Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Thái thượng cảm ứng thiên

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (Tập 19)

Chủ nhật - 28/09/2014 13:32

Trong Cảm Ứng Thiên Hội Biên, câu thứ mười chín có hai chữ “Trung Hiếu”. Hai chữ này thực ra là căn bản cảm ứng của đức hạnh. Trong chú giải, nó là đoạn phong phú nhất trong toàn thiên. Có thể thấy, cổ đức đối với hai chữ này rất coi trọng.

“Trung hiếu”, “hiếu” là căn bản của thành kính. Phật pháp thiết lập trên đạo hiếu. Từ xưa đến nay, giáo dục của nhà Nho cũng là lấy “trung hiếu” làm trung tâm, đây là được giáo dục. Sao gọi là giáo dục? Trung hiếu mà thôi. Đây là điều chúng ta không thể không biết, tức là phải học trung, phải tận hiếu. Cổ nhân dạy chúng ta: “Làm tôi phải tận trung, làm con phải tận hiếu, đây là chuyện thường của lẽ tự nhiên, là gốc của nhân luân”. Chú giải mở đầu là bốn câu nói này.

“Làm tôi phải tận trung”. Câu nói này nếu dùng ngôn ngữ hiện đại để giải thích, Phật dạy “y nghĩa bất y ngữ”, câu nói này nói rất hay, bởi vì ngôn ngữ sẽ thay đổi tùy theo thời đại, còn ý nghĩa là nguyên tắc, là cương lĩnh, vĩnh viễn không thay đổi. Trước đây vào thời đại của đế vương, “làm tôi phải tận trung” nghĩa là bề tôi đối với vua phải tận trung. Dùng cách nói hiện đại để nói, chính là người bị lãnh đạo đối với người lãnh đạo phải biết tận trung. Cái ý này suy ra mà nói, là vì tất cả nhân dân phục vụ phải tận trung, ý nghĩa này quí vị dễ hiểu hơn rồi. Chúng ta phục vụ, phục vụ có đối tượng. Đối tượng là người nào vậy? Đối tượng là nhân dân. Chúng ta vì nhân dân phục vụ, vì chúng sanh phục vụ, phải biết tận trung.

“Làm con phải tận hiếu”, câu nói này dễ hiểu. “Tận Trung” là dựa vào “Tận Hiếu” làm căn bản. Nếu như một người không biết hiếu thì họ sao có thể tận trung được? Hiếu là lẽ thường của tự nhiên, là gốc của nhân luân. Trung là đạo lý lớn của làm người. Chữ “Trung” này là “Trung” “Tâm”, tức là tâm của bạn phải chánh, phải trung, không được nghiêng, không được tà. Cổ nhân giải thích cho chúng ta: “Thành kính là tướng mạo”, “Một niệm không sinh gọi là thành”, từ đó chúng ta liền có thể thể hội được, trung tâm chính là một tâm, hai tâm là bất trung, hai tâm thì tâm của bạn đã lệch rồi. Trung tâm là một niệm không sinh, sinh một niệm là bất trung. Từ đó cho thấy, “trung” là thành kính đến cực điểm, chân thành cung kính đến cực điểm mới gọi là trung. Giáo dục của nhà Nho, giáo dục của nhà Phật chính là dạy điều này. Đây là lẽ thường của tự nhiên (thường là đạo thường, là vĩnh hằng bất biến), trong Phật pháp gọi là “Lẽ thường của pháp tánh”, “Pháp vốn như vậy”. Người có thể thuận theo đạo thường thì người này gọi là Phật, gọi là Bồ Tát; đánh mất đạo thường, trái ngược đạo thường thì người này được gọi là chúng sanh, là phàm phu. Có thể thấy phàm - thánh khác biệt là từ một niệm này.

Cái gốc của nhân luân là căn bản của làm người, hay nói cách khác, hai chữ trung hiếu này không còn nữa thì căn bản của nhân luân bị đánh mất. Vẫn có hình tướng của con người, có hình dạng của con người, nhưng trên thực tế có phải người hay không? Không phải người,chỉ là hình tướng con người. Đại sư Thiên Thai giảng kinh Pháp Hoa, đem thập pháp giới triển khai thành “Bách giới thiên như”. Bách giới từ đâu mà có vậy? Trong mỗi một pháp giới đều có mười pháp giới. Ví dụ chúng ta là pháp giới người, trong pháp giới người có Phật ở trong người. Ai là Phật ở trong người? Hai chữ trung hiếu này làm được rất viên mãn, không hề mảy may thiếu sót, đây chính là Phật ở trong người. Hai chữ “trung hiếu” làm được năm phần trở lên, chưa được viên mãn, đây là Bồ Tát ở trong người, Duyên Giác ở trong người, Thanh Văn ở trong người. Hai chữ trung hiếu có thể làm được một phần - hai phần mười, đó mới là người ở trong người, mới được xem là con người. Có thể làm được bốn phần, năm phần là thiên nhân ở trong người. Nếu như không làm được, làm trái ngược là súc sanh ở trong người, ngạ quỷ ở trong người. Hoàn toàn làm trái ngược lại, đại nghịch bất đạo là địa ngục ở trong người. Mỗi một pháp giới đều đầy đủ mười pháp giới, cho nên gọi là 100 pháp giới. Ở trong mỗi một giới đều đầy đủ “Thập như thị”, cho nên gọi là bách giới thiên như.

Bách giới thiên như là nói cho chúng ta biết một nguyên tắc, nói với chúng ta chân tướng sự thật. Triển khai tiếp như vậy, trong 100 giới, trong mỗi một giới lại có mười pháp giới, gọi là ngàn pháp giới. Cho nên pháp giới là vô lượng vô biên. Pháp giới từ đâu mà có vậy? Là từ trong vọng tưởng, phân biệt, chấp trước của chúng ta biến hiện ra, vô lượng vô biên pháp giới, biến ảo vô cùng. Trong biến ảo có một nguyên tắc bất biến, nguyên tắc này chính là trung hiếu. Cho nên trong Cảm Ứng Thiên, hai chữ trung hiếu này, chú giải chiếm số trang lớn là như vậy. Đây là sự từ bi yêu thương của đại đức xưa, chỉ sợ chúng ta đối với hai chữ này nhận thức không rõ ràng. Tri thức thế xuất thế gian có thể thành tựu hay không, mấu chốt là ở hai chữ này. Tu hành có thể chứng quả hay không, mấu chốt cũng ở hai chữ này, bạn nói điều này quan trọng cỡ nào.

Mấy câu nói này dưới đây ý nghĩa sâu rộng vô tận.

“Nếu làm bề tôi bất trung thì vua còn trông mong gì vào bề tôi nữa, làm con bất hiếu thì cha còn trông mong gì vào con được, chẳng bằng súc sanh cầm thú, sao có thể gọi là người chứ?”.

Mấy câu nói này người hiện nay nghe thấy sẽ lắc đầu, nghe không vào được. Người hiện nay không cho như vậy, cho rằng kiểu nói này là lạc hậu rồi, đây là văn hóa cũ cần phải nên đào thải hết. Phàm là người có kiểu quan niệm này, người có loại hành vi này, cho nên mới chiêu đến tai nạn lớn cho thế gian. Người biết trung hiếu, biết được đạo lý này, biết được chân tướng sự thật, không những không dám làm càn làm bậy, mà ngay cả một niệm tà tư cũng không cho phép thì đâu có thể tạo nghiệp, huống chi tạo tội nghiệp cực nặng? Những ý nghĩa này, các đồng tu chúng ta phải suy nghĩ thật nhiều, quan sát nhiều, thể hội thật kỹ, sau đó mới biết giáo huấn của thánh nhân là chí chân, chí thiện. Chúng ta quyết không được mê vào thế tục, mê vào thế tục sẽ chiêu đến khổ báo không có cùng tận.

Quí vị có lẽ cũng biết, xưa nay trong ngoài có rất nhiều lời tiên tri, đều tập trung vào thời đại này, đều nói thế gian này sẽ có tai nạn. Người học Phật chúng ta không tin lời tiên tri, mà tin nhân quả. Nhân như vậy thì quả như vậy, báo như vậy. Phật không nói lời tiên tri, Phật nói nhân quả. Nhân thiện nhất định được quả thiện, nhân ác nhất định được ác báo, nhân quả báo ứng không hề sai chạy. Trung hiếu là thiện, trung hiếu là đại căn đại bản của thiện. Chữ này không thể không nói nhiều một chút, phải nhận thức cho rõ ràng. Hai chữ này, trong nguyên tắc chế tạo văn tự Trung Quốc đều là thuộc về hội ý, văn tự là ký hiệu, bạn nhìn thấy ký hiệu này liền thể hội được hàm nghĩa ở trong ký hiệu này. Trung là trung tâm, không thiên vị bên nào, dạy chúng ta phải dụng tâm như thế nào. Trung là chân tâm, lệch rồi chính là vọng tâm. Chữ này là dạy chúng ta dùng chân tâm. Chư Phật Bồ Tát dùng chân tâm, còn tâm mà Thanh Văn, Duyên Giác dùng là gần giống chân tâm, vẫn chưa đạt đến thuần chân. Phàm phu lục đạo dùng vọng tâm, không phải chân tâm. Cho nên ý nghĩa này rất là sâu xa.

“Hiếu”, chữ này là bảo chúng ta thể hội chân tướng sự thật. Chân tướng sự thật là như thế nào vậy? Các bạn thử xem hình dạng của chữ này, phía trên là chữ “Lão”, phía dưới là chữ “Tử”. Ý nghĩa này nói với chúng ta rất rõ ràng, thế hệ trước với thế hệ sau là một thể, đó là hiếu. Thế hệ trước với thế hệ sau chia rẽ là bất hiếu. Từ ý nghĩa này suy ra tiếp, là thế hệ trước còn có thế hệ trước nữa, quá khứ vô thỉ; thế hệ sau còn có thế hệ sau nữa, vị lai vô chung, vô thỉ vô chung là một thể. Đây là hiện tượng gì vậy? Há không phải Phật ở trong kinh nói với chúng ta tình hình của “Pháp thân”, của “Tự tánh” sao? Trong kinh Đại Thừa thường nói: “Mười phương ba đời chư Phật cùng chung một pháp thân”, đây chính là chú giải hay nhất cho chữ “Hiếu” này. Hiếu nghĩa là gì vậy? Chính là “mười phương ba đời chư Phật cùng chung một pháp thân”. Tôi thường nói “hư không pháp giới tất cả chúng sanh là chính mình”, đây chính là chữ hiếu. Ký hiệu này đã nói rõ chân tướng của vũ trụ nhân sinh. Hiểu rõ chân tướng này là bạn đã nhận thức đạo hiếu rồi. Hai chữ này hợp chung lại chính là Phật pháp vô cùng viên mãn. Tất cả kinh mà Thích Ca Mâu Ni Phật đã nói 49 năm là nói hai chữ “Trung Hiếu” mà thôi. Không chỉ tất cả pháp mà Thế Tôn đã nói không lìa hai chữ này, mà ngay cả pháp tàng vô tận mà mười phương ba đời tất cả chư Phật đã nói cũng là hai chữ này mà thôi.

Hai chữ này làm sao nói hết được? Chư Phật Như Lai đồng loạt nói, cùng nhau nói, nói vô lượng kiếp thì hai chữ này vẫn nói không hết. Chúng ta ngay cả ý nghĩa thô thiển của hai chữ này còn không thể hội được, thì chẳng trách tu học công phu không đắc lực, nghiên cứu kinh điển, nghe giáo lý không thể khai ngộ. Nghiên cứu kinh điển nghe giáo lý không thể khai ngộ là không hiểu biết về hai chữ này. Niệm Phật tu hành công phu không đắc lực là hai chữ này chưa làm được tí nào cả. Cho nên, hai chữ “Trung, Hiếu” bạn hiểu biết rồi thì bạn sẽ khai ngộ; hai chữ này làm được rồi thì bạn sẽ có thể tu hành chứng quả. Hai chữ này, chúng ta cũng phải dùng nhiều thời gian một chút để giới thiệu với quí vị đồng tu. Trên thực tế chỗ tôi biết cũng không nhiều, tôi có thể thể hội được mấy phần, tôi cũng chỉ có thể làm được một vài phần mà thôi.

Chú giải tiếp theo nói: “Nhân tuy ưng đăng tiên phẩm, tất tu đa lịch tuế niên, duy chí trung chí hiếu, kim nhật tạ thế minh nhật tiện sanh thiên giới, nhân tri trung hiếu, vi thần tử đại tiết, khởi tri vưu vi, siêu độ chi bổn tai!”.

Lời nói này nói rất hay, nói đúng, không sai, đây là nói đến tu hành. Cảm Ứng Thiên là của Đạo giáo. Đạo giáo tu hành mục tiêu là thăng thiên. Sanh thiên không đơn giản, bước vào câu lạc bộ của thần tiên cũng rất hiếm có rồi. Trong Phật pháp nói, trời Dục Giới phải tu thập thiện, tứ vô lượng tâm; trời Sắc Giới còn phải tu tứ thiền bát định. Nhưng mà người sinh ở đời có thể tận trung tận hiếu, không cần tu hành, sau khi chết rồi thì tự nhiên sẽ sinh thiên. Lời nói này là sự thật. Người chí trung chí hiếu, sanh thiên phẩm vị cũng cao, hay nói cách khác, nếu như bất trung bất hiếu, tuy tu thập thiện, tứ vô lượng tâm cũng không thể sanh thiên. Cùng đạo lý như vậy, bất trung bất hiếu, niệm Phật cũng không thể vãng sanh thế giới Cực Lạc. Bạn ở niệm Phật đường thành tâm thành ý niệm, mỗi ngày niệm 100 ngàn tiếng Phật hiệu vẫn không thể vãng sanh như thường. Cho nên hai chữ này, không những là căn bản của làm người, mà còn là đại căn đại bản của tu hành, tuyệt đối không được lơ là. Hai chữ này chúng ta cần dùng nhiều thời gian một chút để nghiên cứu thảo luận.

 Hai chữ “Trung hiếu”này bất kể là ở văn hóa bản địa Trung Quốc, hoặc giả là ở trong Phật pháp Đại Thừa đều là thuộc về môn học tâm tánh. Hai chữ này ở trong “Lục thư” đều thuộc về chữ hội ý, cũng tức là nói, để chúng ta nhìn thấy ký hiệu này liền thể hội được ý nghĩa mà nó biểu hiện. “Tâm”, cái ý này rất khó thể hội, rất khó hiểu. Mọi người ở trong kinh Lăng Nghiêm đã xem qua. Kinh Lăng Nghiêm vừa mở đầu, Thế Tôn nhìn về A Nan hỏi Ngài, tâm ở đâu? Hoàn toàn không nói là chân tâm hay là vọng tâm. A Nan thông minh hơn chúng ta, Ngài đã nói ra bảy chỗ, nhưng đều bị Thế Tôn phủ định cả. Đoạn văn này rất dài, cổ nhân phân đoạn đặt thành “Thất xứ trung tâm”, cũng có người đem nó phân thành “Thất phiên phá xứ”, đều có đạo lý của nó.

Tâm không những không tìm thấy, thậm chí là tâm cũng không có cách gì có thể nghĩ ra được, cho nên trong kinh Phật thường dùng tám chữ “không thể nghĩ bàn”, “bặt chỗ tâm hành” để hình dung. Tám chữ này có thể nói được gần giống một chút. Tâm mà Nho và Phật nói đều là nói chân tâm, đều là nói bản tánh. Chân tâm bản tánh ở khắp mọi nơi, trong Phật pháp nói tâm bao thái hư. Kinh Lăng Nghiêm đặc biệt nói thấu triệt: “Hư không pháp giới tất cả chúng sanh đều là duy tâm sở hiện”. Cho nên tâm là năng hiện, hư không pháp giới tất cả chúng sanh là cái sở hiện của tâm. Giống như chúng ta nằm mộng vậy, mỗi chúng ta đều có kinh nghiệm nằm mộng. Trong mộng có hư không, có pháp giới, có tất cả chúng sanh. Từ đâu mà có vậy? Người hiện nay nói từ trong tâm ý thức biến hiện ra cảnh mộng. Không sai! Tâm ý thức là vọng tâm. Trong Phật pháp nói tâm thức biến hiện ra cảnh mộng, mà chúng ta gọi là hoàn cảnh hiện thực. Hư không pháp giới đông đảo chúng sanh hiện thực, lại có mấy người biết, vật là do chân tâm bản tánh chúng ta biến hiện ra, cái này là không có người biết rồi. Tâm không có tướng, nhưng tâm có thể hiện tướng. Tâm khởi tác dụng, có thể đem cái cảnh tượng này mặc tình biến hóa, cho nên nói là duy thức sở biến mười pháp giới y chánh trang nghiêm. Thức là gì vậy? Thức là ý niệm. Ý niệm là tác dụng của tâm. Tâm khởi tác dụng thì gọi là niệm. Chữ “Niệm” này cũng là chữ hội ý. Trong văn tự Trung Quốc, niệm là “tâm”, “hiện tại”, tức là hiện tại cái tâm đó của bạn. Hiện tại tâm bạn đang động, cho nên Phật nói: “Tất cả pháp từ tâm tưởng sanh”. Tâm tưởng chính là niệm, chính là ý niệm. Tâm khởi tác dụng, làm thế nào đem tác dụng này dùng thuần chánh.

Thánh nhân thế xuất thế gian dụng tâm là thuần chánh, Phật Bồ Tát dụng tâm là thuần chánh. Thuần chánh chính là trung. Trong chữ tâm này nếu như không thêm bất kỳ ký hiệu nào, thì biểu thị đó là tâm; thêm vào ký hiệu chính là biểu thị tác dụng của nó. Trung là chánh dụng. Một chút lỗi lầm, một chút sai lầm cũng không có, đây gọi là trung. Chúng ta phải biết, ý nghĩa này sâu rộng vô hạn. Trong nhà Nho, ở trong “Đại Học” dạy người “Thành ý, chánh tâm”. Thành ý là thể của tâm, chánh tâm chính là tác dụng của tâm, phải dùng cho chánh. Chánh chính là trung. Nhưng mà phàm phu chúng ta hiện nay đâu có biết tâm. Thiền tông nói rất hay: “Nếu người biết được tâm, đại địa không tấc đất”. Chư Phật Như Lai dạy người không có gì khác, chính là dạy người nhận được tâm mà thôi. Nhận được tâm thì bạn liền thành Phật. Từ đó cho thấy, ngoài chư Phật Bồ Tát ra, không có ai nhận được tâm. Thanh Văn, Duyên Giác chưa có minh tâm kiến tánh, hay nói cách khác, vẫn chưa có nhận được tâm, huống chi ngang đó trở xuống. Tâm khởi tác dụng chính là tư tưởng, chính là kiến giải. Những tư tưởng, kiến giải này sai rồi! Sai ở chỗ nào vậy? Nhà Phật nói, có vô minh chướng ngại, phiền não khuấy động kín rồi. Phật nói như vậy, nhà Nho cũng là nói như vậy. Cho nên Nho, Phật bàn đến tu hành đều trước tiên phải đoạn phiền não, sau đó mở trí tuệ. Trí tuệ mở rồi thì bạn liền nhận được tâm. Cương mục của nhà Nho dạy người cũng là nói như vậy.

“Cách vật, trí tri”. Cái cách vật này quan trọng biết bao. Chúng ta ngày nay tu học công phu không đắc lực chính là do không có bắt tay làm từ chỗ này. Vật là gì vậy? Vật là dục vọng, vật dục. Tất cả chúng sanh đối với vật dục tham luyến, chấp trước rất sâu. Quả báo của họ là đời đời kiếp kiếp tạo ra luân hồi, tạo ra ba đường ác. Cho nên, bạn tu hành nếu muốn thành tựu, bạn cần phải đem ngũ dục lục trần xả cho thật sạch sẽ thì bạn mới được cứu. Không những pháp thế gian không được phép tham, mà Phật pháp cũng không được tham. Trong kinh Kim Cang nói rất hay: “Pháp còn phải xả, huống chi phi pháp”. Chúng ta thử nghĩ, tại sao mình không thể thành tựu? Tại sao vẫn tạo nghiệp địa ngục? Người học Phật tạo nghiệp địa ngục rất nhiều, tôi thấy quá nhiều, quá nhiều rồi. Hiện tại tạo nghiệp địa ngục, tương lai nhất định bị quả báo địa ngục. Cái đáng sợ của không biết quả báo là họ dám tạo nghiệp. Khởi tâm động niệm tự tư tự lợi, khởi tâm động niệm lừa gạt chúng sanh, lừa gạt Phật Bồ Tát, lừa mình, dối người. Tâm như vậy làm sao có thể thành tựu! Dùng cái tâm như vậy làm một chút việc tốt cũng có một chút quả báo, quả báo ở đâu vậy? Là đi hưởng thụ ở trong tam đồ, lục đạo. Nếu như ngũ giới, thập thiện không đầy đủ, nói lời thành thật, người đầy đủ ngũ giới thập thiện không nhiều. Cái thứ nhất là không thành thật. Trong ngũ giới có không vọng ngữ, trong thập thiện cũng có không vọng ngữ, không ác khẩu, không lưỡng thiệt, không ỷ ngữ. Chúng ta tự mình thử nghĩ, chúng ta có phạm hay không? Nếu như phạm rồi, trong kinh Địa Tạng nói: “Địa ngục kéo lưỡi”, bạn có thể trốn nổi không? Không cần nói bạn có hành vi này, mà khởi một ý niệm là đã tạo nghiệp rồi.Ở phần trước chúng ta đã học không ít về điều này. Khởi tâm động niệm đều đang tạo nghiệp, bản thân nếu còn muốn có quả báo tốt thì đâu có chuyện này.

Năm xưa khi tôi diễn giảng ở Hưu Sĩ Đốn, gặp được lão cư sĩ Thái (công tử của lão cư sĩ Thái Niệm Sinh), chúng tôi cùng nhau ăn cơm, bàn đến chỗ sở dĩ tu học không thể thành tựu, ông nói một câu rất hay: “Người công phu không thể thành tựu, nguyên nhân chính là không biết sỉ”. Tôi nghe xong câu nói này có cảm tưởng rất sâu. Thật vậy, không biết sỉ! Nhà Nho nói: “Tri sỉ cận hồ dũng”, dũng là tinh tấn, không giải đãi. Tại sao không thể tinh tấn vậy? Không biết sỉ! Chúng tôi hôm đó nói chuyện, bàn xong cũng rút ra một kết luận cụ thể, hy vọng chúng ta hãy phổ biến vận động biết sỉ. Chúng ta lập ra những học hội biết sỉ, tôi có ý nghĩ như vậy. Người có thể biết sỉ, đó chính là căn cơ của thánh hiền thế xuất thế gian. Bồ Tát biết sỉ, cho nên họ có thể thành tựu. Thanh Văn, Duyên Giác biết sỉ, cho nên họ có thể tinh tấn. Sao gọi là biết sỉ? Không bằng người là điều sỉ nhục. Phải lấy ai làm tiêu chuẩn? Lấy Phật Bồ Tát làm tiêu chuẩn. Chúng ta mọi thứ đều không bằng Phật Bồ Tát, đó chính là điều sỉ nhục lớn của chúng ta.

Chúng ta học tập theo Phật Bồ Tát. Phật Bồ Tát thân tâm thanh tịnh, thế xuất thế gian tất cả các pháp buông rất sạch sẽ. Các Ngài có thể làm được, tại sao chúng ta không thể làm được? Tại sao chúng ta vẫn muốn tham đắm, vẫn muốn dốc sức mưu cầu. Sai rồi! Phật pháp nói dụng tâm, đều khuyên người phát tâm Bồ Đề. Ở trong tâm Bồ Đề nói trực tâm, nói tâm chí thành, đó là hiếu. Chân thành đến cực điểm, đây là chân tâm, là bản tánh, là thể của tâm Bồ Đề. Tâm tánh khởi tác dụng, có cái đối với bản thân, có cái đối với người khác. Cái đối với bản thân là thâm tâm, thâm tâm là tâm tự lợi; đối với người khác là tâm đại bi, tâm đại từ bi là lợi tha. Cho nên, thâm tâm với tâm đại bi, đây là ý nghĩa của “Trung”. Tâm của bạn khởi tác dụng này đúng đắn, thuần chánh, không có tà.

Sao gọi là thâm tâm? Cổ đức giải thích: “Ưa đức, mến thiện”. Cách giảng này rất hay, cái tâm ưa đức mến thiện. Sao gọi là đức? Phần trước đã giảng, giữ tâm là đức. Giữ tâm gì vậy? Chúng tôi đem giáo huấn của thánh hiền thế xuất thế gian quy nạp thành mười chữ: “Chân Thành, Thanh Tịnh, Bình Đẳng, Chánh Giác, Từ Bi”. Trong tâm thường giữ mười chữ này chính là thâm tâm. Đây là tự thọ dụng. Quí vị thật sự có thể thường giữ mười chữ này thì tự nhiên khỏe mạnh trường thọ, tâm trạng vui vẻ (người thế gian gọi là hạnh phúc mỹ mãn liền biểu hiện ra ngay); sự lo nghĩ của bạn, phiền não của bạn, tội nghiệp của bạn liền có thể tiêu trừ. Nếu như làm trái ngược lại mười chữ này là bạn tạo nghiệp, bạn không thể xa lìa phiền não, không thể xa lìa lo nghĩ, không thể xa lìa nghiệp ác. Tâm giữ được mười chữ này, đây chính là có đức. Phần trước trong văn nói là “tích đức”, niệm niệm không quên mười chữ này, đây là tích đức.

Bồi công, tâm đại bi lợi tha là bồi công. Bạn thật sự tích đức, đức biểu hiện ở đâu vậy? Đức là biểu hiện ở trên hình tướng của bạn, cổ nhân gọi là: “Thành ở trong, mà hình ở ngoài”, tướng mạo của bạn, thái độ biểu hiện của bạn đã hoàn toàn đem mười chữ này biểu hiện ra rồi. Trên vẻ mặt của bạn, Phật pháp nói:“Lục căn môn đầu, phóng quang động địa”. Phóng quang là sao? Mười chữ này là phóng quang. Động địa là cảm động người khác. Tướng mạo của bạn, lời nói, cử chỉ của bạn biểu hiện ra một cách rất tự nhiên. “Nhìn Thấu, Buông Xả, Tự Tại, Tùy Duyên”, tám chữ này chính là phóng quang động địa, lại cộng thêm “Niệm Phật” thì càng không thể nghĩ bàn, vậy mới đạt đến cứu cánh viên mãn. Tôi nghĩ, mười câu này, mỗi một đồng tu chúng ta đều nhớ rất rõ ràng, đều có thể nói được, nhưng mà không có đem nó để trong tâm, không có đem nó để trong hành vi, vì vậy chúng ta công phu vẫn không đắc lực, vẫn đang tạo nghiệp lục đạo như xưa. Nói nghiệp lục đạo vẫn còn dễ nghe, trên thực tế tạo nghiệp tam đồ thì làm sao thoát khỏi?

Hôm kia đại sứ Trần hỏi tôi: “Đề mục hiện nay của chúng ta là gì?”. Tôi liền nói với ông: “Chúng tôi có tổng đề mục gồm tám chữ, đó là “Học vi nhân sư, hành vi thế phạm”. Mục đích của chúng tôi là “biết ân - báo ân”, phải thực tiễn biết ân, báo ân. Người học Phật chúng ta cứ nói “biết ân, báo ân” ở ngoài cửa miệng, hằng ngày niệm: “Trên đền bốn ân nặng, dưới cứu khổ ba đường”, nhưng sao gọi là bốn ân nặng thì không biết. Cha mẹ đối với chúng ta có ân gì; thầy cô đối với chúng ta có ân gì; quốc gia, xã hội đối với chúng ta có ân gì; tất cả chúng sanh đối với chúng ta có ân gì, được mấy người biết? Không biết chính là sỉ nhục, biết mà không thể làm được cũng là sỉ nhục, cho nên phải thật sự hiểu rõ nó. Phật pháp dạy “Tín – Giải – Hành – Chứng”, tại sao bạn không làm được? Vì bạn giải chưa đủ thấu triệt. Nếu như bạn lý giải thấu triệt rồi thì nhất định bạn sẽ làm, không cần người khác cổ vũ, không cần người khác ép buộc, tự động tự phát đi làm. Giải chưa đủ sâu, chưa đủ triệt để, tại sao lại có loại hiện tượng này? Vẫn là một câu thường nói: “Không ham học, không chịu học”,thế thì vô phương rồi! Ai có thể học được vậy? Người ham học học được.

Năm xưa tôi ở Đài Trung gần gũi thầy Lý (vào thời đó tôi còn tại gia, chưa xuất gia), tôi theo thầy một năm ba tháng, sau đó đến Đài Bắc xuất gia. Lúc đó thầy Lý đã ở Đài Trung được mười năm, học trò có mười mấy vạn người. Thầy đã nói một câu rất cảm khái: “Các bạn theo tôi mười mấy năm rồi mà chưa có học được gì cả. Người học được thì đã đi rồi”.

Đồng tu Đài Trung đến Đài Bắc để tìm tôi và nói: “Thầy nói anh đã học được từ thầy, anh học được cái gì vậy?”.

Tôi nói: “Thầy không hề đặc biệt dạy tôi. Khi lên lớp, chẳng phải tôi đều cùng học với các anh sao?Đây là lời thành thật! Thầy hoàn toàn không có đặc biệt dạy tôi. Tại sao tôi có thể học được mà các anh không thể học được? Vì tôi có tâm, các anh không có tâm. Tôi muốn học, chịu học. Các anh tuy hằng ngày ngồi ở đó, nghe nhiều hơn tôi, cơ hội nhiều hơn tôi, nhưng các anh nghe như gió thổi ngoài tai, nghe rồi không có để ở trong tâm”.

Cho nên, không chịu học, hằng ngày ở bên thầy, cả đời ở bên thầy nhưng vẫn là tạo tam đồ địa ngục, nghiệp báo. Đó thật sự là đáng tiếc.

Hôm nay chúng tôi nhìn thấy hai chữ “Trung Hiếu” thì cảm xúc của tôi thật vô cùng sâu sắc. Chú giải của đoạn văn này cũng nhiều, hơn ba mươi trang. Hy vọng quí vị xem thật kỹ, xem rồi thì tiếp tục nghe tôi giảng giải thêm. Thật sự chịu học, thích học, chăm chỉ học tập thì bạn nhất định được thọ dụng. Sự thọ dụng này không chỉ một đời, quyết định vãng sanh bất thối thành Phật.

Tốt rồi, hôm nay thời gian đã hết, chúng ta chỉ giảng đến đây.

A Di Đà Phật!

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (tập 19)

Người giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không

Giảng tại: Tịnh Tông Học Hội Singapore

Thời gian: Năm 1999

Cẩn dịch: Viên Đạt cư sĩ, Vọng Tây cư sĩ

Biên tập: Phật tử Diệu Hương, Phật tử Diệu Hiền.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 34


Hôm nayHôm nay : 7051

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 154555

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 10812598

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?