Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Thái thượng cảm ứng thiên

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (Tập 39)

Thứ hai - 29/09/2014 00:16

Xin chào các vị đồng tu, xin chào mọi người.

Hôm qua tôi đã giảng đến câu thứ 30 của Cảm Ứng Thiên:"Thọ nhục bất oán".Sự việc này là rất khó làm, thế nhưng cần phải làm đến được, vì sao vậy?Có quan hệ lợi hại mật thiết quá lớn đối với chúng ta. Thông thường người thế gian, có người nào ở ngay trong một đời không gặp rất nhiều những sự việc ân oán hay không? Trong Phật pháp nói với chúng ta về tám khổ, trong đó oán tắng hội, ái biệt ly là những việc xưa nay trong ngoài không thể không khiến người cảm thán.Hai sự việc này đều không phải là chúng ta bằng lòng gặp, thế nhưng ở ngay trong một đời vẫn cứ phải gặp, mọi lúc mọi nơi đều phải gặp.Nguyên nhân là gì?Nguyên nhân chính là không thể nhẫn nhục, từ oán nhỏ kết thành thâm cừu đại hận. Ở trong đoạn mở đầu của “Văn Xương Đế Quân Âm Trắc Văn”, Văn Xương Đế Quân nói rõ, ông ngày trước, những sự việc báo ân báo oán này thê thảm không dám nhìn, nếu như không gặp được Phật pháp thì rất khó giác ngộ, rất khó quay đầu, đây là chân thật si mê, nên ông mới có thể tạo ra những ác nghiệp này.

Phật Bồ Tát, thánh hiền nhân dạy bảo chúng ta chắc chắn có đạo lý, chắc chắn có chỗ tốt, có lợi ích. Các Ngài dạy chúng ta:“Thường hay nhớ đến chỗ tốt của người khác, không nên nhớ đến cái xấu của người khác. Thường hay nhớ cái ân của người khác, không nên nhớ oán của người khác”. Hai câu nói này rất quan trọng, nếu bạn có thể chân thật làm được thì đời đời kiếp kiếp hưởng phước, đời đời kiếp kiếp sẽ gặp được rất nhiều người kính yêu giúp đỡ.Thế nhưng vẫn có rất nhiều người không thể nhẫn.Tôixin nói qua mộtvài thí dụ.Ngày trước khi tôi đi học, tôi có thể nhẫn nhục.Sự nhẫn nhục này của tôi là lúc làm học sinh trong trường học mà học được, do một bạn học của tôi dạy cho tôi. Sau thời kỳ kháng chiến, tôi đi học ở Nam Kinh, tôi có một người bạn học cùng lớp tên là Bạch Chấn Ninh(tên của người này tôi nhớ rất sâu sắc, không biết hiện nay anh còn sống hay không), anh ấy dạy tôi nhẫn nhục. Anh là người có tu dưỡng, tôi rất là bội phục đối với anh ấy.Khi còn trẻ,ở trong trường học tôi rất hiếu thắng, được yêu thương của lão sư, tôn kính của các bạn, hiện tại gọi là lãnh tụ học sinh. Người bạn học họ Bạch này, tôi xem thường anh ấy, vũ nhục anh ấy, lúc nào cũng làm cho anh ấy khó chịu, nhưng anh ấy không chút tức giận (việc này rất khó làm được), hơn nữa ở sau lưng tôi, anh ấy còn tán thán tôi, chưa từng nói xấu tôi một câu nào. Sau khi hết một học kỳ, tôi bị anh ấy làm cảm động, anh ấy dùng thân giáo dạy tôi, điều này thật khó làm được.Cho nên cái bản lĩnh này, tôi đã học được. Sau khi học được rồi, đích thực tôi có được thọ dụng rất lớn, bất cứ ở trong trường hợp nào người ta vô lễ, ngay trước mặt làm nhục tôi, mắng tôi, hủy báng tôi, tôi cảm thấy như không có việc gì, tôi không nói một câu nào, “bạn muốn mắng, tôi để bạn mắng, mắng mệt rồi thì bạn sẽ không mắng nữa. Bạn muốn đánh, tôi liền để cho bạn đánh, quyết không đánh lại, bạn đánh mệt rồi thì bạn sẽ không đánh nữa”.Tôi học được bản lĩnh này. Thế nhưng người bạn họ Bạch này của tôi, phải một học kỳ, đại khái là bốn đếnnăm tháng, tôi mới bị anh ấy làm cảm động, cho nên tôi là một con người rất khó cảm hóa. Khi đồng sự của tôi đánh tôi, mắng tôi, không quá ba ngày thì họ giác ngộ, đặc biệt nhanh, sau ba ngày liền mua lễ vật đến thăm tôi và xin lỗi với tôi, nói là anh ấy sai rồi. Tôi nói: “Anh không hề sai!”.Họ lợi hại hơn tôi, không đến một tuần lễ, họ liền cảm động, liền quay đầu.Kỳ thật, họ đối với tôi như vậy có gì tốt không?Cái tốt thật quá lớn, khảo nghiệm của tôi xếp đến thứ nhấtchính là nhờ họ giúp đỡ.Cho nên bạn có thể nhẫn, không chỉ không thiệt thòimà còn chiếm lợi ích lớn. Bạn phục vụ ở trong một công ty xí nghiệp, giám đốc, ông chủ cảm thấy bạn có hàm dưỡng thì sẽ tán thưởng bạn, đồng sự tôn trọng bạn, cơ hội của bạn đều xếp ở thứ nhất, ai giúp bạn vậy? Những người mắng bạn, những người đánh bạn, những người làm nhục bạn giúp đỡ quá lớn.Nếu như bạn không thể nhẫn, bạn muốn tranh, bạn muốn cải vả thì sẽ tạo thành sự tổn hại rất lớn đối với bạn.Đây là sự thật trước mắt, lợi hại trước mắt, có mấy người có thể nhận biết? "Chịu nhục không oán" thìhoa báo, quả báo càng thù thắng, (nhà Phật gọi là hoa báo, hoa báo là ngay đời này, quả báo là ở đời sau), oan gia đối đầu của bạn đều hóa giải rồi, đều biến thành bạn bè, đều biến thành sức mạnh nhiệt tâm giúp đỡ bạn; không luận bạn làm bất cứ việc gì, bạn đều dễ dàng thành tựu.Cho nên Phật Bồ Tát thường hay dạy bảo chúng ta, thà bỏ thân mạng không kết oán thù với người. Sinh mạng không đáng kể gì, xả thân và thọ thân, tất cả chúng sanh đều không thể tránh được, đây là việc nhỏ, cho nên nói "sanh tử" là việc nhỏ, "tử sanh" là việc lớn. Hai chữ này đảo ngược lại, ý nghĩa không như nhau.Sanh tử là sự việc của ngay đời này, là việc nhỏ.Sau khi chết rồi bạn sẽ sanh vào cõi nào,đây mới là việc lớn.Cái thân này chết rồi thì biến thành súc sanh, biến ngạ quỷ, biến địa ngục, bạn nói xem, việc này lớn hay không?Cái thân thể này chết rồi đi làm Phật, đi làm Bồ Tát, đi sanh thiên.Cho nên sau khi chết rồi đi về đâu, đây là việc lớn.Sự việc này có mấy người hiểu được, có mấy người tin tưởng?

Vào xã hội thời xưa, đại đa số người đều tin tưởng, nhận qua giáo dục của thánh hiền. Người hiện nay tin tưởng càng ngày càng ít. Thế nhưng chỉ cần người có đầu óc bình lặng, tư duy cẩn mật thì người này sẽ tin tưởng.Hiện tại, người học khoa học nhiều, mê tín khoa học.Khoa học phải lấy chứng cứ, không có chứng cứ thì không tin tưởng. Cho nên lúc trước lão sư Lý giảng Kinh, nhắc đến sự việc này thầy liền nói mộtcâu chuyện cười, thầy nói: “Anh có cha anh, anh tin tưởng hay không? Anh thấy qua rồi.Ông nội của anh, anh có tin tưởng hay không?Tin tưởng, anh cũng đã thấy qua. Ông cố nội của anh, anh có tin tưởng không? Ông cố nội thì chưa thấy qua, anh chưa thấy qua thì anh cho là không có, thì không tin tưởng sao? Điều này có phù hợp với khoa học không?Thế gian những sự thật chưa thấy được thì quá nhiều quá nhiều, những sự việc không chứng minh cũng quá nhiều quá nhiều. Hai trăm năm trước, bạn nói địa cầu này là tròn, không có chứng cứ, ai tin tưởng?Đến sau này khoa học kỹ thuật phát triển, đã chứng thật rồi, thuyết minh nói ra sự thật.Tình hình của sáu cõi luân hồi, hiện tại khoa học kỹ thuật vẫn chưa thể đạt đến, đợi khoa học kỹ thuật phát triển hơn, đích thực chứng thật rồi, lúc đó bạn nói thế nào?Cho nên quyết định không thể nói, tôi không chính mắt thấy được thì tôi không tin tưởng.Loại tin này, chân thật gọi là mê tín.Người thông minh có thể suy lý.

Tôi nghĩ, có rất nhiều đồng tu đều có kinh nghiệm, chúng ta lần đầu tiên đi đến một nơi xa lạ, đột nhiên cảm thấy nơi đó rất quen thuộc, dường như trước đây đã đi qua, thậm chí những kiến trúc trên đường đều có thể phán đoán ra được, đi từ chỗ nào có những kiến trúc gì, đích thực là chỉ mới đi đến lần đầu, trước đó chưa đi qua. Chúng ta thường hay ra bên ngoài du lịch, nhìn những thấy nơi phong cảnh xinh đẹp, tình cờ dường như có ý niệm nơi này dường như đã đi qua rồi, nhưng không phải ngay đời này. Nếu như không phải trong đời quá khứ đã đến nơi đó rồi, thì làm gì có thể có loại tình huống này. Tôi nói đến sự việc này, ngày trước ở Đạt La Tư - Hoa Kỳ, có một vị cư sĩ tên là Thái Văn Hùng, ông chính là từ chỗ này mà tin tưởng con người có đời quá khứ. Khi tôi nhắc nhở ông, ông nói với tôi một sự việc, ông nói đích thực lần đầu tiên ông đến Cựu Kim Sơn, khi lái xe bị lạc đường, đi đến một trấn nhỏ, đột nhiên cảm thấy cái trấn nhỏ này rất quen thuộc, ông nói với người lái xe, nên lái đi như thế nào, có cái kiến trúc gì, quả nhiên không sai, đích thực là ông ấy lần đầu tiên đến trấn nhỏ đó, cho nên ông rất là mê cảm, tại vì sao có thể có tình huống này? Tôi nói với ông ấy, Cựu Kim Sơn ngày trước là nơi đãi vàng, đại khái ông là công nhân đãi vàng, ông ở trong cái trấn nhỏ này, sau khi ông chết rồi lần này đầu thai đến đây. Ông suy nghĩ,“rất có đạo lý!”.Cư sĩ Thái Văn Hùng các vị đều quen biết ông ấy. Cho nên mọi người ở chung với nhau, nghĩ lại chính mình gặp được ở trong quá trình du lịch. Nếu như không có đời quá khứ thì làm sao có thể có hiện tượng này? Mấy người đồng thời ngồi xe, khi đến cái trấn nhỏ đó, tại vì sao họ có mà người khác không có? Vì trong đời quá khứ đã ở qua nơi đó rồi.

Ở Hoa Kỳ rất thịnh hành thôi miên, dùng cách thức thôi miên để người này nói ra đời trước của họ. Đời trước có người từ cõi người đầu thai đến, có người từ cõi súc sanh đầu thai đến, còn có người không phải là sinh vật của địa cầu này đến nơi đây để đầu thai. Loại án kiện này, ở Hoa Kỳ đã có mấy vạn sự việc; có số thông qua môi giới truyền thông, báo cáo ra cũng có một, hai ngàn sự việc; có một bộ phận chúng ta thấy được, cho nên họ tin tưởng nhà Phật giảng sáu cõi luân hồi. Biết được có sáu cõi luân hồi, chúng ta liền nghĩ đến đời sau phải làm sao.

Thời gian đời này rất ngắn ngủi, cho dù sống trên 100 năm, chân thật cũng chẳng qua là một cái khảy móng tay mà thôi. Tôi sống đến hơn 70 tuổi rồi, sự việc của 5-6 tuổi, tôi vẫn còn nhớ, cũng giống như ngày hôm qua vậy. Cho nên nghĩ lại, nhân sanh có ý nghĩa gì?Tại vì sao phải tạo ác nghiệp?Tại vì sao phải kỳ kèo với người khác?Phải nên tư duy nhiều, nên đối xử tốt với người, nhất định không nên kết ác duyên với người.Người ta dùng ác ý đối đãi chúng ta, chúng ta nhất định phải hồi đầu phản tỉnh, không nên nhớ việc làm sai của họ, không hề thấy.Họ ác ý đối với ta, tại vì sao không dùng ác ý đối với người khác?Cho nên chính mình bình lặng tưởng tượng, tâm liền có thể bình lặng lại, bình lặng liền sanh trí tuệ.Không phải chính mình làm không tốt, mà chính là ngôn ngữ nói sai, nên vô ý đắc tội với người.Người khác có thái độ không tốt đối với ta, ta cảm thấy đó là việc đúng, ta đã tạo nhân bất thiện thì phải nhận lấy quả báo này.Mọi việc đều đẩy về đối phương, đều trách móc người khác, đây là lỗi lầm cực lớn, cho dù ngay đời này không kết oán với người, nhưng ở đời trước bạn đã kết oán với họ. Chúng ta là người học Phật, đều tin tưởng có đời sau, có đời trước. Cái oán này chúng ta thừa nhận, chắc chắn không có tâm báo thù thì cái nợ này đến đây là kết thúc rồi.

Nhẫn nhường là quan trọng hơn bất cứ thứ gì, đặc biệt là việc nhỏ, những việc vụn vặt không đáng kể thì càng không nên tính toán, vũ nhục to lớn đều không tính toán huống hồ là việc nhỏ.Nhất định phải dùng trí tuệ, phải dùng từ bi để hóa giải. Chúng ta không thể cảm hóa người là do công phu đức hạnh của chính chúng ta chưa đủ, trí tuệ của chúng ta không đủ. Trong lịch sử Trung Quốc, các vị đều biết Nghiêu Thuấn, Vũ Thương, các đại thánh nhân thời xưa. Bạn thấy gia cảnh của gia đình vua Thuấn, phụ thân kế mẫu của ông, em trai ông do mẹ kế sanh, hoàn cảnh gia đìnhcủa ông ác liệt đến cùng tột, thế mà ông có thể nhẫn, sở trường lớn nhất của ông chính là không thấy lỗi lầm của người khác, chỉ nhìn thấy lỗi lầm của chính mình. Ông có thể trở thành đại thánh, nguyên nhân chính ngay chỗ này.Ông có thể làm cảm động cha mẹ của ông, có thể làm cảm động bà con hàng xóm của ông, sau cùng làm cảm động quốc vương.Vua Nghiêu nghe được sự việc như vậy, triệu kiến ông, đem ngôi vua nhường cho ông, đem hai người con gái gã cho ông, ông kế vị ngôi vua.Ở Trung Quốc có 24 gương hiếu, ông xếp ở thứ nhất.Vì sao ông có năng lực lớn đến như vậy?Không gì khác, chính là chính mình phản tỉnh, tất cả lỗi lầm quy về chính mình, tất cả thiện lợi quy về người khác.Việc này chúng ta phải học tập. Đại Sư Huệ Năng nói rất hay: "Nếu là người chân chính tu hành thì không thấy lỗi thế gian". Ai làm được điều này?Vua Thuấn làm được rồi, các vị nghĩ xem có đúng không?Đại Sư Huệ Năng Lục Tổ làm được rồi. Chúng ta xem thấy ở trong "Đàn Kinh", Đại Sư Ngài đối nhân xử thế tiếp vật thật là khiêm tốn, một chút thái độ ngã mạn cũng không hề có. Chúng ta muốn học Phật, từ chỗ nào mà học?Những người này đều là tấm gương cho chúng ta, mà điều này là quan trọng hơn tất cả những điều giáo huấn.

Chúng ta đọc qua trên "Kinh Kim Cang", Phật dạy Bồ Tát tu học sáu cương lĩnh, trong đó bố thí và nhẫn nhục nói được rất nhiều, hay nói cách khác, Phật rất xem trọng đối với hai điều cương lĩnh này. Bố thí là dạy bạn buông xả, nhẫn nhục là then chốt của thành bại.Bạn có thể nhẫn thì bạn có thành tựu, không thể nhẫn thì bạn không thể có thành tựu, cho nên nói "tất cả pháp đắc thành ư nhẫn".Tất cả pháp này là bao gồm thế gian pháp, xuất thế gian pháp.Thế xuất thế gian pháp có thể có thành tựu hay không, then chốt là ở “nhẫn nại”.Đại nhẫn thì có đại thành tựu, tiểu nhẫn thì có tiểu thành tựu, không nhẫn thì không thể thành tựu.Sự việc này, chúng ta phải nghĩ nhiều.

Xưa nay trong ngoài, người lãnh đạo có địa vị, họ muốn chọn lấy trợ thủ, chọn lấy cán bộ, điều kiện nhẫn nại là vô cùng quan trọng.Người có tài hoa, thế nhưng không có lòng nhẫn nại cũng không ích gì, có thông minh hơn cũng không thể gánh vác trọng trách. Người mà tài hoa kém khuyết một chút không hề gì, thế nhưng họ có thể nhẫn nhụcthì họ có thể gánh vác trọng trách, tìm một số người có tài năng để cho họ làm tham mưu, để giúp đỡ họ, họ có thể thành tựu. Người có thể nhẫn nại, đầu óc rõ ràng tường tận, không mơ hồ, tâm tư của họ không mê loạn; không mê không loạn thì liền có trí tuệ, liền có thể quyết đoán; nghe thêm một số ý kiến của người khác, họ liền biết được ý kiến nào, tương lai sẽ có được hậu quả như thế nào, họ có thể chọn lựa, họ làm quyết đoán sau cùng. Thí dụ này thì thật là quá nhiều.

Cho nên, câu giáo huấn này chúng ta phải đặc biệt xem trọng, hy vọng các đồng tu phải nhớ lấy.Nhớ cái thiện của người, không nhớ cái xấu của người, thành tựu đại đức đại hạnh của chúng ta. Nhớ cái ân của người, không nhớ cái oán của người. Người ta có oán đối với ta, có bất thiện, một mực xóa sạch, quyết không nhớ trong lòng. Cái thiện của người phải ghi nhớ, ân đức của người khác đối với ta không thể quên đi, mà phải tri ân báo ân. Người khác có lỗi lầm, có bất thiện, phải biết là người ta sẽ cải lỗi, gọi là "lãng tử hồi đầu". Người xưa dạy chúng ta: "Con người không phải thánh hiền, làm gì không có lỗi? Có lỗi mà có thể sửa thì còn gì tốt hơn".Cho dù họ có xấu, nếu như họ chân thật cải lỗi, hướng thiện thì có thể vượt qua chúng ta, chúng ta vẫn không thể sánh được với người, làm sao có thể xem thường?Chúng ta xem qua thánh hiền xuất thế gian, hoài bảo của các Ngài quang minh lỗi lạc, các Ngài tu từ chỗ nào vậy?Tu từ chỗ này.

Một người tâm địa thuần thiện, không có ác, gặp phải người ác, việc ác, cảnh ác, không để ở trong lòng, trong tâm không có.Người thiện, việc thiện, thuận cảnh thường hay để ở trong tâm, bạn nói xem, ngay đời này họ trải qua đời sống thật hạnh phúc, trải qua một đời sống tốt đẹp cỡ nào.Người mà việc tốt không để ở trong lòng, trong lòng dốc sức ghi nhớ việc xấu, thì đời sống của người thật thống khổ, buổi tối đều thấy ác mộng.Ai tìm đến vậy? Tự làm tự chịu, không phải người khác làm cho họ, kiết hung họa phước ở ngay khoảng một niệm của chính chúng ta. Một niệm thuần chánh, chúng ta cả đời hạnh phúc, cả đời trải qua tốt đẹp.Một niệm bất thiện, cả đời trải qua rất là thống khổ.Trong “Cảm Ứng Thiên” nói tỉ mỉ, tường tận cho chúng ta những chân tướng sự thật và đạo lý này.

****************

Ba câu 28, 29 và 30 này của “Cảm Ứng Thiên” chính là bạt trừ ba độc phiền não “không tham, không sân, không si” trong tâm của chúng ta. Nhà Nho, nhà Đạo, nhà Phật, ba giáo đã nói hoàn toàn giống nhau, đúng như người xưa đã nói "cái thấy của anh hùng, đa phần đều giống nhau". Phật gọi cái này là ba độc, hiện tại chúng ta gọi là bệnh độc, đây là bệnh độc rất nghiêm trọng, có thể sát hại sinh mạng của chúng ta, làm cho thân thể chúng ta nhiều bệnh, không khỏe mạnh, đoản mạng, nhưng việc này vẫn chỉ là việc nhỏ, việc tổn hại pháp thân huệ mạng mới là việc lớn. Tại vì sao chúng ta đọa lạc vào trong luân hồi vô lượng kiếp đến nay đều không thể ra khỏi? Luận về nguyên do căn bản của nó chính là ba độc phiền não chưa tẩy sạch sẽ. Mỗi một đồng tu chúng ta, không luận bạn sinh trưởng ở nơi nào, hiện tại hoàn cảnh đời sống của bạn ra sao, chỉ cần bạn có duyên nghe được Phật pháp, nghe được danh hiệu Phật Bồ Tát là duyên phận của bạn cũng không cạn. Trên kinh Phật nói với chúng ta, vô lượng kiếp đến nay đã trồng thiện căn sâu dày, bạn mới có cơ duyên nghe được Phật danh, thấy được Phật tượng, thấy được Phật kinh. Đây là nói rõ chúng ta học Phật không phải là một đời này, nếu chỉ học một đời này thì làm sao có thể có được thiện căn sâu dày như vậy? Do đây có thể biết, chúng ta vô lượng kiếp trước đã từng gặp được Phật pháp, đã từng tu học qua Phật pháp, nhưng tại vì sao không thể thành tựu?Vì ba độc phiền não chưa đoạn được sạch sẽ. Mấy câu nói này trên “Cảm Ứng Thiên”, thực tế mà nói là dạy cho chúng ta chỗ để bắt tay vào đoạn ba độc phiền não, chúng ta phải lưu ý.

"Thoái đa thủ thiểu", chỗ này trong nhà Nho gọi là tiết kiệm. Đức hạnh của Khổng Lão Phu Tử, các vị biết được, trên "Luận Ngữ", các đệ tử tán thán đối với Ngài là"ôn-lương-cung-kiệm-nhượng".Khổng Tử ở Trung Quốc được tôn xưng là "Vạn Thế Sư Biểu"."Sư" chính là mô phạm cho chúng ta, là điển hình của chúng ta.Mô phạm này ở đâu vậy?Chính trong năm chữ này.Cả đời Ngài làm người ôn hậu, thiện lương, cung kính, tiết kiệm, nhẫn nhường, Ngài đại biểu mỹ đức của người Trung Quốc. Cho nên ở trong đời sống nhất định phải tiết kiệm, có thể giảm thì phải giảm, ta có thể tiết kiệm một xu tiền thì có thể giúp người khác nhiều hơn một xu, ngay trong mỗi niệm nghĩ đến giúp đỡ xã hội, giúp đỡ chúng sanh, đời sống chính mình có thể qua được thì tốt rồi.

"Thọ nhục bất oán", cái nhẫn nhục này vô cùng quan trọng."Thoái đa thủ thiểu"chính là bố thí, giúp bạn đoạn tham.Nhẫn nhục chính là đoạn sân hận. Cho nên chữ "nhẫn" này, Phật răn dạy chúng sanh là liệt vào khóa mục tối trọng yếu. Chúng ta xem thấy trên Kinh Đại Thừa, Phật có thể nhẫn. Sau cùng Ngài trích dẫn một đoạn lời nói, trên “Kinh Niết Bàn”có một đoạn kinh văn như vầy, Khi Phật Đà còn tại thế, đã từng có người tán thán Phật là có tướng "đại phước đức", đích thực Phật chân thật là tướng mạo trang nghiêm, 32 tướng 80 vẻ đẹp. Sự việc này, ở trên Kinh Phật cũng đã nói rất rõ ràng vì sao Phật phải thị hiện tướng hảo.Trên Kinh nói với chúng ta, Bồ Tát thành Phật, cũng chính là Bồ Tát tu hành đến trí tuệ phước đức viên mãn. Trí tuệ phước đức viên mãn, tuyệt nhiên không đại biểu tướng mạo của bạn viên mãn, tướng mạo là thuộc về nhân quả, cho nên Bồ Tát sau khi chứng đắc vô thượng Bồ Đề thì còn phải dùng thời gian 100 kiếp chuyên môn để tu phước. Một trăm kiếp là thời gian rất dài, các Ngài phải tu tướng hảo. Tại vì sao phải tu tướng hảo?Vì để độ chúng sanh.Chúng sanh chấp tướng, chúng sanh chỉ nhìn bên ngoài, bên ngoài không thể phục được người thì chúng sanh không chịu tiếp nhận giáo huấn.Vì vậy, Phật phải dùng thời gian 100 kiếp chuyên môn tu tướng hảo.Đó chính là trồng nhân thiện được quả thiện.

Thế nhưng chúng ta phải nên biết, thiện nhân thiện quả đó của các Ngài không phải là vì chính mình, mà là vì chúng sanh.Ba mươi hai tướng, mọi người biết có tướng lưỡi rộng dài.Tướng lưỡi rộng dài là nhân gì? Không vọng ngữ, bốn loại nghiệp của miệng làm được rất viên mãn, không vọng ngữ, không ác khẩu, không hai chiều, không thêu dệt, cho nên đầu lưỡi của Phật khi lè ra có thể đậy cả mặt. Chúng ta không có năng lực này.Trên Phật Kinh nói, đầu lưỡi của bạn đưa ra, có thể liếm được đầu mũi là bạn ba đời không vọng ngữ, bạn mới có cái tướng hảo này. Cho nên đầu lưỡi của Phật đưa ra đậy cả mặt, mọi người không có lời gì để nói, lời của Phật thành thật, tuyệt đối không có vọng ngữ, nếucó vọng ngữ thì tuyệt đối không có được cái tướng này. Cho nên Phật tu tất cả đều là vì chúng sanh.Người này tán thán Phật là tướng đại phước đức, người khác liền hỏi, làm sao thấy được? Ngài nói ra mấy sự việc, Ngài nói Thế Tôn "niên chí câu thạnh", tuổi tác ba bốn mươi tuổi, thiếu niên cường tráng, thế nhưng thế nào vậy? Phật biểu thị rất ôn hòa, một chút thái độ thô tháo cũng không có.Bạn đánh Ngài, Ngài không sân hận; bạn mắng Ngài, Ngài cũng không nổi tức giận, đây không phải là tướng đại phước đức thì là gì?Ba mươi hai tướng của Phật chúng ta không học được, đó không phải là việc nhất thời có thể học được, thế nhưng cách nói này, chúng ta có thể học tập.

Ôn văn nho nhã, hòa ái dễ gần, bị nhục không những không báo thù, ngay ý niệm báo thù cũng không có.Đây là đại đức, là tướng phước đức chân thật.Nếu như chúng ta gặp được những sự việc này thì phải tùy thuận giáo huấn của Phật, quyết không tùy thuận phiền não của chính mình, nếu tùy thuận phiền não của chính mình, phiền phức liền đến. Tùy thuận giáo huấn của Phật Đà, vậy thì phải xem phước đức của chính chúng ta có hay không. Chính mình có phước đức thì tâm bình khí hòa.Nếu như trong tâm của chính mình vẫn còn một niệm sân hận, một niệm không vui mừng thì lập tức liền biết được chính mình phước mỏng, không có phước.Không có phước báo, không những không thể giúp người khác, mà độ chính mình cũng không có cách nào.Bạn xem, Phật dạy chúng ta "phước huệ song tu", đem phước đặt ở phía trước, huệ đặt ở thứ hai.Cách xếp đặt thứ tự này dụng ý rất sâu.Người xưa chúng ta thường nói "phước chí tâm linh", cũng là đem phước để ở phía trước.Một người phước báo hiện tiền rồi, người đột nhiên liền thông minh, trí tuệ liền khai.Đây là nói rõ phước cùng huệ là một, không phải hai.Trí tuệ khai rồi nhất định hiểu được tu phước, phước báo hiện tiền người nhất định liền thông minh. Do đây có thể biết, chúng ta đã không có phước, lại không có huệ, còn không chịu tu, vậy thì làm sao có thể thành tựu? Cách tu thế nào vậy?Phương pháp quá nhiều quá nhiều. Thánh nhân ba giáo dạy bảo chúng ta phương pháp, chân thật là nhà Phật đã nói "tám vạn bốn ngàn pháp môn", vô lượng pháp môn, chỉ cần bạn nắm lấy pháp môn này, bạn liền thành công, thế nhưng bạn phải thật tu, phải thật làm, không phải thật tu thì không được.

Sau cùng của đoạn văn này, một tiết nhỏ sau cùng trích dẫn lời nói của Trịnh Huyên, ông cũng dạy cho chúng ta phương pháp vào cửa. Lời nói này của ông rất thú vị, ông nói: "Mặc mặc mặc, vô hạn thần tiên tùng thử đắc" (mặc là trầm mặc). Nói như vậy, mọi người không dễ hiểu, chúng ta đổi cách nói khác là“ít mở miệng, ít nói chuyện”.Bạn xem, trong niệm Phật đường có bảng "cấm ngữ- chỉ ngữ", bạn có thể chỉ ngữ, bạn liền sẽ làm thần tiên.Các vị nghĩ xem, lời nói này của ông có ý nghĩa hay không? Con người không thể làm thần tiên là do lời thừa quá nhiều, tâm không thể định lại, bạn làm sao có thể thành được thần tiên? “Ít nói chuyện” là một phương pháp rất tốt. Người xưa dạy chúng ta: "Ít nói, nghe nhiều". Hiện tại tôi xin nói với các bạn, không những ít nói màcũng phải ít nghe, tốt nhất là không nghe, vì sao vậy? Những thứ bạn nghe được toàn là phiền não, tăng thêm vọng tưởng vô minh của bạn, tăng thêm phân biệt chấp trước của bạn, những thứ hiện tại không thể nghe, không thể xem.

Tứ Đại Thiên Vương dạy chúng ta.Tây Phương Thiên Vương, Quảng Mục Thiên Vươngdạy chúng ta xem nhiều. Bắc Phương Đa Văn dạy chúng ta nghe nhiều. Vậy các vị phải nên biết, xem nhiều và nghe nhiều không phải ở giai đoạn hiện tiền chúng ta, giai đoạn hiện tiền chúng ta là phải học Đông Phương Thiên Vương, học Nam Phương Thiên Vương, hai vị này dạy cho chúng ta.Đông Phương Trì Quốc Thiên Vương, Nam Phương Tăng Trưởng Thiên Vương. Trì Quốc Thiên Vương dạy chúng ta "tận trách nhiệm".Hai câu nói này phải nhìn từ độ sâu, chính là "tận hiếu tận trung", các vị nghĩ xem có đúng không?"Trung hiếu", ở phía trước đã giảng rất nhiều lần, giảng được rất tường tận.Đông Phương Thiên Vương dạy cho chúng ta, chính mình ở ngay bổn vị, đem cương công tác của chính mình làm đến tận thiện mỹ, đó chính là tận trung tận hiếu. Người người đều đem cương vị công tác làm tốt, xã hội tự nhiên an định phồn vinh, thế giới nhất định hòa bình. Cá nhân đem cương vị công tác của chính mình làm tốt thì được rồi. Nam Phương Thiên Vương tăng trưởng, chính là dạy chúng ta cầu tiến bộ, nhà Nho nói "ngày mới lại mới", Phật pháp gọi là "tinh tấn". Học vấn phải có tiến bộ, đức hạnh phải có tiến bộ, tài nghệ phải có tiến bộ, thậm chí mức độ đời sống cũng phải có tiến bộ, mọi thứ đều có tiến bộ, cho nên Phật pháp không phải là thủ cựu.

Nhiều năm đến nay, tôi đến khắp nơi khuyến khích đồng tu, Phật pháp nhất định phảihiện đại hóabổn thổ hóa.Thực tế hai câu nói này là tôi nói ra, thế nhưng không phải tôi phát minh, Phật pháp vốn dĩ chính là như vậy.Hai ngàn năm trước, Hán Vũ Đế lễ thỉnh hai vị cao tăng là Ma Đằng và Trúc Pháp Lan đến Trung Quốc. Sau khi họ đến Trung Quốc rồi, lập tức liền Trung Quốc hóa, mặc y phục, mặc áo tràng của chúng ta, tay rộng cổ lớn, mặc quần có của người Trung Quốc; ăn uống đi đứng, hoàn toàn là Trung Quốc hóa; xây dựng đạo tràng, hình thức cung điện cũng là Trung Quốc hóa. Họhiểu được bổn thổ hóa, không đem cách thức kiểu dáng của Ấn Độ đến Trung Quốc, cho nên người Trung Quốc mới hoan nghênh, mới tiếp nhận; tạo tượng của Phật, khuôn mặt giống như người Trung Quốc, vừa nhìn thì thật là thân thiết. Cho nên tôi ở Hoa Kỳ nói với người Hoa Kỳ là Phật giáo chưa đến Hoa Kỳ. Người Hoa Kỳ ngạc nhiên, hỏi:“Phật giáo ở Hoa Kỳ rất nhiều, tại vì sao nói Hoa Kỳ không có Phật giáo?”. Tôi liền hỏi lại họ:“Có tôn tượng Phật nào, có tôn tượng Bồ Tát nào mà có khuôn mặt giống như người Hoa Kỳ không?”. Vì vậytôi nói Phật Bồ Tát chưa đến Hoa Kỳ, đến Hoa Kỳ là Hoa kiều, là Nhật kiều, không phải chân thật là người Hoa Kỳ. Cho nên nhất định phải hiểu được bổn thổ hóa và hiện đại hóa thì giáo dục này mới có thể mở mang rộng lớn.

Phật Đà giáo huấn đối với chúng ta, chúng ta phải hiểu được.Phật trầm lặng ít nói, không có lời thừa, trừ khi có người nêu ra vấn đề thỉnh giáo với Ngài thìNgài giải đáp.Không có người hỏi thì Ngài không nói.Nếu bạn không hỏi, Phật Đà không nói câu nào, tâm của Ngài thanh tịnh như vậy.Không nói chính là nói, không dạy chính là dạy, Ngài dạy bạn cái gì?Dạy bạn ít nói chuyện.

Thứ hai là "Nhiêu". Ngài nói:"Nhiêu nhiêu nhiêu, thiên tai vạn họa nhất thời tiêu". Nhiêu chính là tha thứ. Lượng thứ với người khác, không nên tính toán với người khác, tai họa liền không thể phát sinh(tai họa này chính là xung đột), mâu thuẩn xung đột liền không còn, đem nó tiêu trừ từ trong nội tâm.

Thứ ba là "Nhẫn".Họ nói ba chữ nhẫn, "nhẫn nhẫn nhẫn, trái chủ oan gia tùng thử ẩn". Chúng ta đời đời kiếp kiếp đã kết với tất cả chúng sanh biết bao ân oán trái vụ, đời đời kiếp kiếp trói buộc không rõ ràng, nếu như không thể nhẫn, những phiền phức này, những chướng nạn này nhất định sẽ khôngthể tránh được.

Sau cùng là "Hưu".Hưu chính là buông xả.Ngài dạy chúng ta bốn phương pháp này, trầm mặc, lượng thứ, nhẫn nhường, buông xả.

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (tập 39)

Người giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không

Giảng tại: Tịnh Tông Học Hội Singapore

Thời gian: Năm 1999

Cẩn dịch: Viên Đạt cư sĩ, Vọng Tây cư sĩ

Biên tập: Ban biên tập Tịnh Không Pháp Ngữ

 

 

 

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 49


Hôm nayHôm nay : 4570

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 312567

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9437053

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?