Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Thái thượng cảm ứng thiên

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (Tập 15)

Chủ nhật - 28/09/2014 13:26

Trong phần “Tích lũy công đức”, trong Hội Biên đã trích dẫn “phương pháp tích thiện” mà trong Liễu Phàm Tứ Huấn đã nói. Người tu hành là người lập chí muốn làm một người tốt, đem những hành vi không tốt chỉnh sửa trở lại. Nếu thật sự muốn đạt đến mục tiêu này thì trước tiên đối với thiện ác phải có năng lực biện biệt rõ ràng.

Thứ tư là “Thiện, có đúng, có sai”.

Thiện, có thật, có giả; có đoan, có khúc; có âm, có dương; còn có đúng - sai; có lệch - ngay; có nửa - đầy. Nếu bạn nhận thức không rõ ràng, thấy ác cho là thiện, thấy thiện cho là ác. Sự việc này thường hay xảy ra và rất có thể đã xảy ra ngay trên chính bản thân mình. Điều mà mình cả đời mong cầu là đoạn ác tu thiện, nhưng trên thực tế việc mình làm là đoạn thiện tu ác, hoàn toàn tương phản, cho nên Phật ở trong kinh luận rất cảm khái nói: “Kẻ đáng thương hại!”. Những người này thật sự đáng thương, ngay cả đúng - sai, thiện - ác còn không phân biệt rõ ràng. Lời của Lý lão sư trước đây nói càng khiến người ta tỉnh ngộ, Ngài nói: “Không những tà chánh, thị phi bạn không có năng lực phân biệt, mà lợi hại bày ngay trước mắt, bạn cũng không nhận biết”, cho nên tạo nghiệp, chịu báo ứng rất khổ. Vũ trụ nhân sanh, việc trong trời đất, không những Phật pháp nói rất rõ ràng, nói rất thấu triệt mà thánh hiền của thế gian nói cũng không ít. Những lời mà họ nói có phải là lời chân thật không?

Từ xưa đến nay trên thế giới này, lịch sử của Trung Quốc là tương đối hoàn chỉnh. Từ Hạ – Thương – Chu tam đại cho mãi đến hiện nay đều có ghi chép tỉ mỉ, chính xác. Chúng ta gọi là tín sự, tức là có thể tin cậy được, đặc biệt là đối với ghi chép về nhân quả báo ứng thì càng tỉ mỉ và chính xác hơn. Từ những sự thật này, chúng ta đã chứng minh được là giáo huấn của Phật Bồ Tát, của cổ thánh tiên hiền là chân thật, không dối. Ở trong thiện – ác luận đúng sai, người xưa có tiêu chuẩn, họ nói: “Không nói hiện tại, mà nói về sau”, cái nhãn quan này là nhìn rất sâu, thấy rất xa. Rốt cuộc là thiện hay ác, không phải nhìn bề ngoài, không phải xem trước mắt mà là “về sau”, dùng cách nói hiện nay mà nói là xem sức ảnh hưởng của họ đối với xã hội, đối với không gian và thời gian, phải từ chỗ này mà quan sát. Trước mắt là việc thiện, là việc tốt, nhưng mà ảnh hưởng có thể không tốt.

Chúng ta nêu ra một ví dụ để nói, cư sĩ Vương Long Thư hội tập kinh Vô Lượng Thọ là việc tốt, bao nhiêu người tán thán, Ngụy Mặc Thâm cũng hội tập kinh Vô Lượng Thọ. Bản hội tập của cư sĩ Vương được tiếp nhận vào trong “Long Tạng”, vào thời xưa, viết sách mà có thể nhập vào Tạng thì đó là bản thiện được mọi người công nhận, nhưng tại sao Ấn Quang đại sư lại phê bình nghiêm khắc đối với ông? Vì ông đem chữ của nguyên bản dịch sửa đổi rồi. Chữ mà ông sửa đổi, sửa rất hay, đây là thiện, nhưng Ấn Quang đại sư nói là ác. Ác ở chỗ nào vậy? Ấn Quang đại sư nhìn thấy cái hại về sau, chính là sự ảnh hưởng của nó. Vương Long Thư có thể sửa kinh, tôi cũng có thể sửa kinh, bạn cũng có thể sửa kinh, mỗi người đều đem kinh điển chỗ không hợp ý của mình sửa một chút, vậy thì kinh này lưu truyền đến đời sau là đã thay đổi hoàn toàn rồi! Sự phản đối của Ấn Quang đại sư không phải là phản đối ông không thể hội tập, hội tập hoàn toàn không bị phản đối, mà là không được sửa đổi chữ ở trong kinh. Chữ ở trong kinh cho dù dùng không hay cũng không được sửa, vì khi sửa sợ ảnh hưởng đến. Vương Long Thư sửa thì không có vấn đề gì, ông là người có tri thức, có tu trì, thật sự có thể sửa tốt. Chúng ta, người đời sau nhìn thấy, lại nghĩ, ông sửa được thì tôi cũng sửa được. Tôi thấy câu này đọc không suông, là trình độ tôi không đủ, tôi đem cái chữ khó này sửa thành chữ khác cho dễ đọc. Cứ theo ý của mình mà sửa, thế có nguy hiểm không? Cho nên không thể tùy tiện theo ý của mình, tùy tiện theo ý của mình là sai rồi. Ngay cả như Vương Long Thư, Ngụy Nguyên, những bậc đại hiền như vậy mà Ấn Quang đại sư còn quở trách họ (nhưng đối với Tịnh Độ tông, quả thật là họ có cống hiến, rất có công lao). Chính vì vậy mà bản hội tập thứ ba của lão cư sĩ Hạ Liên Cư ra đời. Bản hội tập này tránh được lỗi lầm của những bản trước, có ưu điểm, không có khuyết điểm, cho nên mọi người gọi là bản hoàn thiện của kinh Vô Lượng Thọ. Bản hoàn thiện này có rất nhiều ưu điểm.

Trong mười mấy năm gần đây, phong khí niệm Phật của các đồng tu học Phật trên toàn thế giới đã được khơi dậy. Nguyên nhân của sự khơi dậy này là do bản hội tập của lão cư sĩ Hạ, có rất nhiều người đọc bản hội tập này vãng sanh tướng lành hiếm có. Chúng ta đã tận mắt nhìn thấy như ở khu vực Singapore, Malaysia, còn chính tai nghe thấy thì quá nhiều, quá nhiều rồi. Chúng ta phải từ chỗ này mà nhìn đúng sai, đây là nêu ra một sự việc, lấy đó mà suy ra. Trong đời sống thường ngày, những hành vi tạo tác của chúng ta, nhất định phải quan sát thật kỹ sự ảnh hưởng của nó đối với chung quanh, ảnh hưởng đối với xã hội, ảnh hưởng đối với đời sau (chỗ này thông thường gọi là ảnh hưởng đối với lịch sử), chúng ta phải biết.

Nhìn xa thêm chút nữa, chúng ta thấy vào thời đại Khổng Lão Phu Tử, có rất nhiều chư hầu biểu hiện cầm quyền trị nước của họ hoàn toàn không theo ý nguyện của con người. Phu Tử chu du các nước, hy vọng có chư hầu có thể nhận biết Ngài, có thể trọng dụng Ngài. Ngài có thể giúp chư hầu trị quốc bình thiên hạ. Ngài có trí tuệ, có bản lĩnh này. Các chư hầu tiếp kiến Ngài đều tán thán Ngài, nhưng không có người nào dùng Ngài. Ngài đành phải trở về quê nhà để dạy học. Chúng ta muốn hỏi một chút, tại sao Ngài không làm cuộc cách mạng? Tại sao không lật đổ chính quyền cũ đó, rồi lên thay thế? Phu Tử không làm việc này, không phải vì Ngài không có năng lực, trong số học trò của Ngài có đến 3.000 đệ tử, 27 bậc hiền tài. Chúng ta ngày nay thử mở cuốn Luận Ngữ ra xem, các loại nhân tài đều có. Phu Tử có thể làm, hơn nữa đó là một việc làm tốt, nhưng mà ảnh hưởng về sau không tốt, sẽ tạo nên ảnh hưởng tiêu cực cho lịch sử. Không hài lòng đối với một chính quyền thì liền muốn nổi lên lật đổ nó. Bạn phải biết bao nhiêu tài sản, mạng sống của con người sẽ bị tiêu mất trong khoảng một niệm của bạn, cái tội lỗi này nặng cỡ nào? Thỏa mãn dục vọng của một mình bạn, để bao nhiêu người phải gặp nạn, việc này không được làm. Họ cầm quyền trị nước, tuy không thể hoàn toàn theo ý nguyện của con người, nhưng chưa đến lúc cần phải lật đổ. Cách mạng Thang Vũ đó là bất đắc dĩ, vì Ân Trụ Vương thật sự quá hư đốn, không coi bá tánh là con người nữa thì cuộc cách mạng này là điều nên làm. Một người cầm quyền, chưa có đến lúc này. Cho nên chư Phật Bồ Tát, đại thánh đại hiền đều cầu mong xã hội ổn định, thế giới hòa bình. Thể chế bất thiện thì cứ từ từ sửa đổi. Đây đều là hiểu được thiện - ác, hiểu rõ đúng - sai.

Người biết nhìn xa trông rộng, đây là Thánh nhân. Tuy Khổng Tử là người thuộc giới bình dân, thành tựu của Ngài là dạy học, nhưng sự ảnh hưởng của Ngài mãi đến ngày nay (hơn 2500 năm rồi), và hơn nữa còn ảnh hưởng rộng đến toàn thế giới. Trên thế giới ngày nay, bất kỳ một quốc gia khu vực nào, khi nhắc đến Khổng Lão Phu Tử thì mọi người đều biết, đều có thể sinh khởi tâm tôn kính. Chúng ta thử nghĩ, người ta nhìn sự việc như thế nào, xử lý sự việc ra làm sao? Dường như đúng, mà sai, rất khó phân biệt; dường như thiện, mà ác và cũng có dường như ác, mà thiện. Vẻ bề ngoài nhìn thấy bất thiện nhưng mà ảnh hưởng thiện. Do đây có thể thấy tiêu chuẩn của bậc thánh hiền đối với thị phi, thiện ác không giống như chúng ta. Chúng ta cần lưu ý điều này.

Thứ năm là “Thiện, có ngay, có lệch”

Sao gọi là ngay, lệch?

Ở trong đây cũng nêu ra một câu chuyện Lữ Văn Ý Công, ông là tể tướng thời ấy, nhưng đã nghỉ hưu. Khi ông nghỉ hưu trở về nhà, người trong làng đương nhiên đối với ông đều tôn kính. Trong làng có người uống rượu say, đối với tể tướng Lữ rất không có lễ độ, nói năng thô lỗ, sỉ nhục tể tướng. Tể tướng rất độ lượng, không tranh cãi với anh ta, bỏ qua, tha thứ cho anh ta. Trải qua một năm, nghe nói người này phạm tội bị xử tử hình, bị giam vào trong lao ngục. Lúc này Lữ Công cảm thấy rất áy náy và tự nghĩ: “Lúc anh ấy sỉ nhục ta, nếu ta đem anh ấy đến cửa quan để trị tội thì anh ta sẽ không đến nổi có tạo ác lớn như vậy”. Lúc ấy chỉ là một niệm tâm nhân hậu, ông đã tha thứ, bỏ qua, không biết anh ta về sau tạo lỗi lầm càng lớn hơn. Giống như những chỗ này, chúng ta trong đời sống thường ngày cũng thường hay nhìn thấy, lỗi lầm nhỏ không trừng trị, dần dần sẽ nuôi thành ác lớn. Hơn nữa sự ảnh hưởng này không tốt, hình thành mỗi người dám tạo ác thì xã hội này làm sao có thể ổn định được.

Nho, Phật là sư đạo. Ngày nay chúng ta cật lực đề xướng “Học vi nhân sư, hành vi thế phạm”. Tám chữ này là do đại học Sư Phạm Bắc Kinh đề ra, tôi nhìn thấy, rất hay. Phải đem tám chữ này phát triển mạnh lên, lưu hành đến toàn thế giới, không giới hạn ở Bắc Kinh. Chúng tôi hằng ngày đang giảng, các đồng tu mỗi ngày cũng đều đang nghe, nhưng bạn có cái ý thức này hay không? Nếu như có cái ý thức này là bạn đang tích đức, đức hạnh chân thật ở trong tâm bạn có rồi. Bạn có thể đem ý thức này thực hiện vào trong đời sống thường ngày, đó là bạn đang tích công, tích lũy công đức là như vậy mà thành tựu. Chúng ta khởi tâm động niệm, hành vi tạo tác có thể tạo nên tấm gương tốt cho xã hội hay không? Phải giữ cái tâm này, phải hành động như vậy thì bạn đúng rồi. Cho nên, bạn nhất định phải thường xuyên nghĩ, cách làm này của ta có ảnh hưởng gì đối với xã hội hay không? Có ảnh hưởng gì đối với những người học trong tương lai không? Phải thường xuyên nghĩ đến điểm này. Chúng ta phải biết, luôn luôn phía sau thiện hạnh là việc ác, không thể không cảnh giác. Có một số ác hạnh, nhưng về sau hậu quả rất tốt, đây là việc thiện nên gọi là “trong lệch có ngay”. Thiện hạnh mà về sau ảnh hưởng bất thiện thì gọi là “trong ngay có lệch”. Việc làm trước mắt không tốt, nhưng mà ảnh hưởng của nó là tốt, đó chính là trong lệch có ngay. Những sự việc này, nếu như không có sự tu dưỡng tương đối sâu thì bạn làm sao có thể nhận ra được? Hơn nữa, những sự việc này vừa tiếp xúc là phải biết ngay, không phải sự việc qua rồi sau đó mới nghĩ ra, vậy thì không kịp rồi. Khi gặp phải chuyện là biết rõ, có thể quyết đoán kịp thời, đây là học vấn, là trình độ chân thật.

Thường ngày tồn tâm dưỡng tánh không đủ sâu dày, nên gặp việc vẫn không tránh khỏi có lỗi lầm. Biết bao nhiêu lỗi lầm không có cách gì bù đắp được. Nhất là chúng ta sống trong thời đại này, thời đại mà không có người giảng đạo, cũng không có người giảng lý, đời loạn. Ở trong đời loạn chúng ta lập chí muốn làm người tốt, làm thánh hiền thì thật không dễ dàng. Đây đúng là Phật ở trong kinh thường nói, nếu như không có thiện căn, phước đức, nhân duyên sâu dày thì chúng ta không làm được. Mong cầu là một chuyện, có thể mãn nguyện hay không lại là một chuyện khác. Thế nhưng người phát nguyện chân chánh, bất kể ở trong hoàn cảnh nào cũng đều có thành tựu, chỉ cần không thoái tâm. Cái niệm “hiếu Thiện, hiếu Đức” không bị thoái chuyển, đây là nhân. Duyên là ham học. Thật sự chịu ham học, trong Phật pháp thường nói: “Ở trong cửa Phật không bỏ người nào”, bạn sẽ được Phật Bồ Tát chăm lo. Bạn có nguyện tốt mà bạn không ham học thì sẽ không thành tựu. Bạn ham học mà không có nguyện lớn thì cũng không thể thành tựu. Hạnh nguyện hỗ trợ lẫn nhau, vậy mới có thể thành tựu. Đạo lý này ở trong kinh Phật nói quá nhiều, quá nhiều rồi. Đại thánh đại hiền xưa nay, chúng ta nhìn từ bên ngoài, không có vị nào không ham học. Chư Phật Bồ Tát là những tấm gương tốt về người ham học, chúng ta cần phải học tập.

Thứ sáu là “Thiện, có bán, có mãn”

Chúng ta tiếp tục bàn đến cái mà tiên sinh Liễu Phàm gọi là “Thiện, có bán, mãn”. Mãn là viên mãn. Phàm là không được viên mãn, không đạt đến tiêu chuẩn của viên mãn thì gọi là bán. Ông nêu ra hai câu nói trong “Kinh Dịch”:

“Thiện không tích thì không đủ để thành danh.

Ác không tích thì không đủ để diệt thân”.

Hai câu nói này là danh ngôn chí lý, người tu hành nhất định phải khắc ghi trong lòng. Nói tóm lại, không tích thì không thể đầy, là không đạt đến viên mãn, cho nên các Ngài dạy chúng ta phải “tích lũy công đức”. Đức hạnh nhất định là niệm niệm không quên, từng giây từng phút phải giữ cái tâm lợi ích người, lợi ích xã hội, lợi ích chúng sanh, nhất định phải đem tự tư tự lợi xả bỏ. Người thông thường không phải không biết đạo lý này, không phải không có đọc qua sách thánh hiền; rất nhiều người đọc sách thánh hiền, họ hiểu rõ đạo lý này nhưng họ không làm được. Tại sao không làm được vậy? Vì tư dục không thể buông xả được. Từ đó cho thấy, tự tư tự lợi, đủ thứ ái dục không những là chướng ngại lớn cho tu hành, mà phước báo thế gian cũng bị nó làm chướng ngại.

Tại sao chúng sanh bị đọa tam đồ? Nhân tố ở trong đây chúng ta không khó lý giải. Đối với tam đồ địa ngục trong kinh Phật nói rất rõ ràng, rất minh bạch, chúng ta đọc rồi, nghe rồi, vẫn cứ không thể nâng cao cảnh giác. Đây chính là “tê dại chẳng biết”, chỉ chú ý đến lợi nhỏ trước mắt, không biết cái hại lớn trong tương lai, cho nên thiện ác, lợi hại, sự thật chân lý, mấy người có thể nhận thức rõ ràng, mấy người có thể làm được viên mãn? Người hiện đại họ không làm được, nói lời thành thật, không thể chỉ trích họ, cũng không thể trách họ được. Tại sao vậy? Vì không có người dạy họ. Những đạo lý lớn này nhất định phải bắt đầu dạy từ nhỏ, đây gọi là “tập thành từ nhỏ, giống như bản tánh”. Điều này rất có đạo lý, vì đến trung niên, đến lão niên, ở trong lò nhuộm xã hội đã bị ô nhiễm nghiêm trọng rồi. Tuy nghe đến cảm thấy là có lý, cũng biết gật gật đầu, nhưng khi cảnh duyên hiện tiền vẫn cứ mê hoặc điên đảo, vẫn cứ không buông được. Nguyên nhân là do nhận biết không đủ thấu triệt, mới có hiện tượng này xảy ra. Từ đó cho thấy, dạy học là quan trọng biết bao.

Thời cổ đại của Trung Quốc, chúng ta thật sự xem dạy học là việc lớn hàng đầu của đời người, bất luận là gia đình, bất luận là quốc gia, cho nên dân tộc có thể kéo dài mấy ngàn năm, đến ngày nay vẫn không bị diệt vong. Chúng ta hãy xem, đế quốc mới hưng khởi trước đây ở phương Tây đã suy rồi, thời gian không thể duy trì dài lâu. Chúng ta có quan sát nghiêm túc hay không? Nhân tố của hưng, suy là gì? Đạo lý gì được hưng vượng, đạo lý gì lại bị suy thoái? Trung Quốc đã bị suy một trận rồi, nhưng làm sao có thể phục hưng lại? Nguyên nhân này là do gốc của văn hóa rất sâu. Vào thời cận đại, mọi người nhìn thấy người phương Tây, cái gọi là đại bác súng tây, bị khuất phục dưới vũ lực nên đã mất đi lòng tự tin của dân tộc. Nhưng rốt cuộc còn có một số người già, trong tâm họ biết rõ, trong tâm hiểu rõ, giữ vững mạng mạch văn hóa dân tộc, chờ đợi cơ duyên sẽ phát triển mạnh mẽ. Cái gì là cơ duyên vậy? Mọi người tỉnh ngộ trở lại, có thể tiếp nhận lại, đây chính là cơ duyên chín muồi.

Ở trong môi trường lớn này của đất nước mấy ngàn năm hun đúc, nói lời thành thật, dễ dàng giác ngộ, mộng được thức tỉnh, đây là phước báo của người chúng ta. Người chúng ta có phước thì người thế giới có phước. Lời giáo huấn của cổ thánh tiên hiền với quan niệm của người phương Tây quả thật không giống nhau. Chúng ta từ xưa đến nay chỉ nói “thiên hạ là chung”, chỉ nói “nhân từ với nhân dân, yêu thương mọi vật”, “suy bụng ta ra bụng người”. Tấm lòng này quảng đại biết bao, thành tựu công đức viên mãn. Cho nên, dù cho nhất thời mê hoặc, có tai nạn trong thời gian ngắn, rốt cuộc có thể hồi phục.

Nói đến “bán – mãn”, thật sự mà nói đều là do giữ tâm. Trong chú giải đã nêu ra một ví dụ: Có một tín đồ vào trong miếu để thắp nhang, cúng dường hai văn tiền. Sao gọi là “hai văn”? Vào cuối đời nhà Thanh, mười văn tiền mới là một phân, mười phân mới là một giác. Thế thì bạn biết hai văn tiền là số tiền rất ít ỏi, chúng ta có thể tưởng tượng được đây là một người có gia cảnh vô cùng thanh bần, nhưng tâm bố thí cúng dường của bà chân thành, vì vậy đích thân lão Hòa thượng trụ trì trong tự viện làm lễ tiêu tai cho bà. Về sau vị nữ thí chủ này phát đạt, trở lại tự miếu để thắp nhang tạ lễ, cúng dường rất lớn, lần này là cúng dường 1.000 nén vàng. Lão Hòa thượng chỉ phái một người xuất gia làm lễ tiêu tai cho bà. Sau khi Phật sự làm xong, bà bèn hỏi lão Hòa thượng: “Con trước đây bố thí hai văn tiền thì đích thân Ngài làm lễ tiêu tai cho con. Bây giờ con cúng dường nhiều như vậy, tại sao Ngài tùy tiện phái một người xuất gia, giống như là làm lấy lệ cho con vậy?”. Lão Hòa thượng liền nói: “Trước đây, con bố thí tuy ít nhưng tâm con chân thành, thầy không đích thân làm lễ tiêu tai cho con, là có lỗi với con. Ngày nay, con bố thí cúng dường tuy nhiều, nhưng sự thành kính trong tâm của con không bằng năm xưa, nên phái bất kỳ người xuất gia nào làm lễ tiêu tai cho con cũng được”.

Ý nghĩa của “bán – mãn”, chúng ta nhìn thấy, ở đây không phải do cúng dường tiền nhiều hay ít, mà ở tâm địa chân thành. Cách nói này hay, không phải có tiền, có khả năng là có thể tu công đức lớn, tu công đức viên mãn, vậy người bần tiện là không có cơ hội tu rồi! Hiểu rõ đạo lý này thì người bần tiện thường thường có thể tu công đức viên mãn, còn người phú quý thường thường tu tích chỉ được công đức một nửa. Chúng ta hiểu rõ đạo lý này thì liền thông đạt chân tướng sự thật. Người phú quý không phải đời đời kiếp kiếp đều phú quý, người bần tiện cũng không phải đời đời kiếp kiếp đều bần tiện. Người bần tiện đời sau được phú quý, người phú quý đời sau chuyển thành bần tiện. Bạn thử hỏi, đây là đạo lý gì? Đúng là cái mà đoạn này đã nói, ở trong một hiện tượng bình thường, người phú quý kiêu mạn nhiều, người bần tiện phần lớn là khiêm tốn, cung kính. Đâu có biết rằng khiêm kính là đức, kiêu mạn làm tổn phước rồi, cho nên tu như thế nào cũng chỉ được một nửa, không đạt được viên mãn.

Ngoài ra ông còn nêu ra một câu chuyện, câu chuyện này là câu chuyện về Lữ Động Tân, cũng đáng để chúng ta soi lại kỹ càng. Đây là một trong bát tiên của Đạo giáo. Lữ Động Tân năm xưa gặp được Chung Ly (đó cũng là một trong bát tiên). Chung Ly dạy Lữ Động Tân một pháp thuật “Điểm sắt thành vàng” (bạn muốn bố thí cứu giúp những người nghèo khổ, bạn có cái năng lực này thì tiện lợi rồi). Lữ Động Tân bèn hỏi tiên sinh Chung Ly: “Tôi điểm sắt thành vàng thì vàng này có bị biến thành sắt trở lại hay không?”. Chung Ly nói cho ông biết, sau 500 năm nó mới bị biến thành sắt. Lữ Động Tân liền nghĩ: “Ta làm như vậy, há chẳng phải đã hại những người sau 500 năm đó hay sao? Pháp thuật này không cần, ta không học nữa”. Chung Ly tán thán ông, Chung Ly nói: “Tu tiên phải tích 3.000 công đức, một tâm niệm tốt này của ông thì 3.000 công đức của ông đã viên mãn rồi”. Tôi nghĩ, người hiện đại không có cái tâm này, đừng nói hại người của 500 năm sau, họ không chịu trách nhiệm, mà người hiện tại họ cũng hại. Từ trong câu chuyện này chúng ta thể hội được một sự việc, chư Phật Bồ Tát, thần tiên đều là dùng tâm yêu thương để đối xử với người, ngay cả chúng sanh của trăm ngàn năm về sau cũng nhất định không có ý niệm làm tổn hại, huống hồ hiện tại. Đây là điểm chúng ta cần phải học tập.

Sau cùng ông rút ra một kết luận rất hay: Điều quan trọng nhất là tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm từ bi, bố thí một chút tiền có thể tiêu trừ tội lỗi ngàn kiếp. Từ đó cho thấy, không do thí xả nhiều hay ít, mà do tâm niệm, tâm chân thành. Nếu như tâm địa không chân thành, tuy vàng bạc vạn dật (đây là nói của cải nhiều, chúng ta ngày nay nói của cải ức vạn) đem đi bố thí cúng dường thì phước chỉ được một nửa, không viên mãn. Đạo lý này Phật pháp nói rõ ràng, chân thành, thanh tịnh, từ bi, không dính tướng, đúng như trong Phật pháp gọi là “cảnh tùy tâm chuyển”, tâm lượng của họ lớn. Trong tâm của họ không có chướng ngại, không có phân biệt, không có chấp trước, niệm niệm tương ưng với hư không pháp giới thì công đức này đã viên mãn rồi. Nếu như ở trong tâm không có xả bỏ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, tâm lượng nhỏ hẹp, thì cho dù bố thí ức vạn vàng bạc châu báu cũng không cách gì đột phá tâm lượng của họ được, cho nên phước báo của họ không viên mãn, đạo lý là ở chỗ này. Chúng ta phải tư duy thật kỹ, quan sát thật tỉ mỉ. Chư Phật Bồ Tát giáo hóa chúng sanh, bất kể thí tài, thí pháp, mọi hành động đều tùy tâm lượng trùm khắp pháp giới mười phương. Sự thành tựu là đại viên mãn, từng niệm đại viên mãn, từng việc đại viên mãn. Ngay cả đạo lý này chúng ta cũng không biết thì làm sao mà tu được? Cho nên, học Phật không thể không rõ lý, tu phước cũng không thể không rõ lý.

Thứ bảy là “Thiện, có lớn, có nhỏ”

“Thiện, có lớn, có nhỏ” đều ở trong khoảng một niệm chí thành mà phân biệt. Một niệm lợi ích xã hội, lợi ích chúng sanh thì hạnh này là lớn. Một niệm vì tự tư tự lợi, làm việc tốt nhiều đi nữa thì cái phước thiện này cũng là nhỏ.

Trong “Hội Biên” đã trích dẫn một công án của Vệ Trọng Đạt – triều Tống (công án này chúng ta có thể nhìn thấy ở rất nhiều sách vở, bút ký của cổ nhân và có rất nhiều người biết đến). Người này cũng làm quan rất lớn, ông bị quỷ sứ bắt đi gặp Diêm Vương. Diêm Vương sai Phán quan đem hồ sơ của ông ra. Hồ sơ phân thành hai phần; một phần là ác, một phần là thiện. Phần ác số lượng quá nhiều, quá nhiều, còn phần thiện chỉ có một ít, trong hồ sơ thiện chỉ có một quyển. Diêm Vương nhìn thấy như vậy thì rất không vui, ra lệnh cho Phán quan đem cân ra cân thử. Kết quả, hồ sơ ác của ông tuy quá nhiều nhưng lại nhẹ hơn hồ sơ thiện. Vua Diêm La nhìn thấy hiện tượng này thì lập tức vẻ mặt vui hẳn lên, vua Diêm La nói: “Anh khá lắm!”. Ông bèn hỏi Phán quan: “Tôi hiện nay vẫn chưa đầy 40 tuổi, tại sao tôi lại tạo ác nhiều như vậy?”. Phán quan nói cho ông biết, ác không nhất định là tạo việc, mà động một niệm ác thì ở trong âm tào địa phủ đều có ghi chép. Ông hỏi: “Cái thiện đó của tôi là việc gì vậy?”. Phán quan nói: “Việc thiện này là triều đình muốn xây một công trình, nhưng công trình này tốn tiền và nhọc sức dân. Anh đã viết một bức tấu chương, khuyên hoàng đế không nên làm công trình này”. Anh ta nói: “Nhưng hoàng đế không nghe”. Phán quan nói: “Tuy không nghe, nhưng mà tâm niệm này của anh là vì quần chúng lo nghĩ, không phải vì lợi ích cá nhân, là vì lê dân trăm họ mà lo nghĩ. Anh dùng tâm chân thành để lo lắng cho họ, một niệm này công đức hơn vô lượng vô biên tội nghiệp của anh”. Cho nên, một niệm thiện đó rất lớn, bình thường những niệm ác đó nhiều đi nữa thì vẫn nhỏ.

Nếu chúng ta hiểu rõ đạo lý này, sửa lỗi lầm, hướng thiện, tích lũy công đức là chúng ta đã có tín tâm rồi, biết mình phải làm như thế nào. Biết sám hối thì không khó! Vô lượng kiếp đến nay, Vệ Trọng Đạt, anh ấy chẳng qua là 40 năm tích lũy ác nghiệp. Chúng ta ngày nay nói vô lượng kiếp đã tích tập những ác nghiệp này, trong một niệm thì có thể hối cải. Công án này đã đem lại lòng tin rất lớn đối với việc chúng ta sửa chữa lỗi lầm, sám hối tội lỗi, cầu phước. Điểm mà Chư Phật Bồ Tát, trời đất thần linh nhìn thấy khác với phàm phu chúng ta. Hy vọng chúng ta phải cố gắng học tập.

Tốt rồi, hôm nay thời gian đã hết, chúng ta chỉ giảng đến đây.

A Di Đà Phật!

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (tập 15)

Người giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không

Giảng tại: Tịnh Tông Học Hội Singapore

Thời gian: Năm 1999

Cẩn dịch: Viên Đạt cư sĩ, Vọng Tây cư sĩ

Biên tập: Phật tử Diệu Hương. Phật tử Diệu Hiền.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 130


Hôm nayHôm nay : 11676

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 224028

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 10882071

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?