Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Thái thượng cảm ứng thiên

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (Tập 59)

Chủ nhật - 11/01/2015 18:43

Xin chào các vị đồng tu, chào mọi người!

Hôm qua,tôi đã giảng đến câu"Hư vu trá ngụy, công kiết tông thân".Bốn chữ phía trước tôi đã giới thiệu qua rồi, bốn chữ phía sau này thì chưa hướng. Trong chú giải của "Hội Biên" nói được rất rõ ràng, "đồng tánh xưng chi vi tông, vị tánh xưng chi vi thân", cho nên tông cùng thân là có phân ra, quan hệ đều rất là mật thiết. Trong đây nói được rất hay: "Tuy hữu viễn cận, thân sơ bất đẳng, thật giai ngã thân, quan hệ chi nhân". Cha con, anh em, họ hàng cùng một họ, đây là tông, cùng một tổ tông, một mạch truyền thừa tiếp nối. Thân, đây là khác họ kết thành hôn nhân, cho nên có gia thân quyến thuộc. Tuy là cùng họ, khác họ, có sự khác biệt, thế nhưng sau khi kết thành hôn nhân thì đều là người một nhà, cho nên đều phải nên lấy “thân ái trung thành” để đối nhau, cùng hoạn nạn, cùng chịu khổ.Đây là từ trên nhân luân mà nói. Nếu như từ trên Phật pháp để nói, phạm vi đó thì lớn, người thông thường rất khó lý giải, rất khó tiếp nhận, thế nhưng đó là chân tướng sự thật. Đây là chúng ta đọc được rất nhiều trong Kinh luận Đại Thừa, chúng ta nỗ lực nêu ra để cùng thảo luận.Đích thực đây là sự thật.Chân tướng của sự thật, hư không pháp giới tất cả chúng sanh đồng tông với chúng ta, ở trong thế pháp, đồng tông là từ trên luân lý mà nói là đồng một tổ tiên, ở trong Phật pháp nói là đồng một tự tánh, đồng một chân tâm.

Thế Tôn ở trong Hoa Nghiêm đã nói được rất hay, vũ trụ vạn pháp từ đâu mà có? "Duy tâm sở hiện", cái tâm này là cộng đồng, mười pháp giới y chánh trang nghiêm đều là duy tâm sở hiện, duy thức sở biến.Thức là cái gì? Thức là tâm khởi tác dụng, cho nên trong Kinh giáo Đại Thừa thường nói: "Tất cả pháp từ tâm tưởng sanh", nói ra một cái "tâm", nói ra một cái tưởng. Tâm năng hiện, tưởng năng biến.Tưởng chính là thức. Tám thức, 51 tâm sở, chỉ dùng chữ “tưởng” này làm đại biểu, cho nên là tâm hiện, thức biến. Từ tâm tưởng sanh, làm sao nó không phải từ trong tâm? Cho nên, Phật cùng các Pháp Thân Đại Sĩ xem thấy tất cả chúng sanh tàn sát lẫn nhau, thì giống như lão tổ tông xem thấy con cháu đời sau tương tàn lẫn nhau. Tình hình này là như vậy, có thể trách họ hay không?Không thể trách họ.Tại vì sao không thể trách họ?Họ không hiểu rõ chân tướng sự thật, không có người dạy họ, cho nên Phật ở trong "Kinh Vô Lượng Thọ", nói được rất hay:"Tiên nhân vô tri, bất thức đạo đức". Đạo đức là gì?Đạo đức chính là chân tướng sự thật.Người ở đời trước đã lơ là rồi, họ không hiểu rõ chân tướng sự thật, không có người nói với họ, họ tạo những tội nghiệp nàythì không thể trách họ.

Chúng ta đọc lịch sử, chúng ta thấy được cổ Thánh tiên vương, những đế vương vào thời xưa, họ hiểu được, họ tường tận, cho nên làm quốc vương, sự việc thứ nhất là giáo học, "kiến quốc quân dân, giáo học vi tiên", phải dạy. Cho nên, Trung Quốc thời xưa, không chỉ là người lãnh đạo quốc gia, thậm chí đến người lãnh đạo thôn xóm địa phương, gia trưởng của một gia đình là người lãnh đạo trong một nhà, đây là đại Thánh đại Hiền đều yêu cầu phải làm đến được ba chữ "Quân-Thân-Sư". Ý nghĩa nàyrất sâu rất rộng, chúng ta phải tỉ mỉ mà thể hội. Không chỉ là lãnh đạo, mà đối với người bị lãnh đạo phải có thân tình giống như cha con, anh em, thân bằng quyến thuộc trong nhà vậy, ái hộ nhiệt tình, cái này làm đến thân. Còn phải làm đến "sư", sư là tận tâm tận lực giáo hóa họ, khiến cho họ tường tận luân thường đại đạo, họ hiểu được làm người phải như thế nào, làm thế nào tiếp vật, làm thế nào sinh hoạt.

Phật pháp trước khi chưa truyền đến Trung Quốc, người Trung Quốc đã và đang làm. Vào triều Hán Minh Đế, Phật giáo chính thức truyền đến Trung Quốc. Những lời Phật đã nói, những điều Phật đã dạy, cùng với cổ Thánh tiền Hiền chúng ta không hẹn mà gặp, cho nên từ triều đình đến dân dã đều rất là hoan nghênh đối với giáo học của Phật Đà, nó bổ sung cho giáo học truyền thống của chúng ta, tương bổ tương thành. Người Trung Quốc ưa thích đơn giản, giảng cương lĩnh rất thiết yếu, Phật pháp nói được rất tường tận, đây là chúng ta được trời ưu đãi. Chúng ta thấy trên địa cầu này, các quốc gia dân tộc khác đều chưa có.Đây là phước của chúng ta. Tổ tiên của người Trung Quốcđích thực đã làm đến được ba chữ "Quân-Thân-Sư" này, làm được rất viên mãn.

Trung Quốc ngày nay, tại vì sao suy vi lạc hậu như vậy? Thực tế là khoảng 200 năm gần đây, bị người ta ức hiếp là do mê tín khoa học kỹ thuật của người nước ngoài, xem thường đi giáo huấn của tổ tông, cho nên chúng ta mới thành ra như thế này. Văn minh khoa học của nước ngoài có thể giải quyết được vấn đề hay không? Trải qua khoảng hơn một trăm năm, hiện tại tật bệnh xuất hiện, thế là cả thảy thế giới tràn đầy nguy cơ ý thức. Người nước ngoài hiện tại muốn học những thứ cổ xưa của chúng ta, họ bắt đầu giác ngộ rồi, cho nên rất nhiều trường đại học danh tiếng trên thế giới đều mở khoa Hán học, nghiên cứu Hán học, người học tập Hán học càng ngày càng nhiều. Mục đích của họ ở đâu? Giải quyết vấn đề xã hội. Trung tâm của vấn đề xã hội là vấn đề của nhân tâm.Kinh tế, khoa học kỹ thuật không thể nào cải tạo nhân tâm. Vấn đề của tâm tánh là trung tâm của giáo dục chúng ta, là hạt nhân của giáo dục Phật Đà. Khoảng năm 70, nhà đại học vấn của nước Anh - tiến sĩ Thang Ân Tỉ hô hào với thế giới rằng: “Có thể giải quyết vấn đề của thế kỷ 21, chỉ có học thuyết của Khổng Mạnh và Phật pháp Đại Thừa”. Chân thật có kiến địa!

Tôi nghe nói, hiện tại nước Anh và Úc châu đem giáo học của Phật pháp cắm gốc từ trường mầm non. Trường mầm non, tiểu học, trung học, đại học đều phải học giáo trình Phật Kinh. Chúng ta nghe nói cảm thấy rất là kinh ngạc. Tôi ở Úc châu, đồng tu Úc châu, người địa phương thỉnh cầu tôi giúp họ biên soạn giáo trình của tiểu học và trường mầm non. Tôi nghe được thì vô cùng hoan hỉ. Trở lại Singapore, tôi yêu cầu đồng tu chúng ta cùng nhau biên soạn giáo trình này. Từ những chỗ này chúng ta có thể thấy ra được, họ xem trọng Phật pháp đến cỡ nào. Nếu như không có sự nhận biết sâu sắc đối với Phật pháp, làm sao họ có thể xem trọng? Điểm này đáng được chúng ta phản tỉnh, cũng đáng được chúng ta cảnh giác. Sau khi Phật pháp truyền đến Trung Quốc đã biến thành văn hóa của chúng ta.

Lần này tôi đến thăm viếng Bắc Kinh, sở nghiên cứu văn hóa Phật giáo Trung Quốc, sở trưởng Ngô nói với tôi, Ấn Độ bên kia yêu cầu họ đem Kinh điển của Trung văn dịch thành văn Ấn Độ để tặng cho họ, vì Phật giáo ở Ấn Độ đã thất truyền rất lâu. Sau khi tôi nghe rồi, tôi cho rằng đây là một việc tốt, việc này chúng ta phải nên làm. Thế nhưng phiên dịch quyết không phải là một việc dễ dàng, quyết định không thể nói thông đạt hai loại ngôn ngữ thì liền có thể phiên dịch. Thế Tôn ở "Kinh Hoa Nghiêm", thậm chí trong "Đại Trí Độ Luận" đều có nói đến: "Phật pháp không người giảng, tuy trí không thể biết". Công tác dịch Kinh cần phải người có tu có chứng mới có thể làm đến được, không phải là người tu hành chứng quả thì rất khó, rất khó. Thế nhưng sự việc này lại cần thiết phải làm, vậy phải nên làm bằng cách nào? Tôi nói cho họ nghe ba bước, sự việc hiện tại cần phải làm. Hiện tại dịch cái gì? Dịch trước tác diễn giảng của người hiện đại đối với Phật pháp. Cái này dễ dịch, sẽ không sanh ra sai lầm nghiêm trọng. Chúng ta cần phải có tổ chức phiên dịch, thành viên cố định. Chúng ta dùng thời gian năm năm, để nhân viên từ nơi công tác này dần dần thâm nhập Phật pháp. Cái năm năm thứ hai, chúng ta phiên dịch chú giải của người xưa, chúng ta dịch chú giải không dịch Kinh. Cái năm năm thứ ba, chúng ta lại thưởng thức dịch Kinh, hay nói cách khác, có mười năm tu dưỡng đối với Phật pháp, đương nhiên tốt nhất có thể như giáo tu hành. Sau mười năm thì chúng ta mới dịch Kinh. Nếu không có bồi dưỡng của mười năm thì dịch Kinh là việc vô cùng khó khăn. Đây là kiến nghị của tôi đối với họ. Công tác này nhất định phải làm. Không chỉ phiên dịch thành văn Ấn Độ, hy vọng Phật pháp truyền bá đến toàn thế giới, hay nói cách khác, các văn tự ngôn ngữ khác đều phải phiên dịch. Cho nên, đây là một công trình rất lớn, khiến cho tất cả chúng sanh cả thế giới đều có thể có nhận biết chính xác chúng ta là đồng một gốc sanh ra, chân như tự tánh. Sau đó tất cả chúng sanh mới có thể tôn trọng lẫn nhau, kính yêu lẫn nhau, hợp tác lẫn nhau, cùng đồng sáng tạo xã hội an định phồn vinh, đời sống hạnh phúc mỹ mãn, sẽ không có đối địch tương tranh lẫn nhau, cũng sẽ không còn chút hơn thua tính toán, vậy thì "công kiết tông thân" mới có thể chân thật tiêu trừ. Ngay chỗ này, hai câu sau cùng của Ngài nói được rất hay: "Phi kỳ chi giả thương kỳ tâm". Đây là dùng thực vật để làm thí dụ. Cái cây đó, nếu bạn chặt đứt một cái cành của nó, sẽ làm đau lòng nó.

"Phạt kỳ căn giả trảm kỳ mạch", như Phật đã nói "nhân dân ái vật". Từ ngay chỗ này chúng ta có thể thể hội được trong giới Kinh đã nói "thanh tịnh Tỳ Kheo không đạp lên cỏ non", chân thật từ bi từ ngay những chỗ này lưu xuất ra, chúng ta phải nên học tập. Cho nên, tất cả chúng sanh đều là tông thân của chúng ta, làm sao có thể "công kiết"? Cho dù họ làm sai, chúng ta phải hiểu rõ tại vì sao họ có thể làm sai. Do nhất thời mê hoặc, không phải bổn tâm của họ, không phải bổn ý của họ, mà là nhất thời mê hoặc, nhất thời hiểu lầm, họ nghĩ sai thì họ làm sai. Phải nên lượng thứ, không nên kì kèo, lâu dần họ sẽ giác ngộ, họ sẽ sám hối, họ sẽ quay đầu. Chúng ta nhẫn nại mà chờ đợi, chúng ta từ trong đó mà hỗ trợ, giúp đỡ họ giác ngộ, giúp đỡ họ quay đầu. Đây là nhân nhân quân tử, đây là một người thông tình đạt lý. Câu này tôi giảng giải đến chỗ này. Trong "Hội Biên" có rất nhiều câu chuyện, nêu ra rất nhiều thí dụ, các vị chính mình có thể xem.

Mời xem đoạn thứ bốn mươi bốn của Cảm Ứng Thiên: “Cang cường bất nhân, ngoan lệ tự dụng”.

Trong chú giải nói với chúng ta:"Khổng Tử sở thủ chi cương nghị, thị chủ ư lý giả. Thái Thượng sở giới chi cương cường, thị động ư khí giả". Đây là chúng ta trước tiên phải biện biệt rõ ràng, quyết định không nên hiểu sai ý này. Con người bị bệnh, bộ phận nhục thể tê dại thì gọi là bất nhân. Khi tê dại thì không biết đau xót, cũng giống như người say. Đây là đơn giản giải thích. Như thế nào thìgọi là "cương cường bất nhân"? Phàm hễ là loại người cương cường bất nhân, cũng chính là nói hoàn toàn là dùng ý khí làm việc, cảm tình làm việc, không nói đạo lý, tùy thuận hỉ nộ của chính mình mà đối nhân, tiếp vật. Nếu như không hợp chính mình, không những bài trừ, mà còn luôn luôn vọng kế hãm hại. Trong đây viết được rất hay, Ngài nói: "Hiếu cương sử khí chi nhân, đãi nhân ngộ vật, bất tri thống dưỡng, thuần thị sát cơ". Chúng ta bình lặng mà tư duy, chúng ta có phạm phải lỗi lầm này hay không? Không phải không nghĩ hại người, mà là không có cơ hội hại người, không có quyền bính hại người. Nếu như chính mình đương quyền, chính mình có cơ hội thì không biết là hại bao nhiêu người tốt, không biết là chướng ngại bao nhiêu việc tốt. Tại vì sao chúng ta biết chính mình có? Phiền não tập khí của chính mình chưa đoạn, khởi tâm động niệm đều là tự tư tự lợi, luôn là nghĩ đến tổn người lợi mình. Chỉ cần có cái ý niệm này tồn tại, trên Thái Thượng nói là "bội nghịch đại ác", hết thảy bảy điều này đều đầy đủ. Tuy là chúng ta không có quyền bính trong tay, không có cơ hội hãm hại người, thế nhưng có cái ý niệm này thì đáng sợ rồi.

Ý niệm thiện ác, luôn luôn ngay chính mình đều không thể nào phát hiện ra, thế nhưng thiên địa quỷ thần thấy được rõ ràng, chư Phật Bồ Tát thì càng không cần phải nói. Cho nên, một niệm thiện khởi lên thì thiên thần ủng hộ, một niệm ác khởi lên là yêu ma quỷ quái vây quanh bạn, làm trợ duyên cho bạn, thành tựu ác hạnh của bạn. Những chân tướng sự thật này quá nhiều quá nhiều, chỉ cần chú ý quán sát, đều ở chung quanh chúng ta. Xã hội hiện đại này, thiện tri thức ít, ác tri thức nhiều. Thiện tri thức thành tựu việc tốt cho người, ác tri thức giúp người làm ác. Thế nhưng,người xưa nói:“Cương cường rồi cũng có ngày gãy rụng”, đây là nói quả báo. Nếu như loại người cương cường bất nhân này bị qua mấy lần thiệt thòi, nhận qua các thứ giày vò, diệm khí của họ dần dần hạ thấp, dần dần biết quay đầu, đó là đại hạnh ngay trong bất hạnh, có thể miễn đọa ba đường.

Ngài ở chỗ này nêu ra một thí dụ, Bao Công triều Tống, mọi người đều biết, Bao Công con người này cương cường, thế nhưng ông rõ lý(đây là Phu Tử đã nói). Ông phán đoán án kiện hình sự. Nếu như có người bẩm báo với ông, thỉnh cầu với ông, ông luôn luôn là mắng ngay mặt, thế nhưng nếu có người nóiđạo lývới ông, nóira rất có đạo lý, ông cũng hoan hỉ tiếp nhận. Ông không phải là người không nói lý. Ông là người không nói đến tình, là người rõ ràng đạo lý, cho nên mọi người bội phục đối với ông, tôn trọng đối với ông. Đây là một người cương cường rõ lý, cho nên ông có trí tuệ có thể phá án, đây gọi là "nhân giả chi dũng dã". Thế nhưng ngày nay, người rõ lý thì không nhiều, lý mà họ hiểu là “tự cho là đúng, đó là lý”. Tại vì sao có thể rơi vào cái bước này? Vẫn là một câu nói cũ, "lỗi là do không đọc sách Thánh Hiền". Sách Thánh Hiền quá nhiều. Nhà Nho, ít thì như "NgũKinh", "Thập Tam Kinh", cònKinh điển của nhà Phật, chân thật là mênh mông như biển cả. Từ nhỏ không học, hiện tại muốn học thì không còn kịp. Cho nên, làm việc ở thế gian, làm thế nào để chính mình có năng lực biết rõ phải quấy, biết rõ tà chánh, chân vọng, thiện ác, lợi hại. Chỉ cần bạn có năng lực phân biệt, đây là chân trí tuệ, đây chính là học vấn chân thật. Thế nhưng không đọc Kinh, không đọc sử thì trí tuệ của bạn từ đâu mà có? Đại Sư Ấn Quang từ bi, Đại Sư Ngài tường tận, hiện tại khuyên người thế gian đi đọc Kinh, đọc sử thì không thể nào được, họ không làm được, cho nên Ngài đưa là biệt phương cứu mạng, cứu vãn thế giới ngày nay. Ngài chọn ra ba quyển sách là “Liễu Phàm Tứ Huấn”, “Cảm Ứng Thiên Hội Biên”, “An Sĩ Toàn Thư”. Ba quyển sách này có thể giúp chúng ta thu được năng lực biện biệt tà chánh, phải quấy, lợi hại. Đại Sư cả đời cực lực đề xướng,đã lưu thông số lượng lớn ba loại sách này, mục đích là cứu vãn kiếp nạn toàn thế giới trước mắt chúng ta. Mấy người có thể biết được nỗi khổ tâm của Đại Sư chứ?

Vào năm 1977, lần thứ nhất tôi tiếp nhận lời mời của đồng tu HongKong, đến nơi đó để giảng "Kinh Lăng Nghiêm". Lần đó tôi đã ở HongKong bốn tháng. Hai tháng đầu tôi ở trong Thư Viện Phật Giáo Trung Hoa, xem thấy thư viện cất giữKinh sách Hoằng Hóa Xã đã lưu thông của Đại Sư Ấn Quang. Tôi xem thấy từ trong tờ bản quyền, Đại Sư cả đời đem ba loại sách này ấn hành lưu thông không dưới ba trăm vạn cuốn. Ngay lúc đó tôi cảm thấy rất kinh ngạc, Đại Sư là Nhất Đại Tổ Sư Tịnh Tông của nhà Phật, đối với Kinh luận Phật giáo, tại vì sao không ra sức đề xướng, mà lại đem ba loại sách này in ra số lượng lớn đến như vậy? Tôi bình lặng tư duy, càng nghĩ càng có đạo lý, Kinh luận hay, nhưng không đến kịp, không cách gì cứu cấp, nhất là không tin tưởng Phật giáo, tín đồ thế giới tin tưởng các tôn giáo khác, có hoài nghi, có bài xích đối với Phật giáo, vậy thì ba loại sách này không phải Phật giáo, có thể siêu vượt giới hạn của tôn giáo, khiến cho tất cả chúng sanh đều có thể thọ trì. Đây là phương tiện khéo léo, mục đích chính là cứu vãn chúng sanh lần đại kiếp nạn này ngay trước mắt.

Thiên tai nhân họa, làm sao đem sự việc này làm được tốt, làmcó hiệu quả? Then chốt chính là có phương pháp hay không,để khiến tất cả chúng sanh tỉnh ngộ ra, không còn mê hoặc, không còn điên đảo, chính là vừa rồi đã nói, có năng lực phân biệt chân vọng, có năng lực phân biệt tà chánh, phân biệt phải quấy, phân biệt thiện ác, phân biệt lợi hại. Chỉ cần họ có được năng lực này thì kiếp nạn này liền được cứu. Ấn Tổ vào thời đại đó, kỹ thuật in ấn vào thời đó, lưu thông với số lượng lớn đến như vậy. Thế nhưng ở trong tầm nhìn của người hiện tại, số lượng đó vẫn là quá ít, nếu lấy Trung Quốc mà nói, hiện tại nhân khẩu chúng ta đến một tỉ ba, có thể sắp đến một tỉ tư, thì ba trăm vạn có thắm vào đâu, nhất là một số điển tích này đều là lưu thông vào nửa thế kỷ về trước. Sau nửa thế kỷ này có thể lưu lại, còn có thể thừa ra lại, tôi thấy nhiều nhất chỉ có một phần mười. Cho nên, chúng ta hiểu rõ đạo lý này thì chúng ta phải tiếp tục làm, phải lưu thông số lượng lớn. Nửa thế kỷ trước, người đi học còn có thể đọc văn ngôn văn. Người hiện tại xem thấy Ấn Tổ lưu thông những điển tích này, ở trên văn tự liền sanh ra chướng ngại. Đây là hiện tượng rất đau lòng. Thế là chúng ta phải dùng khẩu ngữ để giảng giải. Hiện tại chúng ta lưu thông băng ghi hình, băng ghi âm, đĩa CD để mọi người có cơ hội nghe.

Trên hội Lăng Nghiêm, Bồ Tát Văn Thù nói rất hay: "Thử phương chân giáo thể, thanh tịnh tại âm văn". Chúng sanh Thế giới Ta Bà, nhĩ căn nhạy bén. Chúng ta ngày nay muốn cứu kiếp nạn này thì phải từ căn bản mà bắt tay vào. Căn bản chính là làm thế nào khiến tất cả chúng sanh hồi tâm chuyển ý, ở trên tâm lý làm một đại chuyển biến thì kiếp nạn mới có thể hóa trừ. Đạo lý này, Phật ở trên Kinh điển nói được rất thấu triệt. Trên Đại Kinh thường nói: "Tất cả pháp từ tâm tưởng sanh". Câu nói này chính là trên "Kinh Hoa Nghiêm" đã nói "duy tâm sở hiện, duy thức sở biến". Tất cả pháp "duy tâm sở hiện, duy thức sở biến". Tâm tưởng sanh, tâm chính là năng hiện. Tưởng chính là thức, năng biến. Chúng ta thấy, hiện tại đại chúng xã hội, cái họ nghĩ là gì, họ nhớ đến là gì, họ nói ra là gì và họ làm ra là cái gì? Nếu như tất cả việc này đều là bất thiện, thì cảm ứng chính là thiên tai nhân họa. Nếu như cái nhớ, cái nghĩ, lời nói, việc làm đều là thiện, đó chính là Thế giới Cực Lạc, chính là Thế giới Hoa Tạng. Việc này cần phải dạy, cho nên chư Phật Bồ Tát thị hiện ở thế gian đều là dùng thân phận của sư đạo để xuất hiện. Thích Ca Mâu Ni Phật, dùng lời hiện tại để nói, Ngài thị hiện ra là người làm công tác giáo dục xã hội đa nguyên văn hóa. Khổng Lão Phu Tử thị hiện ra cũng là thân phận này. Chỉ có thân phận này mới có thể cứu người, mới có thể cứu đời.

Chúng ta phải hiểu được, tâm thiện thì hiện hảo tướng, ý thiện thì biến ra cảnh giới tốt, hành thiện thì tự lợi lợi tha. Người có đầy đủ ba cái thiện này, tiền đồ là một mảng quang minh, cho dù hiện tiền chịu những khổ nạn, nhưng đó là việc nhỏ, nhân sanh có là bao? Thời gian rất là ngắn ngủi! Phật dạy chúng ta tu nhẫn nhục Ba La Mật, mấy mươi năm nóng lạnh này, mấy mươi năm giày vò này. Ai giày vò chúng ta vậy? Một số chúng sanh ngu si, mê muội, điên đảo, họ không hiểu lý. Phật Bồ Tát dùng thiện tâm, tâm thuần thiện, hạnh thuần lợi đối với họ, họ còn muốn ô nhục Phật Bồ Tát, còn muốn hãm hại Phật Bồ Tát, Phật Bồ Tát không hề thoái tâm, Phật Bồ Tát không hề cúi đầu bỏ đi. Đây là Phật Bồ Tát làm ra tấm gương cho chúng ta, làm mô phạm cho chúng ta. Chư Phật Bồ Tát mà còn như vậy, chúng ta có tính vào đâu? Chịu một chút giày vò, chịu một chút tổn hại, đây là việc quá bình thường.Thời gian mấy mươi năm này đi qua rồi, chúng ta có chỗ tốt để đi. Cho nên, không nên bỏ rơi chúng sanh khổ nạn. Chúng sanh càng khổ, càng là ngu si, càng là ngu muội, chúng ta càng phải thương xót họ, càng phải giúp đỡ họ. Không nên bởi vì tâm hạnh của họ bất thiện, không ác nào không làm, mà liền xả bỏ, không quan tâm đến, vậy đây không phải là người nhân từ, đây cũng là người bất hiếu.Người mà bất hiếu, bất kính, bất nhân, bất nghĩa thì làm sao có thể học Phật, làm sao có thể thành Phật?Cho nên, chúng ta cùng với người đời, không thể nào cùng một tri kiến.Không luận họ dùng thái độ gì đối với chúng ta, chúng ta nhất định phải giữ lấy nguyên tắc, chúng ta phải dùng tâm chân thành đối đãi họ, dùng tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm trí tuệ, tâm từ bi để đối đãi tất cả chúng sanh, là chúng ta hành Bồ Tát đạo.Phải tu nhẫn nhục Ba La Mật, phải tu lục độ vạn hạnh, thời gian dài để cảm hóa những chúng sanh này.Họ có Phật tánh, họ sẽ quay đầu, chỉ nhất thời mê hoặc mà thôi. Cho nên, chính mình phải phản tỉnh, chính mình phải hành đạo. Chỉ có chính mình không đọa lạc mới có thể cứu giúp chúng sanh khổ nạn.

 Ý nghĩa của hai câu này vẫn chưa giảng xong. Hôm nay thời gian hết rồi, ngày mai chúng ta giảng tiếp.

A Di Đà Phật.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 37


Hôm nayHôm nay : 3480

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 240212

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9364698

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?