Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Thái thượng cảm ứng thiên

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (Tập 56)

Thứ bảy - 20/12/2014 08:23

Chào chư vị đồng tu, chào mọi người.

Hôm qua tôi đã nói, Phật ở trong Kinh dạy chúng ta làm sao chung sống với bạn bè. Phật đã nói năm điều, chúng ta cần phải nhớ kỹ, phải chăm chỉ nỗ lực mà tu học. Đặc biệt là chư vị đồng học hôm nay ở lớp huấn luyện bồi dưỡng. Chúng ta vừa là đồng học vừa là bạn bè, cho nên quan hệ vô cùng mật thiết, là đồng học, đồng chí. Ở trong Kinh giáo nhất định phải học hỏi, trao đổi lẫn nhau, phải cần mẫn nghiên cứu thảo luận, để đôi bên đều được tiến bộ và có thể làm lợi ích chúng sanh.

Hôm qua tôi nghe Thường Phổ giảng Kinh, thầy giảng đến “tứ duyên”, cách giảng có vấn đề. Phật ở trong Kinh giảng bốn loại duyên này là “thân nhân duyên, sở duyên duyên, vô gián duyên, tăng thượng duyên”, ý nghĩa này chúng ta nhất định phải đem nó phân biệt cho rõ ràng. “Thân nhân duyên”, tất cả chúng sanh mỗi người đều có đầy đủ viên mãn, nghiệp nhân của thập pháp giới đều có đầy đủ. Hiện tượng y chánh trang nghiêm ở trong mười pháp giới, đây là “sở duyên duyên”. Chúng ta ngày nay tại sao lại có hiện tượng đời sống này? Tại sao mười pháp giới không giống nhau, dùng cách nói hiện nay của nhà khoa học để nói, tại sao lại có rất nhiều chiều không gian như thế? Đó là do sở duyên duyên khác nhau. Sở duyên duyên vô cùng phức tạp, chúng ta chỉ nói điều quan trọng nhất, đó chính là phan duyên. Sở duyên duyên chính là phan duyên. Ở trong phan duyên là đã bao gồm vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, đây đều là thuộc về sở duyên duyên. Có sở duyên duyên thì liền hiện tướng ngay. Tướng mà chúng ta ngày nay hiện là tướng gì, thì biết sở duyên duyên của mình là gì. Phật và Pháp Thân Đại Sĩ, tướng sở duyên của các Ngài là Nhất Chân Pháp Giới. Tướng mà chúng ta sở duyên là thập pháp giới, là lục đạo trong thập pháp giới. Cõi người và ba đường ác ở trong lục đạo, đây là sở duyên duyên của chúng ta. Cái hiện tượng trước mắt, đây là cõi người. Ở trong cõi người lại có mười pháp giới, chúng ta duyên cái gì ở trong đây? Duyên tham sân si, tự nhiên trở thành như vậy, một mảy may miễn cưỡng cũng không có, từng giây từng phút, mọi lúc mọi nơi, khởi tâm động niệm đều là tham sân si, đều là nhân ngã thị phi. Tham sân si mạn là ở trong pháp giới người, duyên bốn pháp giới phía dưới. Tại sao hiện tượng này lại nối tiếp nhau trong một thời gian vậy? Đây là “vô gián duyên”. Cái ý nghĩ này của chúng ta, ý nghĩ sau nối tiếp ý nghĩ trước, duy trì cái cảnh giới tương tự, đây gọi là vô gián. Nếu như vô gián duyên không còn thì cảnh giới lập tức sẽ chuyển biến. Người đến khi lâm chung, trút một hơi cuối cùng là “vô gián duyên” hết rồi. Giai đoạn “vô gián duyên” này hết rồi thì một giai đoạn “vô gián duyên” khác sinh khởi lên, lục đạo luân hồi là như vậy. Cho nên, ba loại duyên này, bản thân đều có đầy đủ, không liên quan gì với cảnh giới bên ngoài. Bạn phải chú ý đến điểm này.

Chúng ta học Phật, sự việc tốt này ở trong pháp giới người, chúng ta duyên pháp giới Phật, sức của cái duyên này phải mạnh, phải vượt qua tập khí phiền não của mình thì cái duyên này của chúng ta sẽ không bị gián đoạn. Phật Bồ Tát từ bi gia trì cho chúng ta, môi trường tu học tất cả thuộc về “tăng thượng duyên”. Chúng ta gặp được Phật pháp là tăng thượng duyên, gặp được thiện tri thức là tăng thượng duyên, gặp được môi trường tu học tốt là tăng thượng duyên, có đồng tham đạo hữu tốt cũng là tăng thượng duyên, đây không thuộc về cái mà trong nội tâm của mình đầy đủ. Tất cả cái bên ngoài, toàn bộ là tăng thượng duyên, điều này chúng ta phải phân biệt rõ ràng. Ba loại duyên phía trước này là cái mà bản thân chúng ta có đủ. Cái không thuộc về tự thân có đủ thì toàn là tăng thượng duyên, đều là cái bên ngoài. Các bạn có nghi vấn thì phải hỏi, nhất định phải biện biệt nó rõ ràng, không được hiểu sai, càng không được giảng sai.

Người biết dụng công và người không biết dụng công có khác biệt nhau rất xa. Người biết dụng công, ở trong một đời nhất định thành đạo vô thượng. Hôm qua tôi nhìn thấy các bạn có in một trang giấy “sống trong thế giới cảm ân”, in rất đẹp. Chúng ta mỗi ngày đọc một chút, mỗi ngày xem một chút, rất có ích đối với việc tu học của mình. Người ở thế gian thường nói: “Làm việc đã khó, làm người càng khó hơn”, nhất là xã hội hiện nay. Người bình thường thiếu đi lời dạy của Thánh Hiền, thuận theo tập khí vô minh phiền não của mình, người như vậy rất khó chung sống, thường xuyên nổi giận với chúng ta. Người biết tu hành thì thấy đây là việc tốt, những người này giúp chúng ta, đây là tăng thượng duyên, thành tựu nhẫn nhục Ba La Mật cho chúng ta. Phật ở trong “Kinh Kim Cang” nói: “Tất cả pháp thành tựu từ nhẫn”, bạn có thể buông xả, có thể giữ nề nếp, có thể nhẫn nhục, đảm bảo bạn một đời này thành công. Bạn không thể nhẫn thì chắc chắn bạn thất bại. Tôi là một người học giảng Kinh, tôi hiểu rõ những đạo lý này.

Trước đây tôi ở Đài Trung, dưới hội của lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam, tôi đã học 10 năm. Thầy dạy tôi, đối xử với tôi thật sự là người có trí tuệ cao độ, lúc nào cũng đè tôi xuống phía dưới. Đài Trung Từ Quang “Đại Chuyên Phật Học Giảng Tọa”, tôi phát khởi. Đề tài buổi giảng, Lý lão sư bảo tôi đến căn phòng của thầy để hỏi ý kiến của tôi, chẳng khác gì nói là “chúng ta cùng nhau đặt ra”. Mời những vị thầy nào đến dạy, Lý lão sư đều bàn bạc với tôi. Nhưng khi “Đại Chuyên Giảng Tọa” khai giảng thì thầy không có xếp tôi vào. Tôi làm tạp vụ ở trong đây, hay nói cách khác, không cho tôi có cơ hội biểu hiện. Đây là việc tốt, tôi hiểu rất rõ. Nếu như có cơ hội biểu hiện, bạn biểu hiện tốt thì sẽ khiến người ta đố kỵ, biểu hiện không tốt thì người ta sẽ châm biếm, phỉ báng. Thật khó! Mặc dù sống ở Đài Trung như vậy, nhưng sống cũng hoàn toàn không thật dễ dàng. Trong tâm tôi biết rất rõ, nhất định không được phạm một chút sai lầm. Nếu như bạn phạm sai lầm thì bạn sẽ bị khai trừ, bạn sẽ phải xa lìa môi trường này, cơ hội học tập không còn nữa. Chú tâm cẩn thận, 10 năm như một ngày, không nhẫn làm sao được? Không dám đắc tội với một người nào, chung sống với người nói năng nhỏ nhẹ. Thầy Ngộ Uy muốn học giảng Kinh. Tôi đưa thầy đến Úc Châu. Thầy giảng ở Úc Châu rất tốt, mọi người đều rất tán thán, nào ngờ đã cãi vả với người ta; khi vừa cãi thì liền ra đi, người ta khai trừ thầy, không cần thầy nữa. Đây đúng là không biết chuyện! Nếu người ta mắng bạn thì phải rửa tai lắng nghe, nếu người ta đánh bạn thì hãy mau quỳ xuống để cho họ đánh. Chúng ta học Phật chỉ có như vậy. Người ta muốn đánh thì ngoan ngoãn quỳ xuống đất để họ đánh, đợi họ đánh đủ rồi, không đánh nữa thì lại đứng lên. Bị mắng, không mắng lại; bị đánh, không đánh lại, nếu không thì việc học Phật này của bạn đi đến đâu được? Chúng ta tiếp nhận sự lăng nhục của người khác, bản thân chúng ta nhất định không dám dùng ác ý đối đãi với người khác. Chịu oan để cầu toàn, đây là lễ mà nhà Nho nói. Tinh thần của lễ chính là chịu oan để cầu toàn. Cho nên, các bạn thấy trong “Lễ Ký”, triển khai thiên thứ nhất là “Khúc Lễ”. “Khúc” là oan ức, đổ oan cho mình. Đây là hiểu được lễ. Lễ là mình phải biết, không phải dạy người khác. Chúng ta dùng lễ để đối đãi với người, tuyệt đối không mong người khác dùng lễ để đối đãi chúng ta, tâm của bạn sẽ an ngay, bình ngay. Ta dùng lễ đối đãi người và cũng yêu cầu người dùng lễ đối đãi ta, điều này khó, quá khó! Tại sao vậy? Họ chưa được học, không thể trách họ. Trong “Kinh Vô Lượng Thọ”, Phật cũng nói rất rõ ràng, “tiên nhân bất thiện”. Không có dạy họ, bạn làm sao có thể trách họ được? Cha mẹ họ không dạy họ, thầy họ không dạy họ, bản thân lại không chịu học nghiêm túc, họ sao có thể hiểu được? Cho nên, mọi hành vi tạo tác của họ, thuận theo tập khí phiền não của họ là chuyện bình thường, phải biết đó là người phàm. Người tu hành chung sống với người không tu hành thì người tu hành phải chịu thiệt thòi, phải nhường nhịn. Điều này mới biểu hiện bạn là tu hành. Bạn không nhường nhịn được, cũng vẫn nghĩ muốn trả thù giống như họ. Hoặc là không trả thù họ, mà xa rời họ, “ta tránh đi là tốt rồi”. Đây đều là không phải thái độ của người tu hành. Bạn là người tu hành chân chánh thì bạn phải cảm hóa họ trong thời gian dài. Họ đối với ta xấu hơn nữa, ta vẫn một mực đối với họ tốt. Mọi người đều có lương tri, đều có Phật tánh, đều có lương tâm, chẳng qua là tập khí phiền não quá nặng, cho nên họ cần thời gian tương đối dài mới có thể quay đầu. Người phiền não nhẹ thì quay đầu nhanh, người phiền não nặng thì quay đầu chậm.

Phật Bồ Tát đối với chúng ta có tâm nhẫn nại, đời đời kiếp kiếp cũng không từ bỏ. Đây là chỗ chúng ta phải học tập. Cho nên tất cả phải nghĩ vì Phật pháp, phải vì hạnh phúc của chúng sanh mà suy nghĩ. Bản thân chúng ta có thể oan ức một chút, thay Phật làm thêm một chút việc. Đây là công đức chân thật. Chúng ta thử nghĩ, thế gian có mấy người ở trong một đời có thể vì Phật pháp mà phục vụ, có thể vì tất cả chúng sanh mà phục vụ. Cái cơ hội này quá ít, quá hiếm có. Gặp được cơ hội này, có người đến chướng ngại bạn, đến kiếm chuyện với bạn, khiến bạn thoái tâm, đó là ma chướng hiện tiền. Gặp ma chướng, bạn cần phải có năng lực khắc phục. Phương pháp khắc phục duy nhất là nhẫn nhục Ba La Mật, cho nên cần phải buông xả kiêu mạn của mình, buông xả tập khí của mình, tùy thuận chúng sanh. Ở trong tùy thuận chúng sanh, thành tựu sáu Ba Ba Mật của mình, đó gọi là công đức. Tùy hỷ công đức là tu như vậy. Cho nên, người biết tu thì cảnh giới bên ngoài đều là tăng thượng duyên tốt. Người không biết tu hành, cảnh giới bên ngoài đều là tăng thượng duyên nghịch, đều khiến bạn sinh phiền não, đều khiến bạn tức giận, đều khiến bạn thoái chuyển. Từ đó cho thấy, cảnh giới bên ngoài không có tốt xấu.

Một bài văn nhỏ tôi in ở đây, “Ngẫu Ích Đại Sư Pháp Ngữ” nói hay: “Cảnh duyên không tốt xấu”, cảnh là hoàn cảnh vật chất, duyên là môi trường nhân sự, không có thiện ác, không có tốt xấu. Tốt xấu là khởi từ tâm của mình. Tâm của mình khởi một niệm thiện, thì bên ngoài mỗi người đều thiện, mỗi sự mỗi vật đều thiện, không có gì là không thiện, đều là giúp đỡ ta. Cảnh giới thuận nghịch đều là giúp đỡ ta tu nhẫn nhục Ba La Mật. Ở trong thuận cảnh thì không tham, nghịch cảnh thì không sân. Thuận cảnh, nghịch cảnh, người thiện, người ác hiện tiền, biết rất rõ ràng, biết rất minh bạch, không ngu si. Có cảnh giới nào không phải tăng thượng duyên tốt? Chỉ xem chúng ta có thể chuyển một niệm này trở lại được không? Đây là quan trọng hơn hết. Bản thân chúng ta đời này có thể thành tựu hay không, mấu chốt là ở chỗ này. Phải học cái gì cũng có thể nhẫn được. Nói lời thành thật, rơi vào nghịch cảnh nghịch duyên đã khó, mà rơi vào thuận cảnh thiện duyên càng khó hơn. Ở trong thuận cảnh thiện duyên không có một mảy may tâm tham ái, khó hơn nhiều so với rơi vào nghịch cảnh. Cho nên, người Tiểu Thừa học từ trong nghịch cảnh, học ở trong khổ hạnh. Bồ Tát Đại Thừa học từ trong thuận cảnh. Trước tiên từ nghịch cảnh chuyển thân để tu lại thuận cảnh. Thuận - nghịch, hai bên đều không dính nhiễm nữa thì bạn mới có thể vượt thoát mười pháp giới. Phật ở trong Kinh nói đạo lý này rất rõ ràng, rất minh bạch. Hơn nữa Bồ Tát làm mẫu cho chúng ta thấy. Tôn giả Ca Diếp tu khổ hạnh, Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện tu khổ hạnh, dạy người sơ học. Chỗ mà Thiện Tài Đồng Tử thị hiện là thuận cảnh, là Bồ Tát Đại Thừa. Ở trong thiện duyên thuận cảnh như như bất động, cái mà Tông môn gọi là “đi qua một rừng hoa, không chạm một chiếc lá”, cái tâm này của Bồ Tát Đại Thừa mới thật sự đến thanh tịnh, cảnh giới thuận nghịch hiện tiền, không có gì là không thanh tịnh bình đẳng.

Bản thân chúng ta thành công rồi, là người có duyên. Sao gọi là người có duyên? Người chịu nghe, chịu tin, hiểu được, hành được là người có duyên. Người có duyên thì nhất định phải giúp đỡ họ. Người không có duyên thì sao? Không có duyên thì trong tâm thường xuyên quan tâm, cứ từ từ, đến khi nào chịu quay đầu thì đến lúc đó giúp đỡ họ. Tin được, hiểu được, hành được, đó gọi là quay đầu. Ba điều kiện này không đầy đủ, là hiện tại thời tiết nhân duyên chưa chín muồi. Từ từ đợi, chư Phật Bồ Tát có tính vô cùng nhẫn nại, đợi vô lượng kiếp cũng không sao cả. Cho nên, mọi việc không thể vội vàng gấp gáp, nhất định phải nhận rõ thời tiết nhân duyên. Thời tiết nhân duyên chưa chín muồi, miễn cưỡng không được. Miễn cưỡng trái lại còn trì hoãn cái nhân duyên này thêm mà thôi. Thật sự có tâm từ bi, nhất định biết cái gì gọi là hằng thuận chúng sanh, tu tùy hỷ công đức như thế nào. Cho nên đồng học ở chung với nhau phải học hỏi lẫn nhau, phải tham vấn lẫn nhau. Ý nghĩa bất sanh bất diệt này, hôm qua cũng chưa giảng rõ ràng, còn phải hạ công phu. Cái này chúng tôi ở trong các buổi giảng thường nói là “nghe nhiều, nghiên cứu nhiều”, các đồng học cùng nhau thảo luận nhiều, làm nhiều nghiên cứu thảo luận.

Động đất lớn ở Đài Loan, từ hôm qua đến sáng hôm nay đã đăng tin rất nhiều. Mọi người đều biết đây là một trận tai nạn rất lớn, mỗi người nghe thấy đều vô cùng hoang mang sợ hãi. Giống ở phương tây Thổ Nhĩ Kỳ cũng xảy ra tai nạn như vậy, gần như cùng một thời gian. Số người tử vong còn nhiều hơn rất nhiều lần so với Đài Loan. Những chỗ này khiến chúng ta cảm thận thật sâu sắc, Phật ở trong Kinh nói cho chúng ta biết “mạng người vô thường, quốc độ dễ vỡ”. Động đất thời gian chỉ có mấy phút, chúng ta nhìn thấy những tin tức rất thê thảm, có rất nhiều gia đình cả nhà đều tử vong chỉ trong thời gian mấy phút. Giống tai nạn như thế này, có thể là vừa mới bắt đầu. Trước đây chúng tôi có xem qua một văn kiện của Thiên Chúa Giáo, văn kiện mà họ lưu hành trong nội bộ về dự đoán tai nạn, dự đoán động đất lớn toàn cầu xảy ra liên tục trong 24 giờ. Thời gian chỉ mấy phút mà đã tạo thành tai nạn lớn như thế này, nếu động đất lớn 24 giờ, có thể toàn bộ thế giới đều bị hủy diệt cả. Chúng ta sinh vào thời đại này, cần phải có tâm cảnh giác cao độ.

Làm sao xử trí ổn thỏa tốt đẹp nhất đây? Nhất định phải tuân thủ lời dạy của Phật, y giáo phụng hành, từ bên trong nội tâm đoạn tất cả ác, tu tất cả thiện, không nên dính tướng. Sống chết không đáng sợ, cái đáng sợ là sau khi chết rồi sẽ đi về đâu. Phật ở trong Kinh điển đem tình trạng của vũ trụ nhân sinh giảng cho chúng ta vô cùng thấu triệt, vô cùng sáng tỏ. Tai nạn từ đâu mà ra vậy? Do nghiệp lực chiêu cảm. Chúng tôi ở trong các buổi giảng thường hay nhắc nhở; tâm tham cảm được là nạn nước. Trong rất nhiều lời tiên đoán, dự đoán, tương lai nước biển sẽ dâng cao, băng ở Nam - Bắc cực bị tan chảy, nước biển sẽ dâng cao 50 mét, toàn thế giới khu vực ven biển thảy đều bị nhấn chìm. Phật nói cho chúng ta biết, đó là do tâm tham tạo thành. Nạn lửa là do sân hận tạo thành. Tâm địa chúng ta đều là lửa. Tâm địa của người Thế giới Cực Lạc là lưu ly, là mát mẻ. Vậy liền thấy ra hai cái thế giới không như nhau. Tại sao tâm địa của người Thế giới Cực Lạc là mát mẻ vậy? Tâm người bên đó không có tham sân si. Tâm người Thế giới Cực Lạc là giới định tuệ. Tâm người trên thế giới này của chúng ta là tham sân si, cho nên cảm được hoàn cảnh y báo là lửa. Núi lửa bùng phát, lớp vỏ cứng bề mặt trái đất di động, tạo thành tai nạn lớn cho toàn thế giới, lửa ở trong đất phun ra bên ngoài. Ngu si là cảm được nạn gió. Ở trong tâm chúng ta bất bình, bất bình là cảm được động đất. Phật ở trong Kinh nói cho chúng ta biết, nguyên nhân căn bản của tai nạn từ đâu mà ra. Đây là điểm mà ngày nay nhà khoa học vẫn chưa có nghiên cứu đến. Khoa học chỉ giới hạn trong hiện tượng vật chất, không có nghiên cứu hiện tượng của tâm lý.

Vật chất do đâu mà có vậy? Là từ trong tâm biến hiện ra. Nhà Phật tông pháp tướng duy thức nói về điều này vô cùng thấu triệt. Bất kỳ một người nào, bất kỳ một động vật nào, mạng sống cũng là liên kết thành một thể với hư không pháp giới tất cả chúng sanh, liên quan mật thiết. Cho nên sống chết không đáng sợ, cho dù chúng ta không may gặp phải tai nạn, tâm nhất định phải định, tuyệt đối không được hoảng loạn, vào lúc này là bước ngoặc quan trọng nhất, câu “A Di Đà Phật” không được quên. Có thể ở trong khoảng một sát-na này, bạn không quên Phật hiệu, bạn không hề sợ hãi, bạn nhất định được sanh Tịnh Độ. Đây là sự lựa chọn hàng đầu, sự lựa chọn thù thắng nhất, chúng ta phải biết. Ở trong tâm nếu có sự chuẩn bị này, trong mười pháp giới, chúng ta chọn pháp giới Phật. Cho nên thế pháp tuyệt đối không được có mảy may tham luyến. Chúng tôi ở trong các buổi giảng thường xuyên kính khuyên mọi người, phải làm người tốt thì mới có thể làm Phật, làm người ác là không tương ưng rồi. Người ác là tương ưng với ba đường ác. Người tốt bắt đầu làm từ đâu vậy? Phải buông xả tự tư tự lợi, phải buông xả ái dục, phải buông xả thị dục (thị là thị hiếu), phải buông xả ý niệm khống chế đối với tất cả người, sự vật. Ý niệm còn không có thì bạn chắc chắn sẽ không có hành vi rồi. Ý niệm là mê hoặc, hành vi là tạo nghiệp. Nhất định phải buông xả hành vi chiếm hữu đối với tất cả người, sự vật thì chúng ta vãng sanh Tịnh Độ thuận buồm xuôi gió, một mảy may chướng ngại cũng không có.

Tất cả mọi tội nghiệp, chúng ta thấy trong “Cảm ứng Thiên” giảng về ác báo nhiều như vậy, đây là nêu ví dụ thuyết minh. Chúng ta học rồi, suy nghĩ kỹ một chút, điều nào chúng ta không có phạm? Phạm lỗi lầm cực nặng rồi mà tự mình thật sự không biết, đây gọi là mê hoặc điên đảo, đây gọi là ngu si. Cho nên chúng ta đoạn ác tu thiện, sửa chữa lỗi lầm, nhất định phải bắt đầu làm từ không lừa mình, không dối người. Trong “Kinh Kim Cang Bát Nhã” nói với chúng ta: “Tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bèo bọt, như sương, như điện chớp”. Phật và đại Bồ Tát nhìn thấy chân tướng sự thật, cho nên tâm địa các Ngài thanh tịnh, không mảy may dính nhiễm. Đây là điểm chúng ta cần phải học tập.

Đời sống thường ngày đối nhân xử thế tiếp vật, chỉ có một cái tâm thuần thiện, thuần là cái tâm lợi ích tất cả chúng sanh, thuần là hành vi lợi ích tất cả chúng sanh, tuyệt đối không cầu lợi ích cho bản thân. Nếu cầu lợi ích cho bản thân chính là tội lỗi. Những ác hạnh này tại sao chúng ta thảy đều có vậy? Ý nghĩ lợi ích bản thân chưa có buông xả, cho nên gặp phải tai nạn, họ sẽ hoảng loạn, họ mong được sống, ý nghĩ tham sống sợ chết lập tức liền khởi lên. Bình thường niệm Phật, phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ, đến thời khắc này thì quên sạch, bị hoảng loạn sợ hãi lấn áp rồi, Phật biến mất rồi. Công phu bình thường phải được rèn luyện là ngay trong đời sống thường ngày, đến khi nào đem ý nghĩ tự tư tự lợi đoạn hết, thật sự buông xả rồi thì đạo Bồ Đề của bạn liền thành tựu. Nếu như không buông được, tất nhiên là trong vô tình đều làm những việc tổn người, không lợi mình. Người bình thường hiểu lầm là tổn người sẽ có lợi cho mình, điều này chắc chắn là sai lầm. Tổn hại người khác, mà bản thân là được một chút lợi trước mắt, nhưng quả báo không thể tưởng tượng. Nhân duyên quả báo, đây là định luật của thế xuất thế gian. Cho nên, nhà Phật lại nói: “Vạn pháp giai không, nhân quả bất không”. Bạn tạo nhân gì, bạn sẽ được quả báo như thế ấy. Nhân quả thông ba đời, có hiện báo, có sanh báo, có hậu báo. Sanh báo là quả báo của đời sau, hậu báo là đời thứ ba trở về sau. Trong Kinh Phật nói rất rõ ràng: “Giả sử bách thiên kiếp, sở tác nghiệp bất vong, nhân duyên tụ hội thời, quả báo hoàn tự thọ”. Hiểu rõ chân tướng sự thật này, chúng ta mới biết thật sự phát tâm đoạn ác tu thiện. Không những là không có hành vi tổn hại người khác, mà ý nghĩ hại người cũng không có, thì tâm này mới thanh tịnh, mới chân thật là người thiện, người tu hành chân chánh.

Người chân tu hành, không có người biết bạn, cũng không có người tán thán bạn, nhưng Phật Bồ Tát biết, quỷ thần biết, nhất định được Phật Bồ Tát hộ niệm. Những thiện thần hộ pháp này sẽ giúp đỡ bạn, phù hộ bạn, bạn chắc chắn có thể tránh khỏi tai nạn. Người tu hành chân chánh, ở trong tâm không có cầu tránh khỏi tai nạn. Tại sao không cầu vậy? Đây là vọng tưởng, đây là tạp niệm. Ở trong nhất tâm niệm Phật còn có cầu tránh khỏi tai nạn, vậy là không chuyên tâm, là xen tạp rồi, công phu không thuần. Có cầu chính là phan duyên, vô cầu là tùy duyên. Tai nạn đến rồi, có thể tránh khỏi hay không, chú ý đến những việc đó làm gì? Không thể tránh khỏi thì tự mình thành tựu rồi. Có thể tránh khỏi thì giúp đỡ chúng sanh khổ nạn, quyết không phải vì bản thân. Vì bản thân mà mong cầu tránh tai nạn, đó là tâm luân hồi, không thể thoát khỏi quả báo luân hồi. Có thể may mắn tránh được, cái thân thể này vẫn còn thì phải lợi dụng thân thể này giúp đỡ người khác, không phải vì mình. Sống chết đều là vì chúng sanh, vãng sanh Thế giới Tây Phương Cực Lạc cũng là vì chúng sanh. Đi đến đó để làm gì vậy? Là để thành Phật. Thành Phật để làm gì? Phổ độ pháp giới chúng sanh. Tất cả đều là vì chúng sanh, không hề nghĩ vì mình. Bản thân sống chết hay tai nạn không hề liên quan, bạn vậy đã giải thoát rồi. Đây là Phật dạy chúng ta làm sao đối diện sự thật, đối diện với đủ thứ tai biến trước mắt.

Nói thật, để đối diện với sự biến hóa của nghiệp nhân quả báo, bạn phải có trí tuệ, phải có năng lực, phải có phương tiện thiện xảo. Những điều này đều phải dựa vào tu học bình thường mà rèn luyện, mới có thể thành tựu. Điều quan trọng nhất là trước tiên phải tu bản thân cho tốt, thành tựu pháp thân, Bát Nhã, giải thoát của mình, sau đó mới có thể giúp đỡ tất cả chúng sanh khổ nạn. Ở trong lục đạo đều là chúng sanh khổ nạn, không phải nói họ gặp phải tai nạn đây là khổ nạn. Trước khi chưa có gặp tai nạn thì chúng ta phải phòng bị, tai nạn đến rồi là không kịp nữa. Đạo phòng bị chính là phải chứng được pháp thân, Bát Nhã, giải thoát. Đây là sự phòng bị cứu cánh nhất, viên mãn nhất. Ba cái này là liên kết với nhau, nhưng mà nó có độ khó của nó, chứng pháp thân khó, khai trí tuệ cũng khó. So sánh ba cái thì Bát Nhã và giải thoát là tương đối dễ dàng. Thật sự có thể được một chút giải thoát là công phu đã đắc lực rồi. Làm sao giải thoát? Buông xả. Giải thoát chính là tự tại. Bạn không buông xả thì bạn có khổ có nạn. Buông xả rồi thì không còn bị khổ nạn nữa, cho dù gặp phải cũng giống như chẳng có gì. Ai chịu buông xả? Chỉ có người thông đạt hiểu rõ đối với những đạo lý chân tướng sự thật này mới chịu buông xả. Cho nên, học Phật xem công phu của họ từ những chỗ nào vậy? Là xem trình độ buông xả của họ, họ buông xả được bao nhiêu. Đây là công phu thật. Buông xả giúp bạn khai trí tuệ, giúp bạn thấy rõ. Đến khi thấy rõ buông xả triệt để thì pháp thân hiện tiền ngay. Chúng ta ngày nay nói “thấy rõ, buông xả”; thấy rõ vẫn chưa đủ, buông xả cũng không đủ, cho nên bị gặp phải biết bao nhiêu tai nạn, ở trong đời sống thường ngày không tự tại.

Ngạn ngữ có câu: “Việc bất như ý thường đa số”. Tại sao bất như ý vậy? Tại sao chư Phật Bồ Tát các Ngài được như ý, một việc bất như ý, các Ngài cũng không có? Chúng ta thì “việc bất như ý thường đa số”, nguyên nhân do đâu vậy? Tìm cho ra nguyên nhân và xóa bỏ sạch nguyên nhân thì mọi việc như ý thôi. Chư Phật Bồ Tát thông minh, trong quá trình tu học, các Ngài biết tìm. Tìm ra, đây gọi là khai ngộ. Xóa bỏ nó, đây gọi là tu hành, đây là công phu. Chúng ta phải hiểu, phải học, phải chăm chỉ nỗ lực mà làm, hóa giải cái tai nạn này. Cho dù không thể hóa giải hoàn toàn, nhưng cũng khiến tai nạn này rút ngắn về mặt thời gian, giảm nhẹ về mức độ. Điều này có thể làm được. Người làm càng nhiều thì sức mạnh này sẽ càng lớn. Tại sao chúng ta làm như vậy sẽ có loại hiệu quả này? Trong Kinh Phật nói: “Tất cả pháp từ tâm tưởng sanh”, đây là căn cứ lý luận. “Hoa Nghiêm” nói: “Hư không pháp giới, nhất thiết chúng sanh, duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”, đây là lý luận cơ bản. Tương ưng với lý luận này, chúng ta sẽ nảy sinh tín tâm. Chúng ta đoạn ác tu thiện, thật sự có thể giúp đỡ tất cả chúng sanh, người khác tu “đoạn ác tu thiện” cũng có thể giúp bản thân chúng ta, cho nên làm một cuộc chuyển đổi từ trên đất tâm. Tâm chuyển đổi rồi thì hoàn cảnh của chúng ta sẽ chuyển đổi. Thế giới Hoa Tạng, Thế giới Cực Lạc, người ở bên đó tâm tốt, cho nên cảm được quả báo vô cùng thù thắng. Chúng sanh của thế giới này mê hoặc điên đảo, tâm địa bất thiện, nên chiêu cảm biết bao nhiêu tai biến, là đạo lý như vậy.

Hôm nay thời gian đã hết, chúng ta chỉ giảng đến đây. A Di Đà Phật.

Tổng số điểm của bài viết là: 3 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 54


Hôm nayHôm nay : 7008

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 297030

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9421516

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?