Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Thái thượng cảm ứng thiên

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (Tập 34)

Thứ hai - 29/09/2014 00:10

Chào chư vị đồng tu, chào mọi người.

Hôm qua chúng tôi đã giảng đến “Nghi mẫn nhân chi hung, lạc nhân chi thiện, tế nhân chi cấp, cứu nhân chi nguy”. Hung tai nguy cấp ở ngày nay có thể nói đã đạt đến cực điểm. Ngày nay chúng ta nhìn thấy bốn câu nói này, gần như là chỉ toàn bộ nhân loại trên địa cầu gặp phải tai nạn lớn, không phải là một người, hai người, cũng không phải 100 người. Thương xót, không phải chỉ có một cái tâm thương xót, đó có công dụng gì? Thương xót là cần thể hiện bằng hành động, mà hành động này là phải từ trong nội tâm triệt để sám hối, trong tôn giáo gọi là “hối cải”. Đó mới là sinh khởi tâm thương xót đích thực.

Tai nạn lớn trên thế giới hình thành như thế nào vậy? Trong những buổi giảng Kinh, chúng tôi đã giảng rất nhiều lần rồi. Trước tiên bạn phải nhận thức, chúng ta hiện nay đang sống trên địa cầu này, thái dương hệ này, hệ ngân hà này là y báo của chúng ta. Y báo chuyển theo chánh báo, Phật ở trong Kinh Đại Thừa nói quá nhiều rồi. Nếu bạn thật sự hiểu được ý nghĩa của câu nói này, bạn liền biết tai nạn của toàn thế giới, tai nạn của thái dương hệ, tai nạn của hệ ngân hà, nguồn gốc từ đâu mà có. Bản thân ta làm việc bất thiện, bởi vì đây là y báo của ta, y báo là chuyển theo chánh báo. Chúng sanh không thể giải quyết nổi vấn đề này, nhất định phải chịu tai nạn này, phải chịu quả báo. Nhận thức của họ sai rồi, cho rằng sự việc này không liên quan gì với ta. Những người này làm sai rồi, ta không có làm sai. Quan niệm này là sai lầm rồi! Tất cả người là hoàn cảnh nhân sự của chính chúng ta. Tất cả vật là hoàn cảnh vật chất ở trong đời sống chúng ta.

Ngày nay hoàn cảnh nhân sự, hoàn cảnh vật chất đều không tốt. Truy cứu đến nguyên nhân căn bản, đó là do chúng ta tự mình giữ tâm không tốt, bản thân chúng ta làm người chưa làm tốt, cho nên hoàn cảnh y báo của chúng ta mới tồi tệ như vậy. Đây là chỗ then chốt căn bản của tiêu tai miễn nạn. Cho nên tự mình phải nhận thức rõ ràng, tự mình phải biết quay đầu. Trước kia khởi tâm động niệm không có gì không phải vì mình, tự tư tự lợi, cho nên mới tạo thành cục diện này, tạo thành tình trạng của ngày nay. Tâm lượng của chúng ta quá nhỏ, khi đại kiếp nạn đến, một gậy thật nặng này, cuối cùng đã đánh thức chúng ta rồi. Sửa chữa lỗi lầm triệt để, vì tất cả chúng sanh chịu khổ chịu nạn, đây mới là thật sự hiểu rõ, thật sự thức tỉnh.

Kinh giáo Đại Thừa, lời dạy của Phật Bồ Tát thật sự có cơ duyên thực hiện. Chúng ta vào chỗ dầu sôi lửa bỏng cũng không tiếc, chúng ta phải đi làm. Những gì không liên quan với lời dạy của Phật thì tuyệt đối không được làm, cho dù đối với bản thân đời này có lợi ích lớn, chúng ta cũng không cần. Chúng ta biết những thứ đó là cám dỗ, những thứ đó là lợi lộc trước mắt, là danh vọng lợi dưỡng. Người thế gian ngưỡng mộ vinh hoa phú quý, những thứ này là khói mây chớp mắt, hậu quả là ở tam đồ, là khổ báo. Khi mê thì không biết, nhưng khi giác ngộ thì hiểu rất rõ ràng, hiểu rất minh bạch. Bản thân chúng ta giác ngộ rồi, sáng tỏ rồ thì phải đem những đạo lý này, những sự thật này nói cho người có duyên biết. Nhà Phật thường nói: “Phật không độ người không có duyên”. Ai là người có duyên vậy? Người chịu nghe, có thể lý giải, có thể tiếp nhận, có thể y giáo phụng hành là người có duyên. Cho nên bản thân chúng ta đến khắp các nơi để hoằng pháp, trước tiên chúng ta phải biết quán cơ. Ở trong quán cơ, chỗ quan trọng nhất là đại chúng thường trụ. Nếu như đại chúng thường trụ vắng mặt, không thích nghe, tín đồ bên ngoài vẫn không ít, nơi này không được đi. Đây là kết duyên cho các tín đồ. Thường trụ không có ý học Phật, thường trụ vẫn chạy theo tự tư tự lợi, thường trụ vẫn chạy theo danh vọng lợi dưỡng, không có xem Phật pháp ra gì cả, vậy sao có thể đi được? Chúng ta ở nơi này, trước đây ở Cư Sĩ Lâm giảng “Kinh Hoa Nghiêm”, các bạn nhìn thấy cư sĩ Lý Mộc Nguyên mỗi một buổi giảng đều đến, không thiếu buổi nào cả. Hôm nào có việc không đến được, ông vẫn xin tôi nghỉ phép. “Kinh Vô Lượng Thọ” đã giảng qua nhiều lần rồi, ông ở nhà nghe băng ghi hình. “Kinh Vô Lượng Thọ”, ông tụng rất thuộc, mỗi ngày tụng ba biến. Ông nói với tôi, mỗi ngày ông chỉ ngủ hai giờ đồng hồ, cho nên tôi thấy ông can hỏa rất vượng. Ông ngủ không đủ là vì nguyên nhân gì vậy? Hộ trì chánh pháp, hy vọng mọi người các bạn có pháp duyên thù thắng, ở nơi này học tập nghiêm túc, nối tiếp huệ mạng Phật, tương lai hoằng pháp lợi sanh.

Cư Sĩ Lâm với Tịnh Tông Học Hội nơi này, tất cả nhân viên làm việc không có người nào không nghe Kinh, không có người nào không niệm Phật. Họ là vì ai vậy? Vì chúng sanh khổ nạn toàn thế giới, không vì chính mình. Đây là đạo tràng gì vậy? Có rất nhiều người từ Trung Quốc đến, những lão pháp sư đến bên này nhìn thấy rồi tán thán “đây là đạo tràng hàng đầu thế giới”. Lời này có thật không? Chúng tôi nghe xong rất hổ thẹn, vì chúng tôi làm vẫn chưa đủ tốt, nếu như thật sự làm rất tốt thì thế gian đâu có những tai nạn này. Nói thực ra là rất hiếm có, cư sĩ Lý lãnh đạo ở nơi đây, có một nhóm người thật sự phát tâm phối hợp giúp đỡ như vậy, có thể nói toàn là người làm công ích, một xu, một chút đãi ngộ cũng không nhận, nhiều nhất là chỉ ở Cư Sĩ Lâm ăn một bữa cơm mà thôi. Tôi cũng là làm công ích, mọi người đều là làm công ích, ở đây không có đãi ngộ. Mọi người có thể cần mẫn làm, dốc sức làm như vậy. Chúng tôi báo ơn Phật, báo ơn chúng sanh. Thật sự làm được “trên đền bốn ơn nặng” thì mới có thể “dưới cứu khổ ba đường”, cho nên chúng tôi đem “biết ân, báo ân” đặt lên vị trí hàng đầu. Có rất nhiều nơi muốn mời tôi, muốn tôi lưu trú lại. Tôi không phải người nhân tình có thể lưu trú được. Tôi rất cảm kích bạn, nhưng tôi không được phép. Lưu tôi lại là phải làm chánh pháp. Nơi này làm là chánh pháp, bạn không bảo tôi đến, tôi cũng phải đến. Nếu như bạn tự tư tự lợi, vì đạo tràng nhỏ, vì đoàn thể nhỏ của mình, bạn quỳ dưới đất van nài, tôi cũng không đi. Tôi không có thời gian nhiều, tôi cũng không có tinh thần nhiều như vậy.

Hôm nay trong sách nói đến cái gì là hung, cái gì là nguy, cái gì là cấp, chúng ta cần nhận thức thật rõ ràng, thật minh bạch. Đây không phải hung tai nhỏ, không phải nguy cấp nhẹ nhàng chậm chạp, mà là vô cùng nghiêm trọng. Ngày nay chúng ta hết lòng hết dạ dạy người, có mấy người tin? Bạn dạy người ta phải làm như thế này, như thế này…, nhưng chính mình không làm được, người ta nghe rồi sẽ có rất nhiều nghi vấn, đặt rất nhiều dấu hỏi: “Lời của bạn nói là thật hay là giả?”. Thích Ca Mâu Ni Phật, bản thân Ngài năm xưa còn tại thế, nói được là làm được. Nói thực ra, sau khi Ngài làm được rồi thì Ngài mới nói. Chúng ta thực ra là lơ là sơ ý, đem hành nghi cả đời của Phật Thích Ca Mâu Ni quên sạch sẽ rồi. Hành nghi của Ngài chính là tấm gương tốt của chúng ta, chính là hình mẫu của chúng ta. Thế Tôn vì dạy dỗ chúng sanh, vì tuyên dương chánh pháp, không ngại vất vả khó nhọc. “Phật quá vất vả, Phật quá mệt rồi”, những từ ngữ này chúng ta ở trong Kinh, trong đại tạng giáo chưa từng nhìn thấy, chúng ta ngày nay sao có thể nói mệt, sao có thể nói vất vả, sao có thể nói không chịu nổi chứ? Đây không phải là lời của đệ tử Phật, mà là lời của ma. Ở trong ma vương có những tự vựng này, Phật Bồ Tát không có những tự vựng này. Cho nên ở trong tai nạn lớn, lúc nguy cấp nghiêm trọng, chúng ta ngày nay còn có cơ hội ở nơi này học tập, đây là tam bảo gia trì, đây là thiện căn, phước đức, nhân duyên tích lũy từ vô lượng kiếp của mọi người trong đời quá khứ đã chín muồi. Những chúng sanh khổ nạn sau này, làm sao được độ? Phải dựa vào các bạn, các bạn có nghĩ đến hay không? Nếu như bạn nghĩ đến sự việc này thì sao bạn có thể không nỗ lực? Sao bạn có thể không quyết tâm cố gắng?

Có lẽ các đồng tu muốn hỏi: “Chúng tôi thiện căn phước đức rất mỏng, trí tuệ rất ít, chúng tôi có thể làm được không?”. Phật ở trong Kinh nói cho chúng ta biết, thiện căn, phước đức, trí tuệ của tất cả chúng sanh cùng với Như Lai không hai không khác. Thế nhưng bạn không tin. Hiện nay bạn chưa có trí tuệ là vì phiền não của bạn che đậy kín, bạn không có lòng tin đối với chính mình. Học Phật, điều đầu tiên là khôi phục tâm tự tin, khắc phục tập khí phiền não của chính mình, nhất định được chư Phật hộ niệm. Phước báo không đủ thì tự có long thiên thiện thần phù hộ bạn, gia trì bạn, tuyệt đối không cầu người. Thế gian, người phước báo lớn đi nữa cũng không được phép mở miệng xin họ một xu nào. Đó là việc của họ. Chúng ta cầu nơi Phật. Cầu nơi Phật là chánh lý, chánh pháp. Đây là năm xưa Đại Sư Chương Gia dạy cho tôi. Tâm của chúng ta vĩnh viễn thanh tịnh, vĩnh viễn là tự tại. Phật dạy người phá mê khai ngộ, đoạn ác tu thiện, chuyển phàm thành thánh, chúng ta học là học ba sự việc này. Nếu duyên đầy đủ thì chúng ta đối với tất cả chúng sanh khổ nạn này làm việc nhiều một chút, duyên không đầy đủ thì làm việc ít một chút, không có duyên thì không làm. Đâu có thể cưỡng cầu được! Nếu có một mảy may tâm cưỡng cầu, bạn liền không tự tại, hay nói cách khác, bạn liền không có trí tuệ rồi. Chúng ta ngày nay cầu là vì tất cả chúng sanh khổ nạn mà cầu, quyết không phải vì bản thân mà cầu. Vì bản thân mà cầu là tạo nghiệp. Vì tất cả chúng sanh mà cầu là phước đức, là công đức. Học Phật đã nhiều năm như vậy, ngay cả một chút đạo lý này vẫn không hiểu sao?

Chúng ta ngày nay làm sao cứu khổ cứu nạn? Đem tất cả ác mà bản thân trước đây đã tạo, nhất định phải đoạn sạch sẽ, đó chính là thật sự quay đầu. Nếu vẫn chưa tu tất cả thiện thì bắt đầu từ hôm nay nỗ lực mà phụng hành. Cái gì là thiện? Cái gì là ác? “Cảm ứng Thiên” là tiêu chuẩn tốt nhất, Ấn Quang Đại Sư vì chúng ta giới thiệu. Phật đã nói rất nhiều về tiêu chuẩn “thiện - ác”, tản mạn trong Kinh luận Đại Thừa, không dễ dàng đọc tụng. “Cảm ứng Thiên” hơn 1000 chữ này, đem “thiện - ác” tập trung ở trong đây, từng câu đều là ý mà trong Kinh Phật đã nói, cho nên bộ sách này chính là Kinh Phật.

Chúng ta tu hành, bước đầu tiên là “đoạn ác tu thiện”, cứ dựa vào bản này mà phụng hành là được rồi; bước thứ hai là “chuyển mê thành ngộ”, “Hoa Nghiêm” là giáo trình hay nhất, “Bát Nhã” cũng là một giáo trình tốt; bước thứ ba là “chuyển phàm thành thánh”, “Kinh Vô Lượng Thọ” là giáo trình tốt nhất. Chúng ta không cần tìm đọc quá nhiều, vì đọc quá nhiều thì tinh thần bị phân tán, còn phải tốn biết bao nhiêu thời gian. Ở trong Phật pháp nắm lấy cương lĩnh trọng yếu, hiểu được một câu thì phải làm được một câu. Ở trong chú giải đã nêu ra rất nhiều ví dụ, đều là nói đại đức xưa đã làm thế nào để giúp đỡ người khác, chúng ta có thể xem, có thể làm tham khảo những ví dụ này. Tôi ở chỗ này nói với mọi người là tổng cương lĩnh, tổng nguyên tắc là bắt đầu cứu từ căn bản. Ở trong pháp căn bản, “Y báo chuyển theo chánh báo”, đây chắc chắn là chân tướng sự thật. “Tất cả pháp từ tâm tưởng sanh”, “Hoa Nghiêm” nói: “Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”. Chúng ta đối với lý luận cơ bản này, đối với nguồn gốc của vạn pháp, phải đem nó tham thấu thì chúng ta sẽ biết làm thế nào, chúng ta cũng sẽ có tín tâm để làm. Chúng ta có chân tín, có nguyện thiết thì làm sao mà không thể chuyển cảnh giới được? Hy vọng các đồng học đem sự việc này suy nghĩ nhiều một chút, quan sát nhiều, thể hội nhiều.

Ở trong bốn câu này, có một câu: “Lạc nhân chi thiện”. Cái gì là thiện, chúng ta phải đem nó nhận thức rõ ràng. Thế gian tất cả mọi việc tốt, nếu xen tạp tư tâm ở trong đó thì là bất thiện. Nếu có 90% là vì công chúng, bên trong còn xen tạp 1% vì bản thân thì đây là bất thiện. Việc tốt mà trong đó hoàn toàn không có tư tâm, đó gọi là thuần thiện. Chúng ta phải đem tiêu chuẩn nâng đến cảnh giới này. Có lẽ đồng tu sẽ nói, cảnh giới này quá cao, người thế gian bình thường không thể làm được. Tôi cũng hiểu. Bản thân chúng ta phải nâng cao đến cảnh giới này, yêu cầu người khác là không nên rồi. Yêu cầu bản thân là phải thuần thiện. Yêu cầu người khác, người ta làm 90% vì bản thân, 10% vì người khác là khá rồi, rất hiếm có rồi. Tại sao vậy? Vì họ chưa giác ngộ, họ không hiểu rõ chân tướng sự thật. Người giác ngộ nhất định không được phép, xen vào tư tâm 1% cũng không được phép. Chúng tôi ở đây hằng ngày giảng, hằng ngày khuyên, hy vọng quí vị tỉnh ngộ trở lại một chút. Khi khuyên thì giống như tỉnh rồi, hiểu rõ rồi, nhưng khi chúng ta rời khỏi cái bàn này thì lại hồ đồ rồi, lại mê rồi. Cho nên Thế Tôn phải khuyên người suốt 49 năm. Trong 49 năm, rốt cuộc có bao nhiêu người tỉnh ngộ trở lại vậy? Không nhiều, chỉ có số ít người thật sự tỉnh ngộ trở lại, số ít người này chính là chúng sanh căn cơ chín muồi. Người vẫn chưa có quay đầu, đó là chưa chín muồi. Bảo những người chín muồi đó tiếp tục hãy giúp đỡ những người chưa chín muồi. Chánh pháp trụ lâu, đời đời đều có truyền nhân thì chúng sanh mới có phước.

Hiện nay dạy học phải gian nan hơn nhiều so với trước đây, nói lời thực tế, bất luận ở đức hạnh, ở trí tuệ đều phải vượt qua Tổ sư đại đức xưa nay thì mới có thể cứu vãn vận mệnh thế giới. Nếu như trí tuệ, đức năng của chúng ta ngang bằng với Tổ sư đại đức xưa nay thì không thể cứu nổi cái thế gian này. Chúng ta không làm thật thì sao được? Không làm thật, vậy không những không thể giúp được người khác mà cứu chính mình cũng không cứu nổi. Thật sự có năng lực giúp đỡ người khác thì bản thân bạn có thể được độ, tự - tha không hai.

*****************

Mời xem “Cảm Ứng Thiên” mục thứ hai mươi sáu.

“Kiến nhân chi đắc, như kỷ chi đắc. Kiến nhân chi thất, như kỷ chi thất”.

Mục này là nói về “được - mất”. Phật ở trong Kinh nói cho chúng ta biết, “được - mất” không phải chân thật, nhưng mà người thế gian đều mê ở trong đó, do đó tạo ra biết bao nhiêu là tội nghiệp. Trong 24 điều bất tương ưng hành pháp thì “được - mất” là xếp vào điều thứ nhất. Có thể thấy, chúng sanh đối với vấn đề này là mê sâu biết bao, nghiêm trọng biết bao. “Cảm Ứng Thiên”, bốn câu này nói rất hay. Cách nhìn, cách nghĩ của người thế gian đối với sự việc này là không bình thường. Nhìn thấy người khác có được thì sinh đố kỵ, nhìn thấy người khác bị mất thì liền sinh tâm hoan hỷ. Một tâm niệm này liền tạo vô lượng tội nghiệp.

“Thái thượng cứu nhân chi quá”. Đây là lỗi lầm của người. Bốn câu này là “cứu nhân chi quá”, dạy người thấy người khác không có khác gì với chính mình, nhìn thấy người khác có được thì có thể sinh tâm hoan hỷ, nhìn thấy người khác bị mất thì có thể sinh tâm thương xót. Phạm vi của “được - mất” vô cùng rộng lớn. Ở trong thế pháp thì được danh vọng lợi dưỡng, được ngũ dục lục trần, còn trong Phật pháp thì được thiền định, được giác ngộ, được chứng quả, pháp thế xuất thế đều bao gồm ở trong đó. Phật nói cho chúng ta biết, “được - mất” cũng là quan hệ của nhân quả, không có gieo nhân thì chắc chắn không thể có được quả. Thế gian, cái mà tất cả chúng sanh mong cầu chẳng qua là phú quí, thông minh, trí tuệ, khỏe mạnh, trường thọ, người Trung Quốc gọi là “ngũ phúc” (phần trước đã giới thiệu qua với quí vị rồi), đều là có nghiệp nhân. Cho nên gieo nhân thiện, được quả thiện. Gieo nhân bất thiện mà mong cầu được quả thiện, đâu có đạo lý này? Ở trong Kinh Phật thường nói “không có chuyện đó”. Chúng ta hy vọng, mong muốn được điều gì thì phải cố gắng tạo nhân. Nhân của bạn tạo thù thắng thì quả báo của bạn sẽ thù thắng. Nhân của bạn mỹ mãn thì quả báo cũng mỹ mãn. Hai câu nói này là vô cùng quan trọng. Trong hai câu nói này, chúng ta có thể nhìn thấy, quyết định không có tâm đố kỵ. Không những không có tâm đố kỵ mà còn phải có tâm tùy hỷ. Tâm tùy hỷ là pháp Bồ Tát. Cái tâm mà Bồ Tát Phổ Hiền tu là “hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức”, đây là đại hạnh của Bồ Tát. Đồng tu học Phật chúng ta luôn luôn lơ là, bỏ lỡ cái lợi lớn này trước mắt. Đây là điều chúng ta cần phải suy nghĩ, soi xét lại.

Đồng tu học Phật đều biết “phải đoạn ác, phải hành thiện”, nhưng mà thiện thì luôn luôn không thể thành tựu, ác thì hằng ngày vẫn tiếp tục đang tạo, đặc biệt là khẩu nghiệp. Trong khi tiếp xúc giữa người với người liền tạo khẩu nghiệp, phê bình, thị phi sự “được - mất” của người khác. Sự phê bình của bạn có chính xác hay không? Cho dù là chính xác, là sự thật, nhưng cũng không nên nói. Nếu như phê bình không chính xác thì chẳng phải là bạn đã xử oan cho người rồi sao? Xử oan cho người là tạo tội nghiệp rất nặng. Nếu như phê bình của bạn không có ảnh hưởng gì đối với xã hội thì tội lỗi của bạn nhỏ, nếu như có ảnh hưởng rất lớn đối với xã hội, ảnh hưởng không tốt thì tội lỗi của bạn thật lớn rồi. Nếu như bạn phỉ báng Tam Bảo, khiến tất cả tín chúng thối thất tâm đạo, ở trong “Kinh Phát Khởi Bồ Tát Thù Thắng Chí Nhạo”, quí vị thử xem thì sẽ biết, đây là tội đọa địa ngục. Không nên xem nhẹ, tùy tiện nói năng, giống như không có gì quan hệ quá lớn. Nhất thời khoái ý làm đứt đoạn thiện căn của người khác, chiêu đến tội nghiệp địa ngục A Tỳ. Người làm những việc này, chúng ta ở trong xã hội thường xuyên nhìn thấy, thường xuyên nghe thấy. Phật Bồ Tát nhìn thấy rất đau lòng, rất thương tiếc, đúng như trong Kinh gọi là “kẻ đáng thương xót”. Tại sao tạo sự việc này vậy? Nghe tin đồn nhảm, không đi tìm hiểu những chân tướng sự thật này. Tôi trong đời này, những sự việc này gặp phải rất nhiều. Tôi có một nguyên tắc, việc gì không liên quan với tôi thì tôi không quan tâm, không có cần thiết phải để tâm đến, cười xòa là xong, cũng không nên để ở trong lòng, vì để ở trong lòng cũng là tội nghiệp. Hy vọng tâm của mình thanh tịnh, hy vọng tâm của mình thuần thiện, một mảy may ác niệm cũng không nên để ở trong tâm. Hay! Đây gọi là giữ tâm tốt. Bạn đem những thứ lộn xộn, những thứ rác rưởi thị phi, nhân ngã này để ở trong tâm, tâm của bạn liền bất thiện, tâm của bạn liền không tốt rồi. Nếu như những truyền thuyết này có quan hệ với bản thân, với đại chúng, chúng ta nhất định phải đi điều tra một chút, chứng minh một chút, xem có phải là sự thật hay không, sau đó hãy phê bình. Cho nên không được nghe theo lời một chiều, nghe theo lời một chiều là ngu si, mê hoặc. Nhất là người làm lãnh đạo. Chúng ta đọc sách xưa, thử xem những đế vương cổ đại này, người nói nhỏ to bên tai họ quá nhiều, nhưng họ có tin hết hay không? Họ để đó làm tham khảo, họ nhất định đi điều tra chứng minh. Cho nên họ sẽ không xử oan người tốt, cũng sẽ không mắc lừa người xấu. Sự thông minh này đều là thầy chỉ dạy họ, cha mẹ chỉ dạy họ. Cổ nhân có nói là: “Lời đồn nhảm dừng ở kẻ trí”. Người thật sự có trí tuệ thì họ mới biết xử lý như thế nào. Nhưng mà người không có trí tuệ nhiều, người không có trí tuệ khi nghe tin lời đồn nhảm, đặt điều sinh sự. Hiện nay thế gian này người có trí tuệ quá ít, quá ít rồi. Bạn muốn hỏi tại sao không có trí tuệ vậy? Vì không có thánh hiền dạy dỗ.

Hiện nay nền giáo dục của toàn thế giới, tuyệt đại đa số là giáo dục công lợi, hám lợi lập công, đối với danh vọng lợi dưỡng, ngũ dục lục trần, giáo dục cạnh tranh. Chỉ cần có ý nghĩ cạnh tranh này thì chắc chắn sẽ làm việc tổn người lợi mình, làm việc tổn hại thiên lý. Đây là giáo dục hiện đại. Giáo dục hiện đại, nói lời hơi khó nghe là tăng trưởng tâm luân hồi, giúp đỡ chúng sanh tạo nghiệp luân hồi. Người học Phật tuy nhiều, nhưng có được bao nhiêu người thật sự trên Kinh điển chịu nghiên cứu, chịu thảo luận, cần mẫn học tập? Ngạn ngữ nói: “Trước cửa địa ngục tăng đạo nhiều”. Cái tội lỗi này là quá nặng, quá nặng! Dùng bảng hiệu thánh hiền mà vẫn tạo nghiệp luân hồi như xưa, cho nên họ sẽ đọa rất nặng, đọa địa ngục A Tỳ. Cái bảng hiệu này không được phép giả mạo. Hiện nay pháp luật thế gian, đối với tất cả giả mạo đều phải trị tội. “Phật” là tấm bảng hiệu chính danh đứng đầu của thế xuất thế gian, bạn tùy tiện giả mạo, cái tội nghiệp này là nặng hơn hết. Chúng ta ngày nay đã nắm tấm bảng hiệu này thì phải y giáo phụng hành, chăm chỉ học tập theo Phật Bồ Tát. Tóm lại là phải học cho giống mấy phần, nếu học mà hoàn toàn không giống là có tội lỗi. Bạn không được phép nói “tôi không có tạo tội nghiệp, tôi không có hại người”. Bạn không có hại người, nhưng cầm đến tấm bảng hiệu này mà không có y giáo phụng hành là tạo tội nghiệp rồi. Tội nghiệp gì vậy? Đem hình tượng Phật pháp phá hoại, chính là tội danh như vậy. Tội danh này là đảm đương không nổi rồi! Hình tượng Phật Bồ Tát là gì? Chúng ta ngày nay khởi cái tâm gì, động ý nghĩ gì, làm sự việc gì? Phật pháp ngày nay ở trong xã hội tại sao suy yếu đến như vậy? Chúng ta đọc sách xưa, vào thời xưa, triều đình và nhân dân đối với người xuất gia, không có ai mà không tôn trọng. Xã hội hiện nay xem thường đối với người xuất gia, nguyên nhân ở chỗ nào vậy? Vào thời xưa, người xuất gia học Phật là giống Phật Bồ Tát, quả thật là chuẩn mực của trời người, cho nên mọi người tôn trọng, mọi người kính ngưỡng. Hiện nay trong xã hội, tại vì sao xem thường đối với người xuất gia vậy? Người xuất gia không y giáo phụng hành, không có học Phật Bồ Tát. Học tập theo ai vậy? Lời này chúng tôi không cần phải nói. Chúng ta phải soi lại, phải giác ngộ, phải quay đầu. Đối tượng của học tập nhất định phải làm cho rõ ràng, làm cho minh bạch. Không học theo Phật Bồ Tát là sai rồi. Cao tăng đại đức là điển hình của chúng ta, thế nhưng chúng ta phải quan sát tỉ mỉ, người nổi tiếng, có địa vị cao có phải thật sự là có đức hạnh hay không? Người mà danh phù hợp với thực là tấm gương của chúng ta, chúng ta cần phải học tập theo họ.

Khi tôi mới học Phật, lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam tiến cử Ấn Quang Pháp Sư, bảo tôi học tập theo Ấn Quang Pháp Sư. Cao tăng đại đức cùng thời đại với Ấn Quang Đại Sư quá nhiều, tại sao thầy không giới thiệu người khác mà lại cứ giới thiệu Ấn Quang Đại Sư? Đạo lý ở trong đây, nỗi khổ tâm ở trong đây, chúng ta có biết hay không? Người xuất gia nhiều, chúng ta ở trong Kinh Phật xem thấy, trong rất nhiều người xuất gia như vậy, có đệ tử Phật thật, có con cháu ma vương. Thời kỳ Mạt Pháp, ma đã phát đại nguyện, bảo đồ tử đồ tôn của họ, thảy đều đến cửa Phật xuất gia, khoát lên áo Cà Sa để hủy diệt Phật pháp. Điều này trong Kinh Phật có ghi chép. Chúng ta sinh trong thời kỳ Mạt Pháp, cho nên ở trong số người xuất gia có Phật mà cũng có ma. Chúng ta phải có tuệ nhãn mới có thể biện biệt. Chúng ta học tập theo Phật, không nên học tập theo ma. Học tập theo Phật, chúng ta ở trong đời này sẽ thành tựu. Học tập theo ma thì chúng ta trong một đời này chắc chắn đọa tam đồ. Lợi hại ngay chính mình làm sao có thể không biết? Bốn câu nói này, chúng ta phải nắm lấy, khắc ghi trong lòng, phải thường xuyên nhớ kỹ. Nhất định phải từ bỏ tự tư tự lợi, niệm niệm vì lợi ích chúng sanh, niệm niệm vì giúp đỡ người khác. Ai có được tâm này? Thế nhưng cái tâm này thực hiện được cũng không phải là việc dễ dàng. Bạn muốn làm việc tốt, không có duyên, không có cơ hội, duyên không đủ, luôn có biết bao nhiêu người chướng ngại bạn, không để bạn làm việc tốt, không hy vọng bạn thành tựu một thiện hạnh, nghĩ đủ mọi cách để cản trở. Sự việc này quá nhiều, quá nhiều rồi. Từ đó cho thấy, duyên là vô cùng quan trọng. Phải rộng kết thiện duyên với tất cả chúng sanh, ở trong đời này làm không thành thì còn có đời sau. Bồ Tát độ chúng sanh là đời đời kiếp kiếp vĩnh viễn không nghỉ ngơi. Quí vị đồng tu, các bạn biết, lần trước tôi thành tâm thành ý muốn giúp người Úc châu xây một viện dưỡng lão thì bị người phá hoại. Những người phá hoại đó có thể làm việc tốt hay không? Họ cũng không thể! Bản thân họ không làm được, nhưng chướng ngại người khác làm.

Bình luận thị phi của một người thì tương đối không dễ dàng. Quan sát một người, trước sau, trái phải mỗi mặt thấy rõ ràng, nhưng vẫn không dám đưa ra quyết đoán. Người thời xưa nói hay: “Luận định sau khi đậy nắp quan tài”, vậy mới có thể bình luận nhân phẩm của bạn. Khi bạn vẫn chưa chết thì không dám nói. Tại sao vậy? Vì cả đời tạo ác, nhưng khi lâm chung biết sám hối, sửa chữa lỗi lầm thì vẫn là người tốt. Người như vậy niệm Phật vẫn có thể vãng sanh, vẫn có thể làm Phật, cho nên quay đầu là bờ. Chết rồi thì không thể quay đầu, đó liền đoán định, họ là người bất thiện. Cho nên đoán định một người, bạn biết khó khăn cỡ nào! Cổ nhân viết truyện ký cho người, đều là sau khi chết, người sau viết. Lịch sử của một triều đại, cái triều đại này đã diệt vong rồi, người triều đại sau viết. Đây đều là ý nghĩa của “Luận định sau khi đậy nắp quan tài”.

Chúng ta chướng ngại người khác hành thiện, quả báo là người khác chướng ngại chúng ta hành thiện. Nhân duyên quả báo không mảy may sai chạy, nhất là ở xã hội hiện tại này, quá rõ ràng rồi, quá nhanh rồi. Cho nên đồng học chúng ta phải nhớ kỹ, gặp được có cơ hội này, việt tốt phải mau mau làm, nhìn thấy người khác làm việc tốt, chúng ta phải giúp đỡ họ, thành tựu họ. Thành tựu việc tốt của người, không thành tựu việc xấu của người. Việc họ làm, đối với xã hội, đối với nhân dân, đối với chúng sanh là bất lợi thì chúng ta tuyệt đối không đi giúp đỡ họ. Nếu như là việc có lợi ích, chúng ta phải toàn tâm toàn lực quan tâm, toàn tâm toàn lực phối hợp giúp đỡ, tuyệt đối không có đố kỵ chướng ngại, mà chỉ có hằng thuận, tùy hỷ. Đây là hành Bồ Tát đạo. Cho nên quy kết đến cuối cùng, nhất định phải có trí tuệ chân thật, quyết không được xen tạp tình kiến ở bên trong. Tình kiến là si mê. Trí tuệ chân thật, chánh đại quang minh, đây là điều chúng ta cần phải học tập.

Tốt rồi, hôm nay thời gian đã hết, chúng ta chỉ giảng đến đây.

A Di Đà Phật!

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (tập 34)

Người giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không

Giảng tại: Tịnh Tông Học Hội Singapore

Thời gian: Năm 1999

Cẩn dịch: Viên Đạt cư sĩ, Vọng Tây cư sĩ

Biên tập: Ban biên tập Tịnh Không Pháp Ngữ

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 56


Hôm nayHôm nay : 2066

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 259367

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9383853

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?