Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Thái thượng cảm ứng thiên

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (Tập 38)

Thứ hai - 29/09/2014 00:15

Chào chư vị đồng tu, chào mọi người.

Hôm qua tôi đã giảng đến câu thứ 29: “Thôi đa thủ thiểu”. Dưới đây là câu thứ 30: “Thọ nhục bất oán”, câu thứ 31: “Thọ sủng nhược kinh”. Ba câu này chính là ba thiện căn “vô tham, vô sân, vô si” mà nhà Phật nói.

Phật nói cho chúng ta biết, thế gian tất cả mọi thiện pháp đều là lấy ba cái căn bản này mà sinh khởi, hay nói cách khác, ba thiện căn này có thể sinh vô lượng vô biên thiện pháp. Ngược lại của ba thiện căn là “tham sân si” tam độc. Tam độc phiền não có thể sinh vô lượng vô biên ác pháp. Câu nói này người xưa nay thường nói, có đồng tu học Phật nào mà chẳng biết? Tuy người nào cũng biết, nhưng có người nào chịu thật lòng đi làm? Không thể thật lòng đi làm là vì đối với ý nghĩa chân thật của ba thiện căn hoàn toàn chưa hiểu rõ. Ba độc, ba thiện căn là “lợi - hại” sát sườn của chúng ta. Đây là sự nhận biết đối với tất cả pháp, có thể nói là ở mức thấp nhất. Người có trí tuệ bậc cao có thể biện biệt chân vọng, tà chánh của vũ trụ nhân sinh. Người bậc trung có thể biện biệt thị phi, thiện ác. Người bậc hạ biết được lợi hại. Nói lời thành thật, chúng ta ở trong toàn bộ Phật pháp, ngay cả hạ hạ căn cũng còn chưa được. Nguyên nhân ở đâu vậy? Lợi hại sát sườn cũng không biết, vậy thì làm sao có thể tìm làm lánh dữ?

Sáng sớm hôm nay, thầy Ngộ Hoằng gởi đến hai bức thư điện tử được truyền đến từ trong máy vi tính. Hai bức thư này dường như đều là từ Mỹ truyền đến. Vấn đề mà hai người hỏi là giống nhau. Mọi người đều quan tâm, mấy tháng gần đây này sẽ có tai nạn liên tiếp xảy ra. Rốt cuộc có xảy ra hay không, đều vẫn thuộc về tin đồn. Mấy hôm nay tôi giảng Kinh tại Hồng Kông, ở bên Hồng Kông cũng có đồng tu đến từ Canada và từ các nơi khác, họ nói với tôi là tai nạn chắc chắn sẽ xảy ra. Tôi hỏi họ: “Duyên cớ gì?”. Họ nói, họ cảm giác thấy có rất nhiều điềm báo trước, hiện tượng rất không tốt lành, khí hậu biến đổi thất thường, gió thổi vào cây thì cây đó bị chết, xưa nay chưa từng thấy, đã xảy ra rồi. Tâm người cũng thất thường, biến đổi thế nào vậy? Biến thành tê dại. Họ nói, thật sự có một số người dường như sống ở thế gian này không còn bình tĩnh nữa, họ bảo là có tai nạn này cũng hay, chết sớm cho tốt. Hiện nay người có quan niệm này rất nhiều, đây là hiện tượng bất thường. Tai nạn thật sự có xảy ra đột ngột, phần lớn vẫn là có điềm báo trước. Chỉ cần chúng ta thật bình tĩnh quan sát là có thể nhìn thấy rất rõ ràng. Mọi người quan tâm là làm sao có thể tránh khỏi tai nạn này. Các tín đồ tôn giáo trên toàn thế giới, bất luận tôn giáo họ tin là tôn giáo gì, không có người nào mà không thành kính cầu nguyện. Sự thành kính cầu nguyện này có hiệu quả hay không? Chúng ta biết, hiệu quả là điều chắc chắn. Chúng ta cũng nghe được lời đồn đại này từ rất sớm. Cho nên niệm Phật đường của thôn Di Đà Cư Sĩ Lâm, trước khi vẫn chưa có cách gì xây dựng, thì trước tiên lợi dụng tầng 4 của Cư Sĩ Lâm để mở niệm Phật đường. Mấy tháng gần đây, niệm Phật đường mở cửa 24 giờ, có không ít đồng tu đang niệm Phật ngày đêm không gián đoạn. Chúng ta là học trò của Phật, đã học theo Phật nhiều năm, lời dạy của Phật đối với chúng ta, ý nghĩa ở trong Kinh điển chúng ta thể hội được bao nhiêu? Khẳng định tất cả pháp mà Phật nói, quả thật là lưu xuất ra từ trong tự tánh.

Đầu năm Dân Quốc, Đại Sư Âu Dương Cánh Vô nhắc nhở chúng ta, Ngài nói cho mọi người biết: “Phật pháp không phải tôn giáo, không phải triết học, mà là điều không thể thiếu của người hiện nay”. Thế gian, mọi hiện tượng biến đổi, Phật nói là “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”. Tâm với tánh đều rất khó hiểu, nhận thức ý nghĩa của chữ này chúng ta đều không hiểu. Ở trong ý thức, trong tưởng tượng của chúng ta, cái tâm đó không phải cái tâm mà Phật nói. Tại sao biết không phải cái tâm mà Phật nói vậy? Quí vị thử đọc “Kinh Lăng Nghiêm” thì sẽ rõ ngay. “Kinh Lăng Nghiêm” vừa mở đầu là một đoạn kinh văn rất dài. Đoạn kinh văn đó là để chúng ta hiểu rõ Phật nói ý nghĩa của “tâm”. Cuộc đối thoại giữa Phật Thích Ca Mâu Ni với tôn giả A Nan, sau khi chúng ta xem xong, mới biết được chính chúng ta đã hiểu sai ý đối với những danh từ thuật ngữ này trong Kinh Phật. Thiền Tông nói hay: “Nếu người biết được tâm, đại địa không tấc đất”. Ý nghĩa của lời nói này là: nếu như đem hai chữ “tâm tánh” này hiểu rõ ràng, hiểu sáng tỏ rồi, bạn liền thành Phật, bạn không phải là phàm phu. Hay nói cách khác, phàm phu đối với hai chữ này có khái niệm mơ hồ, không rõ ràng; thật sự hiểu rõ ràng thì bạn chính là Phật, bạn chính là Bồ Tát. Lời nói này là thật, không phải giả. Tâm tánh, hai chữ này thật sự nhận thức được rồi, mức thấp nhất bạn là Bồ Tát Sơ Trụ Viên Giáo, là Pháp Thân Đại Sĩ. Người ở trong mười pháp giới không có năng lực này.

Phật lại nói với chúng ta: “Y báo chuyển theo chánh báo”. Đây là lời Phật nói. Vào thời xưa, lời mà Kham Dư Gia nói là xem phong thủy, chấm tử vi. Chấm tử vi thường nói: “Tướng tùy tâm chuyển”. Người xem phong thủy thường nói: “Người phước ở đất phước, đất phước người phước ở”. Nếu bạn đem những lời này gộp chung lại, suy nghĩ thật kỹ là chúng ta đã có biện pháp tiêu trừ tai nạn rồi. Có tai nạn hiện tiền là nơi đây không phải đất phước. Tại sao không phải đất phước vậy? Chúng ta không có phước, nếu như chúng ta chịu tu phước thì nơi này liền biến thành tốt rồi. Người phước ở đất phước, mà đất phước thì làm gì có tai nạn? Cho nên các bạn đem lời của Phật Bồ Tát, đem lời của cổ nhân tổng hợp lại xem, chúng ta sẽ tìm ra phương pháp phòng tránh tai nạn vô cùng có hiệu quả, đó là đoạn ác tu thiện.

Đoạn ác tu thiện, bắt đầu đoạn từ đâu vậy? Bắt đầu đoạn từ trong tâm thì mới thật sự có hiệu quả. Thật sự phát tâm đoạn tất cả ác, tu tất cả thiện, nhưng mà tiêu chuẩn của thiện ác phải hiểu cho rõ ràng. Trong “Cảm Ứng Thiên”, ba câu nói này chính là ba thiện căn, chúng ta có thể làm được hay không? Phật nói cho chúng ta biết, tiêu chuẩn đơn giản nhất của thiện ác là ngũ giới thập thiện, nói từ trên sự, mỗi một điều chúng ta phải thật sự làm được. Thập thiện nghiệp đạo, chữ đạo đó chính là con đường hạnh phúc. Chúng ta muốn cầu phước, phước có từ đâu vậy? Phước từ thiện mà có. Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không lưỡng thiệt, không ác khẩu, không ỷ ngữ, không tham, không sân, không si, bạn phải làm thật mới được. Nói từ trên lý, phàm là vì bản thân, vì cá nhân, vì gia đình, cái ý niệm này là ý niệm ác; vì xã hội, vì nhân dân, vì chúng sanh, cái niệm này là niệm thiện. Đem lý và sự kết hợp lại, chúng ta phát tâm vì xã hội, vì nhân dân, vì chúng sanh tu học thập thiện nghiệp đạo, đây là chân thiện. Vì bản thân ta, vì gia đình mình, vì đoàn thể nhỏ của ta mà tu thập thiện nghiệp thì không chuyển nổi nghiệp, hay nói cách khác, tiêu tai, chuyển đổi tai nạn thì làm không được, nhưng cá nhân có thể được phước. Bởi vì cái phước báo đó của bạn quá nhỏ nên không thắng nổi nghiệp lực của bạn. Trong Kinh Đại Thừa thường nói, chúng sanh tạo nghiệp lực tham sân si, sức mạnh của nghiệp có thể sánh với núi Tu Di, sâu như biển lớn. Chúng ta tu một chút xíu ngũ giới thập thiện liền có thể tránh được, là không có cái đạo lý này. Cho nên, nhất định lý luận với sự tướng phải kết hợp thành một thể, mới tạo nên sức mạnh to lớn và sức mạnh này có thể tiêu nghiệp chướng, có thể thay đổi hoàn cảnh sống của chúng ta.

Tâm lượng của bạn càng lớn thì phước báo của bạn sẽ càng lớn. Ngạn ngữ Trung Quốc thường nói “lượng đại phước đại” là vô cùng có đạo lý. Người tâm lượng nhỏ thì có phước báo gì được? Nhất định phải mở rộng tâm lượng. Phật Bồ Tát có phước báo lớn, bởi vì tâm lượng của các Ngài lớn, trong Kinh thường nói là “tâm bao thái hư, lượng chu sa giới”. Phước báo lớn cho nên tai nạn như thế nào họ cũng không có. Cho nên người có tâm lượng nhỏ, mặc dù tu phước, nếu muốn tránh được tai nạn này cũng rất khó khăn. Thế nhưng tóm lại, tu vẫn tốt hơn là không tu. Đây là điều có thể khẳng định.

Những truyền thuyết cổ xưa đó cũng có y cứ. Các dạng y cứ không ngoài ba loại lớn. Loại cao siêu nhất là định công, ở trong thiền định nhìn thấy, đây là loại đáng tin nhất. Người công phu thiền định sâu, có thể đột phá hư không, cũng chính là nói, họ có thể nhìn thấy quá khứ, họ cũng có thể nhìn thấy vị lai. Đây là loại đáng tin nhất, nhưng mà cũng không dễ dàng, bạn không có công phu này thì sẽ làm không được. Loại thứ hai là toán học. Toán học là mẹ của khoa học, từ trong toán học suy đoán ra cũng khá chuẩn xác. Nhưng mà cái toán học đó, khi suy đoán trên chữ số, nếu có sai một chút xíu, phía sau dấu phẩy thập phân mấy số cũng không được, đúng là “sai một li, đi một dặm”. Cho nên suy đoán từ trên số học, tính chính xác có thể đạt đến 70%, vẫn còn một bộ phận bị sơ suất, chứ không phải hoàn toàn chính xác. Loại thứ ba là quỷ thần, có thần linh mách bảo, họ giao tiếp với quỷ thần, quỷ thần nói cho họ biết. Cái đó có đáng tin hay không vậy? Rất khó nói! Có một số việc rất đáng tin, nhưng có một số việc quỷ thần trêu đùa với bạn. Nguồn gốc của truyền thuyết cổ xưa không ngoài ba loại lớn này.

Chúng ta đọc thấy ở trong Kinh Phật, quỷ thần có ngũ thông, ngoài lậu tận thông họ không có ra, họ có thiên nhãn thông, họ có túc mạng thông. Tuy quỷ thần có ngũ thông, nhưng năng lực đó hoàn toàn không thật lớn. Năng lực của thiên thần còn cao hơn rất nhiều so với quỷ thần. Thế nhưng người giao tiếp với thiên thần thì vô cùng ít, còn chuyện giao tiếp với quỷ thần thì rất nhiều. Ở trong nước và ngoài nước, sự việc này được ghi chép ở trong truyền thuyết, chúng ta đọc thấy rất nhiều. Cho nên chúng ta hiểu rõ nguồn gốc của truyền thuyết, không phải không có lửa mà có khói.

Trung Quốc vào thời xưa, người có học, họ tuyệt đối không mê tín. Khổng Lão Phu Tử dạy chúng ta đều là thực sự cầu thị. Nho gia dạy chúng ta tìm lành lánh dữ, chính là quan sát trước khi họa phước sắp xảy ra, chắc chắn có điềm báo trước. Quan sát những điềm báo này, nhà Nho gọi là “thượng thiên thùy tướng”. Thượng thiên thùy tướng không phải chỉ thị của thần, mà là hiện tượng tự nhiên. “Thượng thiên” là chỉ hiện tượng của tự nhiên. Nhìn thấy hiện tượng tự nhiên này, liền biết sẽ có việc gì sắp xảy ra. Phong tục nhân tình cũng là một hiện tượng tự nhiên. Cho nên thử xem đại chúng xã hội, họ nghĩ gì, họ nói gì, họ làm gì? Bạn quan sát tỉ mỉ thì liền biết kiết hung họa phước của khu vực này. Sự việc này không phải là mê tín. Tâm địa của mọi người đều rất lương thiện, nói năng suy nghĩ đều là thiện phước thì người nơi này nhất định có phước, nhất định là một nơi tốt. Người khu vực này suy nghĩ bất thiện, nói năng bất thiện, hành vi bất thiện, thì nơi này nhất định sẽ có tai nạn xảy ra. Cho nên người thông minh trí tuệ, họ sẽ tránh xa cái gọi là “nước nguy không ở, nước loạn không vào”. Ở nơi này có nguy nan hay có loạn động, đều là xem tư tưởng, nói năng, tạo tác của nhân tâm là biết ngay thôi. Tự mình cần phải biết làm như thế nào. Tìm lành lánh dữ, sao nói là mê tín được? Cho nên chúng ta ngày nay cũng vậy, thật bình tĩnh mà quan sát, tư tưởng, ngôn luận, tạo tác của người thế gian. Chúng ta sống ở trong môi trường này, nếu đa số người làm như vậy thì chúng ta cũng bị liên lụy, Phật pháp gọi là “cộng nghiệp chiêu cảm”. Nhưng mà ở trong cộng nghiệp vẫn có biệt nghiệp. Nếu như sức mạnh biệt nghiệp của chúng ta mạnh, họ quấy nhiễu ta, chúng ta cũng có thể ảnh hưởng họ. Niệm Phật có thể tiêu nghiệp chướng, có thể hóa giải tai nạn, chính là căn cứ vào đạo lý này mà xây dựng. Ở trong tất cả mọi thiện niệm, niệm Phật là thiện nhất, không có gì thiện hơn niệm Phật. Nhưng mà chúng ta ngày nay niệm Phật hiệu quả hoàn toàn không rõ rệt, đó là do chúng ta hiểu về niệm Phật chưa đủ thấu triệt. Hiểu vô cùng thấu triệt thì sức mạnh của Phật hiệu không thể nghĩ bàn.

Hôm nay là thứ bảy, buổi tối tôi giảng “Kinh Vô Lượng Thọ”, đúng lúc giảng đến 48 nguyện. Tối hôm nay giảng nguyện thứ 17, thử xem có thể giảng đến nguyện thứ 18 hay không. Nguyện 18 chính là nói công đức của niệm Phật, sức mạnh của niệm Phật, hiệu quả của niệm Phật, niệm như thế nào mới có thể sinh ra hiệu quả lớn nhất.

Lý với sự liễu giải chưa đủ thấu triệt, tuy chúng ta làm nhưng thành quả vẫn rất hữu hạn. Cho nên Phật ở trong Kinh thường hay khuyến khích chúng ta phải đọc tụng Đại Thừa, bảo chúng ta “thọ trì đọc tụng, vì người diễn thuyết”. Lời nói này, tôi thấy Thế Tôn trong 49 năm đã nói không chỉ một vạn lần. Thật là hết lòng dặn dò! Chúng ta phải nhớ kỹ, cần thể hội được ý của Phật. Tốt rồi, điều mà mấy vị đồng tu này hỏi, đại thể tôi chỉ giải thích với mọi người đến chỗ này.

************

“Cảm ứng Thiên” đoạn thứ 30: “Thọ nhục bất oán”. Đoạn này là nói “không sân”, đoạn tham sân si.

“Nhục”, người Trung Quốc từ xưa đến nay rất là xem trọng, cổ nhân nói là “sĩ khả sát, bất khả nhục”. Trung Quốc vào thời cổ đại, cái mà người có học coi trọng là đạo nghĩa. “Sĩ”, cách nói hiện nay chính là phần tử tri thức. Vào thời xưa nói, người học sách thánh hiền bị chém đầu cũng chẳng sao, nhưng bị lăng nhục là không thể chấp nhận, họ xem việc bị lăng nhục là vô cùng nghiêm trọng. Phật pháp truyền vào Trung Quốc, Phật dạy Bồ Tát (dạy Bồ Tát chính là dạy học trò. Thuật ngữ của nhà Phật, Bồ Tát chính là học trò của Phật), dạy học trò tu dưỡng đức hạnh, có sáu điều cương lĩnh, trong Kinh điển gọi là Lục Độ, “Lục Ba La Mật”. Ba La Mật là tiếng Phạn, dịch thành tiếng Trung Quốc là “Độ”. Sáu cương lĩnh này chính là quy tắc chung của học trò. Bạn đã làm học trò của Phật thì nhất định phải tuân thủ sáu điều này. Sáu điều này là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, trong đây có một điều nhẫn nhục này. Trên thực tế, ý Phật nói hoàn toàn không phải nhẫn nhục, ý Phật nói là nhẫn nại, “nhẫn” nghĩa là “nhẫn nại”. Đại đức dịch Kinh, thấy tình hình nước Trung Quốc, tập quán người Trung Quốc xem nặng việc bị lăng nhục như vậy, liền thêm chữ “nhục” vào phía sau chữ “nhẫn”, cho nên dịch thành “nhẫn nhục”, đây là chỉ chuyên nói với người Trung Quốc. Cách phiên dịch này phù hợp với tổng nguyên tắc dạy học của Thế Tôn, chính là ứng cơ thuyết pháp. Cách dịch này thích hợp căn cơ của người Trung Quốc, cũng chính là nói, thích hợp với nguyện vọng xã hội Trung Quốc. Dịch hay vô cùng! Nhục còn có thể nhẫn được thì có gì không thể nhẫn được? Không có việc gì không nhẫn được. Hơn nữa, “nhẫn” là điều kiện tất yếu của tu học thành công.

Trong “Kinh Kim Cang” Phật nói: “Tất cả pháp có thể thành tựu từ nhẫn”. Cổ nhân Trung Quốc nói: “Không nhẫn việc nhỏ thì hỏng việc lớn”. Từ đó cho thấy, pháp thế xuất thế thành tựu lớn nhỏ, hoàn toàn dựa vào công phu nhẫn nhục của bạn. Công phu nhẫn nhục của bạn lớn thì thành tựu của bạn sẽ lớn, công phu nhẫn nhục nhỏ thì thành tựu của bạn cũng nhỏ. Người không thể nhẫn nhục thì chẳng có thành tựu gì. Những sự thật này đều bày ngay trước mắt chúng ta. Các bạn chỉ cần bình tĩnh quan sát những nhân vật xung quanh chúng ta đây, những người nào là người có thành tựu và những người nào là người không thể thành tựu? Đều ở ngay trước mắt. Lời giáo huấn của Phật Bồ Tát, chúng ta đọc rồi, nghe rồi, tư duy tỉ mỉ, quan sát thật kỹ xem những nhân vật thành công hay thất bại xung quanh chúng ta. Thử xem trong lịch sử ghi chép những nhân vật thành bại đó, chúng ta sẽ chứng thực lời dạy của Phật Bồ Tát, lời dạy của cổ thánh tiên hiền là chân thật, có lợi ích lớn đối với chúng ta. Nhất là ở chỗ này dạy rất hay, “thọ nhục bất oán” (oán là oán hận). Đây là đức hạnh chân thật. Người bình thường bị người khác lăng nhục, mặc dù họ nhẫn được, không tiến hành trả thù, nhưng mà ý niệm oán hận nhiều ít vẫn có. Loại ý niệm oán hận này là nguồn gốc, là nghiệp nhân của sự trả thù tương lai; đời này chưa có trả thù, vì đọc sách thánh hiền nhẫn được rồi, lần sau gặp phải thì lại phát tác rồi. Học Phật, quí vị đều có thể tin, người quyết không phải chỉ một đời, người còn có đời sau. Người nếu như chỉ có một đời, đời sau đều không còn nữa, thế việc này dễ làm, phiền phức chính là người có đời sau.

Chúng tôi hoằng pháp ở Mỹ và Canada nhiều năm. Người nước ngoài đối với đời trước, đời sau họ đã tin rồi, đối với lục đạo luân hồi mà trong Kinh Phật nói họ thừa nhận. Những người nào thừa nhận vậy? Tín đồ Cơ Đốc giáo, tín đồ Thiên Chúa giáo. Trước đây họ không tin có lục đạo, hiện nay thì họ tin. Tại sao tin vậy? Thông qua thôi miên ở mức độ sâu, họ tin rồi. Hiện nay ở nước ngoài, những vụ thôi miên này nhiều đến mấy chục vạn, sách mà họ xuất bản cũng khá phong phú. Thông qua thôi miên, người này nói ra đời trước của họ. Khi họ nói ra, có ghi chép lại, sau đó đi điều tra. Họ nói đời trước, phần lớn hầu như đều là việc của một vài trăm năm trước. Ở trong chính phủ người ta, những dữ liệu hồ sơ này vẫn được bảo tồn, quả nhiên điều tra ra được. Họ ở trong đời này, xưa nay chưa từng đi qua khu vực này, vô cùng lạ lẫm đối với nơi này, hoàn toàn không biết, nhưng họ lại có thể nói ra tình trạng xã hội ở nơi đó của một vài trăm năm trước, nói được tên của họ là gì, họ sống ở nơi nào; khi hỏi tên đường, thành phố của họ ở, tiền tệ họ sử dụng, họ đều có thể nói ra chính xác. Trải qua điều tra xác minh, quả nhiên không sai. Hỏi họ tình trạng sống chết, khi họ chết tình trạng như thế nào, khi đầu thai ra đời tình trạng ra làm sao, họ đều nói rất rõ ràng, rất minh bạch. Những sách này, chúng ta có phiên dịch sang Trung văn, nhưng phiên dịch không nhiều, tôi đã từng thấy qua. Có người đời trước là súc sanh, là chim, là mãng xà, là động vật, vậy đã chứng minh là cõi súc sanh chuyển đến thân người. Còn có một số người (số lượng cũng không quá nhiều), họ không phải người trên trái đất chúng ta, đời trước họ ở trên tinh cầu khác. Từ chỗ này chứng minh có sinh vật cấp cao, quyết không phải chỉ một tinh cầu trái đất. Người ở trên tinh cầu khác, ngôn ngữ họ nói, chúng ta hoàn toàn không hiểu, từ tinh cầu khác đầu thai đến trái đất chúng ta. Trải qua những thí nghiệm khoa học này, đã chứng thực con người có đời trước. Đã có đời trước thì đương nhiên chắc chắn có đời sau. Phật ở trong Kinh điển đem sự việc này nói rất rõ ràng, rất minh bạch rồi. Vũ trụ bắt nguồn từ đâu? Mạng sống bắt nguồn như thế nào, diễn biến ra sao? Rốt cuộc kết thúc như thế nào? Chỉ có ở trong Kinh điển Phật là nói thấu triệt. Chúng ta đọc rồi, có thể thật sự hiểu rõ hay không? Rất khó!

Phật pháp, nói thực ra, vô cùng phù hợp với tinh thần khoa học. Thậm chí là ngày nay ở trong khoa học xảy ra rất nhiều sai lầm, nhưng ở trong Kinh Phật không có. Ở trong Kinh Phật, mỗi một câu nói, mỗi một sự việc mà Phật nói ra, đều bảo chúng ta thông qua thực chứng, cho nên nhà Phật nói “tín, giải, hành, chứng”, cuối cùng bạn phải đem nó chứng thực. Nếu như bạn chưa có chứng thực mà bạn đã tin thì đây gọi là mê tín. Thông qua chứng thực “sự việc này quả thật là như vậy”, niềm tin này mới gọi là chánh tín. Nhưng mà nếu bạn muốn nhìn thấy quá khứ, muốn nhìn thấy vị lai, bạn cần phải có năng lực đột phá không gian. Không gian quả thật nó có phạm vi, giống như có một bức tường vậy. Ngày nay nhà khoa học biết, đối với không gian, dần dần họ phát hiện không gian không phải chuyện đơn giản. Họ phát hiện không gian 3 chiều, không gian 4 chiều, không gian 5 chiều, hoặc là nói không gian 3 độ, 4 độ, 5 độ. Từ trên lý luận mà suy, không gian là vô hạn chiều. Nhưng mà hiện nay, nhà khoa học quả thật đã chứng thực có sự tồn tại của không gian 11 chiều. Lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ ở phần sau chú giải “Kinh Vô Lượng Thọ” có kèm bài báo cáo của họ. Đây là bài báo cáo nghiên cứu khoa học của người phương Tây, có điểm tương tự với điều trong Kinh Phật nói, cho nên ông đem nó phụ vào phần sau của bản Kinh này. Khi chú Kinh, ông không có viết vào. Khi tôi đến Bắc Kinh, ông bỗng nhiên nghĩ đến sự việc này, ông còn có mấy bài văn, vào lúc đó giao cho tôi, tôi đem nó in vào phần sau của bản kinh này, cung cấp cho mọi người làm tham khảo. Không gian đã được phát hiện rồi, có loại tình hình này, nhưng rốt cuộc làm sao đột phá, hiện nay vẫn chưa có kỹ thuật, vẫn chưa có năng lực này. Thế nhưng ở trong Kinh Phật, không gian đã được đột phát từ sớm rồi. Phật dùng phương pháp gì vậy? Dùng thiền định. Đạo lý này, tôi đã nói với quý vị rồi. Nhiều chiều không gian như thế, từ đâu mà có vậy? Người không học không biết. Phật nói cho chúng ta biết, thời không vốn dĩ không có.

Chúng ta học “Bách Pháp Minh Môn Luận”, tôi không biết các bạn có nghĩ đến những sự việc này hay không. Bách pháp chính là giải thích vũ trụ nhân sanh, nói rõ toàn bộ chân tướng của vũ trụ nhân sanh. Bồ Tát Di Lặc rất tuyệt vời, đem những điều mà Phật đã nói ở trong Kinh luận, tổng quy kết lại thành 360 pháp, ở trong “Du Già Sư Đại Luận”. “Du Già Sư Đại Luận” là trước tác của Bồ Tát Di Lặc. Bồ Tát Thiên Thân đọc đến bộ sách này, nhìn thấy 360 pháp vẫn là quá nhiều, không tiện cho người mới học, cho nên Ngài đem 360 pháp quy nạp lại thành 100 pháp, tiện cho việc dạy học. Một trăm pháp này được phân thành năm loại lớn. Thứ nhất là Tâm Pháp, thứ hai là Tâm Sở Pháp, thứ ba là Sắc Pháp, thứ tư là Tâm Bất Tương Ưng Hành Pháp, thứ năm là Vô Vi Pháp. Năm loại lớn này chính là nói rõ toàn bộ vũ trụ nhân sinh. Cho nên Ngài giải thích một câu của Phật Thích Ca Mâu Ni nói: “Tất cả pháp đều vô ngã”. Tất cả pháp chính là quy nạp 100 pháp này. Vô ngã chính là nói nhân vô ngã, pháp vô ngã. Bạn cần phải hiểu thấu triệt chân tướng sự thật, mới thật sự biết được tại sao gọi là vô ngã. Nói rõ ràng, nói thấu triệt, chiều của thời không ở trong “Bách Pháp” thuộc vào loại nào vậy? Ngài quy nạp, xếp vào trong “Bất Tương Ưng Hành Pháp”. Bất Tương Ưng Hành Pháp tổng cộng có 24 điều, trong đó có thời phân. Thời phân chính là nói thời gian. Phương phân là nói không gian. Thời phân với phương phân (thời gian với không gian) là giả, không phải thật. Bất Tương Ưng Hành Pháp, dùng cách nói hiện nay để nói, chính là khái niệm trừu tượng, không phải sự thật. Khái niệm phát sinh từ đâu vậy? Từ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Tất cả chúng sanh vọng tưởng, phân biệt, chấp trước vô lượng vô biên, cho nên biến thành vô lượng vô biên tần số không gian. Điều này chỉ có Phật mới có thể đem nó nói ra. Bạn đã biết nó hình thành như thế nào, vậy bạn mới có thể nghĩ cách đột phá nó. Làm sao đột phá? Bạn chỉ cần đem vọng tưởng, phân biệt, chấp trước buông xả thì liền đột phá ngay. Cho nên khi người đang nhập định, ý chí của họ tập trung, họ không có vọng tưởng. Ý chí tập trung thì sẽ dần dần đột phá được, từ 3 chiều nhìn thấy 4 chiều, từ 4 chiều nhìn thấy 5 chiều, tùy theo định công của bạn sâu hay cạn mà mức độ đột phá của bạn lớn nhỏ khác nhau.

Nhà Phật nói đột phá thời không là có đạo lý, có căn cứ lý luận. Lý luận với sự thật hoàn toàn kết hợp thành một thể. Thế là Phật pháp mọi người đều biết, tám vạn bốn ngàn pháp môn, vô lượng pháp môn (pháp là phương pháp, môn là con đường), phương pháp và con đường tuy nhiều, nhưng nguyên lý nguyên tắc của nó là một, đó chính là tu định. Cho nên quí vị đồng tu cần phải nhớ kỹ, tuyệt đối không phải nói chỉ có Thiền tông là tu thiền định, những pháp môn khác không phải tu thiền định. Chúng ta niệm Phật “nhất tâm bất loạn”, chẳng phải là thiền định sao? Giáo hạ đề xướng “chỉ quán”, chỉ quán chính là thiền định. “Tam mật tương ưng” của Mật tông, tương ưng chính là thiền định. Cho nên chúng ta phải biết, tám vạn bốn ngàn pháp môn là dùng tám vạn bốn ngàn phương pháp khác nhau, thảy đều tu thiền định. Đây mới là điều mà trong Kinh nói “pháp môn bình đẳng, không có cao thấp”. Phương pháp, cách thức mà bạn dùng không giống nhau, nhưng mục tiêu, phương hướng của bạn là một, thành tựu hoàn toàn như nhau. Phương pháp, cách thức khác nhau là bởi vì căn tánh mỗi người không như nhau, tập nhiễm khác nhau. Thuận theo căn tánh của mình tu học thì dễ dàng thành tựu, không thuận căn tánh của mình thì tu học sẽ khó khăn. Cho nên chúng ta nhất định phải hiểu rõ, Phật pháp mãi mãi là thuận theo căn tánh chúng sanh mà chỉ dạy. Loại phương thức này là thuận theo tự nhiên, không thêm vào mảy may miễn cưỡng, chúng ta hiện nay nói “miễn cưỡng”, ở trong Kinh Phật nói “ý”, không thêm mảy may ý nào. Cho nên nói, Phật không độ chúng sanh, Phật đối với tất cả chúng sanh, không có mảy may miễn cưỡng, không có mảy may ý nào. Bạn nói, điều này tự tại biết bao!

Chúng ta ngày nay nói “chân thiện mỹ tuệ”, điều này chỉ có ở trong hành nghi đời sống một đời của Phật Đà, ở trong phương pháp dạy học mà Ngài sử dụng, chúng ta mới có thể thể hội được “chân thiện mỹ tuệ”. Người hiện nay nói trí tuệ cao độ, chúng ta quả thật không thể hội được, cũng không nhìn thấy, nhưng mà ở trong Kinh điển Phật Đà, quả thật đúng là thể hội nhìn thấy được trí tuệ cao độ. Đây là điểm mà chúng ta cần học tập. Có thể thuận theo tự nhiên, đây là khỏe mạnh nhất. Bản thân thêm một chút ý, đây là gốc bệnh. Cho nên Phật nói tam độc “tham sân si”. Tam độc là gì vậy? Cách nói hiện nay là vi rút. Trong tâm bạn đã có vi rút nghiêm trọng, bên ngoài phong hàn cảm nhiễm, bạn sẽ dễ dàng bị bệnh. Ở bên trong không có tham sân si, ở bên trong bạn không có vi rút thì bên ngoài những thứ này sẽ không có cách gì cảm nhiễm được. Lăng nhục là cảnh giới bên ngoài, ở bên trong nếu như có sân hận, bên ngoài vừa bị một chút lăng nhục, thế bạn lập tức liền phát tác, cái phát tác này là bệnh phát tác rồi. Bệnh này không thể xem nhẹ, không thể xem thường. Tại sao vậy? Trong hữu ý hay vô ý đã kết oán thù sâu nặng với người, điều này chúng ta ở trong lịch sử nhìn thấy rất nhiều. Ở trong vô ý có tội với người, đến sau này khi người ta có sức mạnh trả thù thì chống đỡ không nổi, thậm chí là dẫn đến họa mất mạng. Vào thời xưa họa diệt tộc, tai họa đều do không nhẫn việc nhỏ, vô ý đã đắc tội với người. Trong lịch sử, ví dụ này thì quá nhiều, quá nhiều. [Phần chú giải phía sau nêu rất nhiều ví dụ, tôi vẫn chưa xem kỹ].

Chúng ta ở trong đời sống thường ngày, nhất là đối với người ác, người tâm lượng nhỏ hẹp, nhất định đối với họ phải khiêm tốn, phải cung kính, không kết oán. Phật dạy chúng ta mười nguyện Phổ Hiền, trong đó nguyện thứ nhất là dạy chúng ta “lễ kính chư Phật”, nguyện thứ hai là “xưng tán Như Lai”, nguyện thứ ba là “quảng tu cúng dường”, nguyện thứ tư là “sám hối nghiệp chướng”. Chúng ta có thể làm được bốn câu mười sáu chữ này thì cả đời chúng ta thọ dụng không hết. Bất luận đối với người như thế nào, đều phải khiêm tốn, đều phải cung kính, nhất định không được phép có hành vi ngạo mạn, không nên tự cho là đúng, không nên tự cho rằng mình tài giỏi. Bất kỳ vị Phật nào, vị Bồ Tát nào, thậm chí là vị A La Hán, Tu Đà Hoàn nào, chúng ta đều không thể sánh bằng với các Ngài, vậy thì có gì đáng kiêu ngạo chứ? Thường xuyên nhìn về Phật Bồ Tát thì tâm ngạo mạn của chúng ta sẽ không còn nữa, một cách tự nhiên trở nên khiêm tốn.

Khiêm tốn là thuộc về tánh đức. Phật dạy chúng ta, Khổng Lão Phu Tử cũng dạy chúng ta như vậy. Một bộ “Lễ Ký”, nội dung của nó chẳng qua là dạy chúng ta “hạ mình mà tôn người”. Đây là tinh thần nội dung của bộ “Lễ Ký”, dạy bản thân chúng ta đối nhân xử thế tiếp vật phải hạ mình, phải tôn kính người khác. Khổng Lão Phu Tử làm được rồi. Chúng ta thấy ở trong “Luận Ngữ”, Phu Tử tiếp kiến bất kỳ người nào cũng đều khiêm tốn. Trong Kinh Phật chúng ta nhìn thấy rồi, Phật Thích Ca Mâu Ni bất kể gặp người như thế nào, thái độ cũng là khiêm tốn. Đại thánh đại hiền thế xuất thế gian còn như thế thì chúng ta có gì đáng kiêu ngạo chứ? Người vừa có ý nghĩ kiêu mạn này là xong rồi.

Khổng Lão Phu Tử nhìn người, trong “Luận Ngữ” có một câu nói, đó là Phu Tử quan sát về con người. Ngài nói giả thiết, chưa chắc là thật có. Nói thực ra, Ngài cũng là dạy học trò, khích lệ học trò. Giả như có người mà đức hạnh và tài hoa của họ tốt đẹp như Chu Công. Người mà Khổng Phu Tử khâm phục nhất chính là Chu Công, ở trong ghi chép tán thán về Chu Công rất nhiều. Chu Công thật sự tuyệt vời. Trong lịch sử Trung Quốc nói, ông là nhà chính trị vĩ đại nhất. Triều Chu lập quốc có thể 800 năm không suy là nhờ vào chế độ của Chu Công. Chu Công viết sách lưu truyền đến ngày nay, chính là “Chu Lễ”. “Chu Lễ” là gì vậy? Dùng cách nói hiện nay để nói, đó là hiến pháp của triều Chu, hiến pháp đó là do Ngài đặt ra. Khi tôi còn trẻ, ưa thích đọc sách. Tiên sinh Phương Đông Mỹ hỏi tôi: “Thầy đã từng đọc qua “Chu Lễ” chưa?”. Tôi nói tôi chưa từng đọc qua. “Phải đọc”, thầy đã nói với tôi trước sau tổng cộng đến mười mấy lần, khuyên tôi đọc “Chu Lễ”. Nhưng mà tôi thích đọc “Lễ Ký”. “Chu Lễ” lật ra một chút, “Nghi Lễ” lật ra một chút, không hứng thú lắm, cho nên tôi chưa có đọc sách này. Thầy nói với tôi, đây là bộ hiến pháp tốt nhất của toàn thế giới. Nếu như con cháu đời sau của triều Chu, thảy đều làm theo những điều này thì triều Chu vạn vạn năm cũng sẽ không thay đổi triều đại. Tiên sinh Phương đối với bộ sách này tán thán đến mức này. Thế nhưng chúng tôi không có hứng thú đối với chính trị, chúng tôi vẫn nương vào Phật pháp. Sở dĩ chúng tôi biết đây là một bộ sách hay là nhờ sự giới thiệu của thầy. Phu Tử rất mực tán thán về Chu Công. Ngài nói, giả như có người có đức hạnh và học vấn tốt đẹp như Chu Công, nhưng ngạo mạn lại keo kiệt, thì những cái còn lại không cần xem xét nữa. Ngài nói, người mà có hai tật xấu là kiêu ngạo và keo kiệt thì người này là không cần xem nữa, đó đều là giả, đều không phải thật. Bạn mới biết, kiêu mạn đối với đức hạnh của một người tổn hại lớn cỡ nào. Keo kiệt chính là phiền não tham. Kiêu ngạo chính là phiền não sân. Nho gia tuy không có nói đây là tam độc, nhà Phật nói thấu triệt. Tam độc phiền não của bạn vẫn chưa có đoạn, thì đạo đức và học vấn của bạn đều là giả, không phải thật. Khổng Tử nói câu này, chúng ta từ chỗ này mà thể hội, ý nghĩa đã rất rõ ràng.

Làm sao để đoạn tham? Bố thí. Tôi học Phật, ngày đầu tiên gặp Đại Sư Chương Gia, chính thầy đã đem điều này dạy cho tôi. Người thế gian tiếc tiền của, không chịu từ bỏ. Phật nói với chúng ta giàu có từ đâu mà có vậy? Từ bố thí mà có, càng thí càng nhiều. Nếu như bạn không chịu bố thí, tiền tài của bạn đến đây là hết rồi, chỉ có bao nhiêu đó. Bạn chịu bố thí thì tiền tài giống như dòng nước vậy, sống động, vĩnh viễn hưởng thụ không hết, vậy tại sao bạn không làm? Tham lam, keo kiệt làm tắt nghẽn rồi. Tắt nghẽn kín rồi thì phía sau sẽ không vào được, cái bạn có chỉ có chừng đó, dùng hết rồi sẽ không còn nữa. Những đạo lý này chúng ta đều phải biết. Càng thí càng nhiều, mãi mãi dùng không hết. Đạo tràng cũng là như vậy, các bạn thấy Cư Sĩ Lâm Singapore, điều này chính mắt các bạn nhìn thấy. Cư Sĩ Lâm một chút keo kiệt cũng không có, bố thí lớn. Hiện nay mỗi ngày cúng dường ba bữa, cung ứng thêm hai bữa điểm tâm, cúng dường vô điều kiện, bất kể bạn có tin Phật hay không, bạn mắng Phật, phỉ báng Phật, lăng nhục Phật, đến đây để ăn cơm, đều hoan nghênh bạn đến. Mỗi ngày bình quân 1000 người ăn cơm. Thời gian pháp hội, hiện nay tổ chức Phật thất, mỗi ngày ba, bốn ngàn người ăn cơm, nhưng không hề đi mua gạo, không hề đi mua rau, cũng không hề đi mua dầu, cái gì cũng chưa từng đi mua, vĩnh viễn ăn không hết, càng ăn càng nhiều. Nhưng mà số rau, gạo này lại không thể để lâu, để lâu sẽ hư hết, cho nên mỗi ngày xe tải từng chiếc từng chiếc chở ra ngoài, tặng cho cô nhi viện, tặng cho viện dưỡng lão. Không những tặng cho Phật giáo, mà những tôn giáo khác lập viện dưỡng lão, cô nhi viện, chúng ta cũng đều tặng. Phật dạy rất rõ ràng, càng thí càng nhiều. Bạn không chịu bố thí thì nguồn không đến. Lời của cổ nhân nói đúng, cổ nhân hiểu đạo lý, cổ nhân có những kinh nghiệm này. Cho nên nếu chúng ta muốn đời sống vật chất một đời không thiếu thốn là có thể làm được. Chỉ cần bạn chịu bố thí, bạn chắc chắn sẽ không bị thiếu thốn, vĩnh viễn thọ dụng không hết. Nhưng mà càng có nhiều thì vật bạn thí phải càng nhiều, cho nên nhà Phật nói “xả đắc”.

Xả đắc là có hai ý nghĩa. Ý nghĩa cạn là bạn xả bạn mới có thể thật sự có được. Ý nghĩa ở mức sâu hơn, cái mà bạn có được phải mau mau xả, bạn vĩnh viễn hưởng thụ không hết. Có được rồi không chịu xả, vậy phước báo bạn chỉ có chừng đó, phước nhỏ mà thôi. Cho nên cái có được thảy đều xả, tuyệt đối không lưu giữ; của cải như vậy, trí tuệ cũng như vậy, mọi thứ đều như vậy. Cho nên Phật dạy Bồ Tát học tập sáu cương lĩnh, đầu tiên chính là bố thí, thứ hai là trì giới. Trì giới chính là tuân thủ pháp luật, ý nghĩa nhất định phải hiểu. Pháp luật của quốc gia nhất định tuân thủ, quyết định không làm việc phạm pháp, tâm an lý đắc. Nếu như việc tốt mà họ có mệnh lệnh ngăn cấm, không cho làm thì không làm. Không phải ta không làm là chúng sanh không có phước. Bản thân ta vui vẻ thanh nhàn, vui vẻ tự tại thì có gì không tốt? Là việc tốt! Cho nên khi có duyên thì chúng ta phải tận tâm tận lực đi làm, không có duyên thì tự giữ mình cho tốt. Có duyên thì làm tốt cho thiên hạ, tuyệt đối không làm việc phạm pháp, chúng ta đến bất kỳ nơi nào cũng được mọi người hoan nghênh. Pháp luật là có văn tự ghi chép, ngoài ra còn có những điều không có văn tự ghi chép như đạo đức, phong tục, tập quán. Cho nên nhập gia phải tùy tục, vào cửa phải hỏi điều kiêng kỵ. Người ta có gì kiêng kỵ, nhất định không được phạm. Đây là điều Phật dạy chúng ta. Thứ ba chính là có tâm nhẫn nại, tâm bình khí hòa. Chúng ta lấy Thiền tông làm ví dụ, Tổ sư Đạt Ma đến Trung Quốc vào thời đại của vua Lương Võ Đế, nói chuyện với vua Lương Võ Đế không hợp ý, Lương Võ Đế không hộ trì Ngài, nên Ngài chạy về Thiếu Lâm Tự để diện bích, chờ đợi cơ duyên, đợi đến khi có Huệ Khả, từng đời từng đời đơn truyền, truyền đến Đại Sư Huệ Năng thì duyên mới chín muồi. Bạn nói, Ngài có tâm nhẫn nại cỡ nào. Ngài đem Phật pháp truyền đến Trung Quốc, phải đợi đến đời thứ sáu mới có thể lợi ích tất cả chúng sanh. Đây là điển hình tốt nhất về nhẫn nhục. Chúng ta mặc dù có tâm lớn, có nguyện lớn, có đức lớn, có năng lực lớn, muốn lợi ích tất cả chúng sanh, nhưng duyên không chín muồi thì phải học tổ sư Đạt Ma. Có thể có một người truyền nhân, hai người truyền nhân, từng đời truyền xuống, cuối cùng có một ngày cơ duyên chín muồi rồi, có thể lợi ích tất cả chúng sanh. Hà tất phải tự mình một đời đi làm? Không có cần thiết như vậy. Đây mới là trí tuệ chân thật. Không cần tự mình đi làm, truyền cho học trò, học trò không có cơ hội, lại truyền cho học trò nữa. Từ chỗ này bạn nhìn thấy, cổ thánh tiên hiền, tâm nhẫn nại đó của các Ngài, không phải người bình thường có thể sánh nổi, mới có thể đem sự việc này làm rất viên mãn, không có khiếm khuyết. Đây là điểm chúng ta phải học tập.

Bị nhục nhất định không có cái tâm oán hận. Câu này có ý nghĩa rất sâu, có quan hệ rất lớn đối với việc tu học của chúng ta. Điều mà tôi giảng với quí vị hôm nay chỉ mới được một nửa. Ngày mai tôi muốn nêu một số việc điển hình với quí vị để thuyết minh. Chúng ta phải vô cùng coi trọng, nếu không thì không những có chướng ngại to lớn đối với đạo nghiệp, mà ngay cả đối với đọc Kinh, không hiểu sâu nghĩa thú cũng sẽ có chướng ngại, chúng ta đọc Kinh sẽ không khai ngộ. Tại sao không khai ngộ vậy? Có tồn tại những phiền não này, nó đang ở đây quấy phá, làm chướng ngại. Cho nên những điểm này nhất định phải giảng rõ ràng, giảng minh bạch. Hôm nay thời gian đã hết, chúng ta chỉ giảng đến đây.

A Di Đà Phật!

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (tập 38)

Người giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không

Giảng tại: Tịnh Tông Học Hội Singapore

Thời gian: Năm 1999

Cẩn dịch: Viên Đạt cư sĩ, Vọng Tây cư sĩ

Biên tập: Ban biên tập Tịnh Không Pháp Ngữ

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 39


Hôm nayHôm nay : 3357

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 246234

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 10024001

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?