Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Thái thượng cảm ứng thiên

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (Tập 55)

Thứ ba - 16/12/2014 08:23

Chào chư vị đồng tu, chào mọi người.

Xin xem “Cảm Ứng Thiên”, đoạn thứ bốn mươi hai. Đoạn này cũng chỉ có tám chữ: “Cuống chư vô thức, báng chư đồng học”. Đây cũng là thuộc vào đại ác.

Ở trong “Hội Biên” nói rất hay: “Vô thức chi nhân, chánh đương tùy sự hiểu tỉnh, cảnh chi dĩ nghĩa lý, động chi dĩ thiện ác, sử chí giác ngộ, nhi bất đọa ư hoặc”. Làm sao có thể bởi vì họ ngu muội mà bạn bèn lừa gạt họ? Phía sau đã dẫn một câu nói trong “Kinh Lăng Nghiêm”, “Kinh Lăng Nghiêm” nói rằng: “Huyễn hoặc vô thức, nghi ngộ chúng sanh, tử hậu đương đọa nhập vô gián địa ngục”. Người ở thế gian, hữu ý hay vô ý đã tạo tác tội nghiệp cực nặng, tự mình hoàn toàn không biết, cũng không biết quả báo đáng sợ. Ở trong “Cảm Ứng Thiên” nêu ra những ví dụ này, chúng ta soi lại thật kỹ, những lỗi lầm này bản thân cũng thường hay phạm phải, nhưng mà xưa nay không hề nghĩ đến sẽ có quả báo nghiêm trọng như vậy. Bản thân luôn cho rằng những chuyện này là chuyện nhỏ, thậm chí là nói chẳng đáng kể gì. Tại sao lại có sai lầm nghiêm trọng như vậy? Người ngu muội vô tri chúng ta không học Kinh Phật, không hiểu rõ chân tướng sự thật, trong đời quá khứ, bao nhiêu đời nay đã tạo tác rất nhiều nghiệp bất thiện, cảm nên quả báo như vậy. Phật Bồ Tát thấy rất rõ ràng, những chúng sanh này chính là đối tượng cứu độ của Phật Bồ Tát, hơn nữa, xếp họ vào hàng ưu tiên nhất. Tại sao vậy? Người như vậy, nếu như không mau mau giúp đỡ họ, họ trong nháy mắt liền đọa vào địa ngục. Cho nên, Phật Bồ Tát giúp đỡ chúng sanh, chúng sanh nào bị quả báo nghiêm trọng nhất, khổ nhất thì nhất định là xếp vào ưu tiên hàng đầu. Người tạo tác tội nghiệp tương đối nhẹ, không đến nỗi đọa lạc khổ như vậy thì hơi chậm một chút vẫn không sao. Đây là hợp tình hợp lý.

Một loại tình hình khác tương đối đặc thù, đây cũng là Phật ở trong Kinh thường nói là người có căn cơ chín muồi độ trước. Sao gọi là căn cơ chín muồi? Cơ duyên thành Phật đến rồi. Người này cũng phải được ưu tiên giúp đỡ họ thành Phật, sau khi họ thành Phật là có thể rộng độ chúng sanh. Đạo lý ưu tiên là ở chỗ này. Người thế gian, suy cho cùng, kẻ ngu muội vô thức là chiếm đa số. Chúng ta thử nghĩ lại, bản thân chúng ta có phải thuộc loại “vô thức” này hay không? Tư duy thật kỹ, soi lại kiểm điểm, bản thân chúng ta thật sự là thuộc về “vô thức”. Tại sao vậy? Tuy hằng ngày đang học Kinh giáo, nhưng vẫn luôn luôn đang phạm lỗi lầm như cũ, đây chẳng phải là vô thức sao? Cho nên phải theo việc nhắc nhở, ở mọi lúc, mọi nơi, trong tất cả cảnh duyên, nếu như không nhắc nhở thì lại phạm sai lầm rồi. Mặc dù không phạm sai lầm trong lời nói việc làm, nhưng khởi tâm động niệm, ý nghĩ thường hay đang phạm. Tại sao Phật Bồ Tát phải hằng ngày giảng Kinh vậy? Chỉ vì mỗi một việc này. Mấy người có thể nghe một lần Kinh, nghe một bộ Kinh là có thể quay đầu, có thể giác ngộ, có thể chứng quả? Loại người này không phải không có, nhưng quá ít, trong mấy trăm năm chúng ta mới nhìn thấy có một người; ở trong ức vạn người, khó có được một người. Từ đó cho thấy, đa số người có tập khí nghiệp chướng vô cùng sâu nặng (bản thân chúng ta cũng thuộc vào loại này), cho nên cần thiện tri thức từng giây từng phút nhắc nhở chúng ta. Đến đâu để tìm ra thiện tri thức như vậy? Thật sự tìm không ra. Đại đức xưa dạy chúng ta cúng dường Tam Bảo. Chúng ta cúng dường tượng Phật, cúng dường tượng Bồ Tát, dụng ý ở chỗ nào vậy? Mượn những hình tượng này, từng giây từng phút nhắc nhở mình, nhìn thấy tượng Phật thì liền nghĩ đến lời dạy của Phật Bồ Tát. Không nhìn thấy tượng Phật là quên mất rồi. Dụng ý của cúng tượng Phật là ở chỗ này, chứ không phải xem Ngài giống như thần linh, không phải cầu mong Ngài phù hộ thăng quan phát tài, mà dùng Ngài để thường xuyên nhắc nhở mình. Nhắc nhở, điều đầu tiên là đọc Kinh, nhìn thấy tượng Phật thì nghĩ đến phải đọc Kinh. Đọc Kinh chính là nghe Phật Bồ Tát giảng kinh thuyết pháp, khiến chúng ta hiểu rõ nghĩa lý, là việc nên làm. Những việc nào là nên làm, những việc nào không nên làm, đây gọi là nghĩa. “Lý” là chân tướng của vũ trụ nhân sinh. Tất cả Kinh mà Phật nói ra, nội dung của nó quy nạp lại là không ngoài hai sự việc này. “Nghĩa” chính là đoạn tất cả ác, tu tất cả thiện, là việc bạn nên làm. “Lý” là minh tâm kiến tánh. Không những mình phải học, mà còn phải giúp đỡ người khác. Làm sao giúp đỡ người khác đây? Làm nên tấm gương cho người ta thấy. Tấm gương gì vậy? “Động chi dĩ thiện ác”, chúng ta phải thể hiện ra. Chúng ta khởi tâm động niệm, người khác không nhìn thấy, nhưng lời nói việc làm của chúng ta, người ta nhìn thấy. Chúng ta có thể ở trong một đời, miệng không nói lời ác, ở trong một đời có thể làm được không vọng ngữ, không lừa gạt người khác. Bắt đầu làm từ đâu vậy? Bắt đầu ngay từ ngày hôm nay, ta ngay từ hôm nay, từ sáng đến tối không vọng ngữ, không ác khẩu. Đây là việc rõ ràng dễ thấy.

Phật dạy người sơ học bắt đầu làm từ thập thiện nghiệp đạo. “Quán Kinh” nói “Tam phước”, đưa ra cương lĩnh cho chúng ta: “Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm bất sát, tu thập thiện nghiệp”. Chúng ta muốn hỏi, chúng ta làm sao hiếu thân, làm sao tôn sư? Tu tâm từ, tu thập thiện chính là hiếu dưỡng phụ mẫu, chính là phụng sự sư trưởng. Nếu như ba nghiệp “Thân - Ngữ - Ý” của chúng ta đều bất thiện, đó chính là bất hiếu, chính là bất kính. Chúng ta bắt đầu làm từ đây. Quả nhiên thật sự làm được rồi, hàng ngày đều làm như vậy thì người này là người thiện. Người thiện không cần phải có người khác tán thán. Nếu chúng ta hy vọng người khác tán thán, hy vọng người khác biểu dương, chúng ta làm như vậy là đã bất thiện rồi. Tại sao vậy? Dụng ý bất thiện, hành vi là thiện mà tâm bất thiện, tâm địa ô nhiễm, không thanh tịnh. Chẳng cầu gì cả, cần nên làm như vậy. Cách làm này chỉ là giúp đỡ người khác, chỉ là phổ độ chúng sanh, để người ta thấy, thấy rồi thì họ sẽ giác ngộ, “tại sao họ có thể làm được mà ta không làm được?”. Họ thấy lâu rồi thì họ sẽ phản tỉnh. Xưa nay Tổ sư Đại đức giảng Kinh, nói đến cảm hóa người khác (ở trong Phật pháp nói phổ độ chúng sanh, cách nói hiện nay gọi là cảm hóa người khác), chỉ dùng tâm chân thành, tâm từ bi, làm ra một tấm gương tốt để người ta thấy. Tấm gương tốt nhất là vua Thuấn.

Vua Thuấn khi còn tuổi thanh thiếu niên, môi trường sống của ông vô cùng tồi tệ, rơi vào nghịch cảnh. Người ác, ông có thể cảm hóa. Ông làm vô cùng viên mãn, làm vô cùng thành công, là tấm gương tốt nhất. Tại sao ông có thể làm được vậy? Một câu nói của Đại Sư Lục Tổ Huệ Năng là “không thấy lỗi thế gian”, cho nên ông mới làm được. “Không thấy lỗi thế gian” là lý, ông rõ lý. Tại sao người khác dùng ác ý, dùng ác hạnh đối với ta? Luôn là bản thân ta có lỗi lầm. Cho nên, ông niệm niệm không có nhìn thấy người khác lỗi, cho rằng người khác có thái độ gì cũng là chính xác, cũng là đúng cả. Ông luôn nghĩ rằng bản thân ông có lỗi lầm, cần phải phản tỉnh, kiểm điểm, sửa chữa lỗi lầm, khiến những người có khuynh hướng ác ý này cũng không thể nhìn ra lỗi xấu của mình, vậy mới thật sự biết được đạo lý và phương pháp của sự tu hành. Ông thật sự biết được. Ở trong Phật pháp nói, đây là sự thị hiện của đại Bồ Tát, đây không phải là phàm phu. Sự hành trì của ông, chúng ta quan sát tỉ mỉ, thấy không có khác gì so với Thiện Tài Đồng Tử trong “Kinh Hoa Nghiêm”.

Thiện Tài Đồng Tử cả đời tu hành, không có nhìn thấy lỗi thế gian, chỉ thấy mình có lỗi, không thấy lỗi thế gian. Cho nên ông thuận buồm xuôi gió, một đời viên mãn Bồ Đề. Đây là Phật ở trong Kinh nêu ra một tấm gương tốt nhất. Ông từ quả địa phàm phu trải qua 51 cấp bậc của Bồ Tát, từ sơ tín đến thập tín chỉ theo một vị thầy (Bồ Tát Văn Thù là thầy của ông). Khi thập tín tâm tròn đầy thì thầy bảo ông đi tham học, cho nên về sau là 53 tham. Mỗi lần tham một vị thiện tri thức là vị thứ của ông được nâng cao lên thêm một cấp bậc; tham vấn Tỳ kheo Kiết Tường Vân, ông là sơ trụ; tham vấn Tỳ kheo Hải Vân, ông là nhị trụ; tham vấn Tỳ kheo Diệu Trụ, ông là tam trụ. Chúng ta thử nghĩ, ông đã trải qua đời sống gì vậy? Quay lại thử nghĩ đời sống mà mình sống là đời sống gì? Người ta đạo nghiệp mỗi ngày tăng trưởng, định tuệ đẳng học, đời sống đó viên mãn biết bao, giàu có biết bao, còn chúng ta thì hàng ngày vẫn đang tạo nghiệp. Cho nên, chỗ này nói “vô thức”, chúng ta không phải vô thức thì ai vô thức đây? Chúng ta không có hiểu nghĩa lý mà Phật nói. Tôi đã học 47 năm, 47 năm mới hiểu được một chút đạo lý như vậy. Cho nên, có cơ hội thì tôi hưởng chung với mọi người, không quên từng giây từng phút nhắc nhở các đồng học, khích lệ các đồng học, làm hết khả năng, một ngày cũng không từ bỏ.

Bản thân tôi biết rất rõ ràng, rất minh bạch, nếu như mấy ngày không có người khích lệ thì Kinh cũng lười xem, tập khí tật xấu đều trổ ra rồi. Cổ nhân chúng ta nói hay, nói với người đi học là “ba ngày không đọc sách Thánh Hiền thì vẻ mặt hoàn toàn khác”. Hoàn cảnh đó của họ, thật sự mà nói là thù thắng hơn nhiều so với chúng ta. Nói lời thành thật, hiện nay đâu có cần ba ngày, một ngày không đọc là vẻ mặt hoàn toàn khác rồi. Một ngày vẫn quá dài, nửa ngày không đọc là vẻ mặt cũng đã hoàn toàn khác rồi. Người xưa còn có thể đợi ba ngày, chúng ta ngày nay nửa ngày không đọc thì tập khí tật xấu hoàn toàn lộ ra hết rồi, thậm chí là vừa đọc, tập khí tật xấu vừa biểu hiện ra bên ngoài, bạn nói xem, có còn cách gì không? Đọc Kinh sinh phiền não, nghe giảng cũng sinh phiền não, nghiên cứu thảo luận thì cãi nhau. Hãy nghĩ xem, người xưa còn có thể chịu đựng được ba ngày, mới biết tập khí tật xấu của chúng ta hiện nay là nghiêm trọng cỡ nào. Cho nên đọc đến đoạn Kinh văn này, lừa gạt những người vô tri này, suy nghĩ thấy bản thân chúng ta đúng là người vô tri. Người lừa gạt chúng ta quá nhiều, quá nhiều rồi, đầy khắp cả đường, còn người nhắc nhở chúng ta thì không có. Tìm ở đâu bây giờ? Người mà chúng ta tiếp xúc toàn là lừa gạt chúng ta.

Hai câu nói này xem ra rất bình thường, nhưng ý nghĩa quá sâu xa. Cho nên, lần này có cơ duyên như vậy, tôi lại đem “Kinh Kim Cang Giảng Nghĩa” xem kỹ lại một lần nữa. Sau khi xem xong, cảm thấy trong đó có rất nhiều thứ vẫn cần phải bổ sung, cần phải nói rõ thêm nữa. Tại sao vậy? Người bình thường xem xong vẫn không hiểu, cho nên không làm bổ sung là có lỗi với chúng sanh hiện đại. Người xưa giảng Kinh thuận tiện, gợi ý là thấy ngay, họ xem xong là có thể hiểu. Hiện nay thì không được, gợi ý thế nào họ cũng không thông nổi, cho nên không thể không nói nhiều, không thể không phiền toái. Việc độ chúng sanh hiện đại khó hơn quá nhiều so với trước đây. Nếu chúng ta không có tâm nhẫn nại, không có thường thức phong phú, không có đức hạnh, không quán sát căn cơ được, thì tự hành hóa tha đều làm không thành công. Cho nên, chúng ta không thể không nỗ lực vì chúng sanh, vì Phật pháp, dũng mãnh tinh tấn.

Xin xem đoạn thứ bốn mươi hai trong “Cảm Ứng Thiên”: “Cuống chư vô thức, báng chư đồng học”. Ở trong “Hội Biên” nói về ý nghĩa này rất rõ ràng, cũng đã nêu ra không ít ví dụ, thuyết minh nghiệp nhân quả báo ở trong đây, lại dẫn ra một đoạn, Phật ở trong Kinh dạy chúng ta làm thế nào chung sống với bạn bè. Đoạn Kinh văn này không dài, thật sự đúng là chúng ta cần phải nhớ kỹ, hơn nữa phải thực hiện. Kinh văn nói: “Phật ngôn, nhân xử bằng hữu, bỉ thử giai hữu ngũ sự”. Nền giáo dục của Nho gia coi trọng luân thường. Người Trung Quốc nói ngũ luân là: vợ chồng, cha con, anh em, bạn bè, vua tôi. Cho nên, bạn bè ở trong ngũ luân, quan hệ với bản thân chúng ta vô cùng mật thiết. Làm sao có thể trọn đạo nghĩa bạn bè? Phật đã nói cho chúng ta năm sự việc.

Thứ nhất, nếu đôi bên làm nghiệp ác thì phải khuyên nhau dừng. Cho nên bạn bè có nghĩa vụ là phải khuyên nhau tránh lỗi lầm. Nếu như nhìn thấy bạn bè làm việc sai trái, không nói thì đây không phải bạn bè rồi. Nhưng mà khuyên nhủ thì phải có lễ, cho nên nhất định phải giữ lễ, phải hiểu được lễ nghi. Chỉ lỗi thì tuyệt đối không ở trước mặt người thứ ba, chỉ khuyên nhủ tế nhị, vì đây là bạn bè. Cha mẹ chỉ dạy thì có thể ngay trước mặt đám đông anh chị em trong nhà chỉ dạy với nhau, đây là động viên con em của mình, nhưng nếu có người ngoài thì cha mẹ cũng sẽ không nói, vì luôn muốn giữ thể diện cho con cái. Thầy dạy học trò, đồng học, ở trong đồng học thì có thể nói, tại sao vậy? Các bạn là đồng học, thầy không phải dạy một mình ta, mà dạy tất cả học trò. Thế nhưng bạn bè thì không được phép, bạn bè chỉ có thể khuyên nhủ tế nhị. Những đạo lý này, chúng ta đều phải biết.

“Đệ tương khuyên chỉ” là giúp đỡ lẫn nhau. Bản thân ta có lỗi lầm, bạn của ta sẽ giúp đỡ ta, động viên ta, nhắc nhở ta, ngược lại ta cũng phải giúp đỡ bạn của ta. Đặc biệt là ở trong Phật pháp, Phật pháp thật sự hiểu rõ nhân quả thông ba đời. Cho nên, khuyên nhủ là quan trọng hơn hết. Tạo một niệm ác, dường như trước mắt cảm thấy không sao cả, mà hậu quả tương lai là không thể tưởng tượng. Người thế gian đối với những sự lý này không hiểu. Chúng ta tự mình phải hiểu rõ, phải sáng tỏ. Tập khí ác rất nặng, trong “Luận Ngữ” nói (“Luận Ngữ” là Khổng Phu Tử nói): “Bằng hữu số, tư sơ hỉ”. Cho nên, hiện nay là khó khăn hơn bao giờ hết, khuyên lỗi không được quá ba lần, ba lần trở lên đó đã trở thành người ác rồi, nên tránh xa; không những phải tránh xa, mà còn bị kết oán thù. Từ đó cho thấy, trên thế gian, việc khó khăn nhất là tình người, cái gọi là “làm việc khó, làm người càng khó hơn”. Thật sự thấu tình đạt lý, nhà Nho gọi là quân tử, thật sự gọi là thông đạt đạo lý nhân tình. Thông tình đạt lý đến rốt ráo, đây là Thánh nhân, ở trong Phật pháp chúng ta gọi là Phật Bồ Tát. Chúng ta ngày nay tội nghiệp đầy mình, khởi tâm động niệm lời nói việc làm đều bất thiện, tại sao Phật Bồ Tát không đến khuyên nhủ chúng ta, không đến chỉ dạy chúng ta? Chúng ta tự mình thử suy nghĩ, Phật Bồ Tát đến chỉ dạy chúng ta, chúng ta có thể tiếp nhận không? Không thể tiếp nhận! Khuyên ba lần trở lên là phiền chán rồi, cũng xem Phật Bồ Tát giống như oan gia rồi, cho nên Phật Bồ Tát từ bi không đến. Không đến là từ bi, duy trì quan hệ tốt với bạn, không muốn bạn tốt trở thành oan gia, cho nên lánh xa bạn. Đến khi nào bạn thật sự giác ngộ, thật sự quay đầu rồi, ở trong lục đạo đã chịu hết các đau khổ, có một niệm giác ngộ, một niệm quay đầu thì bạn tốt lại đến ngay thôi. Cách làm này của chư Phật Bồ Tát vô cùng đáng để chúng ta làm tham khảo. Không nghe lời khuyên chân thành, không nghe lời thiện thì tạm thời tránh xa. Nhất định phải đợi họ muốn quay đầu thì mới đến gần. Đây là đạo lý lớn của cảm ứng đạo giao. Đây là khuyên lỗi, Phật đem điều này xếp thứ nhất.

Thứ hai, “Bỉ thử nhược hữu nạn tật, đương khán cố điều trị”. Chúng ta gặp phải khó khăn, khi cần người giúp đỡ, lúc này bạn bè có nghĩa vụ phải giúp đỡ. Thứ đến là khi có bệnh tật, là bạn bè thì nhất định phải quan tâm, phải tận tâm tận lực giúp đỡ họ tìm kiếm thầy thuốc giỏi, giúp đỡ họ chữa trị. Nhưng mà xã hội hiện nay quả thật là quá khó, quá khó rồi, cổ nhân nói là “thiên hạ đại loạn”. Rốt cuộc là loạn ở chỗ nào vậy? Người bình thường chúng ta nói là xã hội không có trật tự, trị an xã hội không tốt, người với người không có thiện ý giao thiệp, đầy rẫy dối trá. Sâu hơn một nấc, chúng ta chưa có quan sát thấy. Nếu quan sát sâu hơn một nấc, ta thấy luân thường đạo đức bị phá hoại rồi; cha con không thân, bạn bè bất tín, vợ chồng vô nghĩa, vậy có nguy hiểm không? Đây là mối loạn đích thực. Hơi một chút bất như ý thì lập tức liền quay mặt, đây là đời loạn. Thời thái bình thịnh trị sẽ tuyệt đối không có loại tình trạng này. Chúng ta thử nghĩ, nguồn gốc của thái bình và loạn lạc là ở chỗ nào vậy? Ở giáo dục. Hiện nay mọi người không giảng giáo dục cổ Thánh tiên Hiền nữa rồi; không những vứt bỏ, mà còn muốn cật lực tiêu diệt nó, đây là sự bất thường. Trong “Tả Truyện” có một câu nói: “Nhân khí thường tắc yêu hưng”. Khí thường là vứt bỏ luân thường. Vứt bỏ luân thường thì xã hội này chắc chắn là yêu ma quỷ quái. Nhà Phật nói mười pháp giới, ở trong mười pháp giới lại có mười pháp giới, mỗi một pháp giới đều có đầy đủ mười pháp giới. Lời nói này rất hay. Đại Sư Thiên Thai phát minh “bách giới thiên như” ở trong “Kinh Pháp Hoa” là phát huy từ cái ý nghĩa này. Nếu người có thể tiếp nhận giáo dục Thánh Hiền, thì người này là thiên nhân trong cõi người, là Phật Bồ Tát trong cõi người. Nếu như người vứt bỏ nền giáo dục Thánh Hiền thì người là ngạ quỷ ở cõi nhân gian, là súc sanh cõi nhân gian, là địa ngục ở cõi nhân gian, là yêu ma quỷ quái ở cõi nhân gian. Mấu chốt đều là ở giáo dục. Cho nên, Phật Thích Ca Mâu Ni từ bỏ mọi ngành nghề, dấn thân vào làm công tác giáo dục. Tất cả chư Phật Như Lai cũng đều thị hiện như vậy. Chúng ta mới biết, sự việc này là sự nghiệp lớn đứng hàng đầu của thế xuất thế gian.

Việc mà Phật làm là sự nghiệp lớn hàng đầu của thế xuất thế gian, người khác không thể làm, người khác không làm được, người khác làm không tốt thì Ngài đến làm. Nếu chúng ta có thể thể hội được, chúng ta ngày nay phát tâm học Phật, làm đệ tử của Phật, nối tiếp huệ mạng Phật, ở thời đại này gánh vác nổi gia nghiệp của Như Lai (gia nghiệp của Như Lai chính là dạy học). Làm sao giúp đỡ chúng sanh thật sự giác ngộ, đây là việc của nhà Như Lai. Bạn bè có khó khăn, bạn bè có bệnh tật là giống như mình có khó khăn, mình có bệnh vậy, toàn tâm toàn lực đi chăm sóc họ, cần có phương tiện thiện xảo, cần có trí tuệ. Phương pháp mà ở trong đây dùng thì rất nhiều, ví dụ rất nhiều, “Liễu Phàm Tứ Huấn” cũng có nói đến. Nếu như bạn bè có tập khí ác quá nghiêm trọng thì dùng phương tiện ác để đối xử họ, hy vọng họ chịu thêm một chút khổ nạn, chịu thêm một chút giày vò, cuối cùng họ thành tựu rồi. Đây cũng là đạo đối xử bạn bè. Đợi đến sau khi họ giác ngộ rồi, họ mới cảm kích người bạn này không phải ác ý, là muốn thành tựu cho ta. Tập khí ác có khi thật sự khó sửa đổi, trở thành thói quen rồi. Cho nên, dạy học nhất định là vào lúc tuổi còn thơ, trung niên trở lên thì vô phương dạy rồi, cũng không có cách gì khuyên được. Tại sao vậy? Đã hình thành thói quen rồi. Khuyên rồi, bản thân có muốn sửa hay không? Muốn sửa, muốn sửa cũng sửa không được. Không có năng lực khắc phục tập khí của mình thì đây là phàm phu. Người nghe qua mà có thể sửa, có dũng khí, có quyết tâm, có nghị lực khắc phục tập khí của mình, người này không phải là người phàm. Chúng ta nhìn thấy trong lịch sử, bất luận là thế pháp hay là Phật pháp, người có thành tựu lớn, phần lớn là loại người này, khắc kỷ khôi phục lễ, Thánh Hiền quân tử, ở trong Phật pháp là Phật Bồ Tát.

Thứ ba, “Bỉ thử hữu gia hoài ngữ, bất đắc vị ngoại nhân thuyết”. Đây là ở trong nhà có những lời không hay, cái gọi là “đừng vạch áo cho người xem lưng”. Bạn bè có một số ác hạnh, chỉ có thể khuyên nhủ, không nên nói với người ngoài. Chúng ta thử xem mấy điều mà Phật nói đây, hiện nay xã hội này, giữa bạn bè với nhau hầu như đều làm trái lại hoàn toàn.

Thứ tư, “Đương các tương kính thán, bất đoạn vãng lai, bất đắc ký oán”. Nhất định phải tôn trọng lẫn nhau, kính yêu lẫn nhau, thường xuyên qua lại thăm viếng, nhớ ân, không nhớ oán, nhất là đối với bạn bè mới quen. Trong Phật pháp thường nói: “Chỉ luận hiện hành, không luận dĩ vãng”. Trước đây họ làm việc xấu, ác hạnh, ngày nay họ quay đầu rồi, giác ngộ rồi, ngạn ngữ Trung Quốc thường nói: “Đánh kẻ chạy đi chứ không đánh người chạy lại”. Lúc tuổi trẻ không biết chuyện, tạo tác rất nhiều ác nghiệp, chỉ cần họ có thể tiếp nhận lời dạy của Thánh Hiền, ưa thích nghe Kinh, có thể tin, có thể hiểu, có thể phụng hành, họ đúng là người tốt. Đại Sư Thiện Đạo nói rất hay: “Duyên ngộ không đồng”. Trước đây chưa gặp được thiện tri thức, chỉ gặp được những người ác tri thức, chắc chắn đại đa số người đều không có tánh cố định. Người không có tánh cố định nên mới gọi là “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, qua lại với bạn bè nào, họ nhất định học kiểu dáng ở người bạn đó. Quay đầu là tốt rồi, có người nào mà không có lỗi lầm? Người không phải là Thánh Hiền, ai có thể không có lỗi? Bạn không phải Thánh Hiền tái lai, chắc chắn là có lỗi lầm, quay đầu là tốt. Tổ sư Đại đức luôn luôn đều làm những thị hiện này. Tổ sư của Tịnh tông chúng ta, quí vị khâm phục nhất là Ngẫu Ích Đại Sư, Ấn Quang Đại Sư, lúc còn trẻ cũng phỉ báng pháp, đây đều là làm thị hiện cho chúng ta, đều là Phật Bồ Tát tái lai làm thị hiện cho chúng ta. Khi còn trẻ, học sách Nho, bài xích Phật pháp, sau khi tiếp xúc Phật pháp, nghe thấy rồi mới hối hận, sám hối, sửa chữa lỗi lầm, và trở thành Tổ sư một đời của nhà Phật. Thử xem, Ngài trước sau 20 tuổi, với cái nhìn của chúng ta hiện nay thấy đó là ma, phản đối người học Phật. Tại sao lại phản đối vậy? Đây là Ngài thị hiện. Ngày nay trong xã hội bao nhiêu người phản đối Phật pháp. Tại sao phản đối vậy? Chưa từng tiếp xúc qua, không biết Phật pháp là gì hết, chỉ là nghe người khác nói, người ta nói thế nào thì phụ họa theo thế ấy. Người ta nói Phật pháp là mê tín, họ cũng nói theo là mê tín. Người ta nói Phật pháp là tiêu cực, họ cũng cho rằng nó thật sự là tiêu cực, vì họ chưa từng tiếp xúc qua. Chúng ta biết, Kinh điển của nhà Phật tập kết trễ nhất cũng là vào thời Nam Tống. Tuy một số pháp sư dịch Kinh đã dùng văn tự đơn giản dễ hiểu nhất vào thời đó để dịch, nhưng chúng ta ngày nay đọc những Kinh văn này vẫn còn thấy khó khăn, huống chi Phật ở trong Đại Kinh nói rõ cho chúng ta biết “Phật pháp nếu không có người nói, tuy trí cũng không thể hiểu”. Nếu muốn lý giải Phật pháp, nhất định phải gặp thiện tri thức, có người giảng giải cho bạn, giúp bạn học Phật, giúp bạn đọc Kinh, bạn mới có thể hiểu được. Chúng ta hiện nay học Phật hiểu rồi thì chúng ta có nghĩa vụ giúp đỡ bạn bè của chúng ta, đem Phật pháp giới thiệu cho họ, dùng phương tiện thiện xảo phá trừ nghi hoặc của họ. Thánh Hiền thế xuất thế gian đều dạy cho chúng ta, chúng ta chỉ nhớ ân đức của người, tuyệt đối không nhớ oán hận. Chúng ta biết, ân đức là sự bộc lộ của tình cảm chân thật, oán hận đều là đủ thứ hiểu lầm, không phải thật, vậy thì việc gì phải đem nó để ở trong lòng?

Thứ năm, “Bỉ thử bần phú bất đẳng, đương dụng phù tế bất đắc hỗ tương phỉ báng”, đây là nói cộng tài. Người ở thế gian, bởi do nhân tu trong đời quá khứ khác nhau, cho nên chắc chắn không thể nào bình đẳng. Người có của cải phải biết giúp đỡ bạn bè, thường xuyên chu cấp, trợ giúp cho bạn bè, quyết định không được phỉ báng, không được phép khinh mạn. Đây là dạy cho chúng ta đạo giao thiệp qua lại với bạn bè. Ngược lại với điều này chính là “cuồng chư vô thức, báng chư đồng học”. Bạn bè, ở trong nhà Nho nói là “đồng học giai bằng, đồng chí giai hữu”, cho nên “hữu” phải thân hơn nhiều so với “bằng”. Hữu là đồng chí, chí hướng giống nhau. Đồng là học chung, học chung không nhất định có chí hướng giống nhau. Ở trong ngũ luân, nhất định phải biết là không được lừa dối; lừa dối không được phép, phỉ báng lại càng không được phép. Chúng ta học Phật thì phải áp dụng từ những chỗ này, bắt đầu học từ những chỗ này.

Tốt rồi, hôm nay thời gian đã hết, chúng ta chỉ giảng đến đây. A Di Đà Phật.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 63


Hôm nayHôm nay : 7557

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 181133

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 10839176

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?