưởng Quán Hàn chăm sóc cho tôi, sánh với Lý Mộc Nguyên đó kém rất xa. Lý Mộc Nguyên là ngay cả nhà của mình cũng không quan tâm, mạng sống còn không quan tâm. Bạn đến đâu để tìm ra thiện tri thức như vậy? Tôi nhìn thấy ông hộ trì như vậy, cho nên tôi quyết định không rời khỏi Singapore. Tôi rời khỏi Singapore là tôi có lỗi với ông. Úc châu nơi đó, tôi đã nói với ông rồi. Tôi giúp đỡ Úc châu đoàn kết tôn giáo, hòa hợp chủng tộc. Nếu như đúng là sự việc này, họ mời tôi, tôi sẽ đi tham gia, không phải sự việc này thì tôi không đi. Úc Châu mở Phật thất, Ngộ Hạnh làm là được rồi. Tôi muốn đem toàn bộ thời gian để ở nơi đây, phối hợp với hội trưởng Lý. Ở nơi này có kiếp nạn, tôi cũng sẽ không rời khỏi, tôi cũng sẽ không tìm một nơi để tránh nạn. Đâu có loại đạo lý này! Người phải có đạo nghĩa, quyết định không được có tự tư tự lợi. Tự tư tự lợi là gốc rễ của tất cả tội nghiệp, cần phải nhổ bỏ tận gốc, chúng ta mới có thể tiêu nghiệp chướng, mới có thể hóa giải tai nạn.

Hôm nay chín giờ rưởi là chúng tôi phải ra sân bay. Sáng hôm nay ngưng giảng Kinh một lần. Ngày mai giảng “Kinh Hoa Nghiêm” như thường lệ. Các bạn đồng tu xem ở trên mạng. Tôi ở Hồng Kông cũng giảng “Kinh Hoa Nghiêm” như thường lệ. Buổi tối ở Hồng Kông giảng 53 tham, cũng có đường truyền internet, các bạn cũng có thể thu được.

Tốt rồi, chúng ta chỉ giảng đến đây thôi.

A Di Đà Phật!

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (tập 35)

Người giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không

Giảng tại: Tịnh Tông Học Hội Singapore

Thời gian: Năm 1999

Cẩn dịch: Viên Đạt cư sĩ, Vọng Tây cư sĩ

Biên tập: Ban biên tập Tịnh Không Pháp Ngữ

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 40


Hôm nayHôm nay : 3368

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 246245

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 10024012

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?