Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Thái thượng cảm ứng thiên

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (Tập 18)

Chủ nhật - 28/09/2014 13:30

“Tùy duyên tế chúng” gồm có mười hạng mục. Phía trước đã giới thiệu qua tám điều rồi, phía sau còn lại hai điều là “Kính trọng tôn trưởng” và “Yêu quý vật mạng”.

Thứ chín là “Kính trọng tôn trưởng”.

Phật dạy người phải tùy duyên chứ không phan duyên. Phật Bồ Tát, bản thân các Ngài đã làm được rất viên mãn, làm nên tấm gương cho chúng ta thấy. Kính trọng tôn trưởng, điều này người hiện đại đã lơ là. Tại sao phải kính trọng vậy? Tôn trưởng là đối tượng để chúng ta học tập kính trọng. Nhưng thực tế, ý của Phật là muốn chúng ta tôn kính tất cả. Tại sao vậy? Bởi vì tôn kính là tánh đức. Mục đích học Phật của chúng ta là muốn làm Phật, vậy làm thế nào mới có thể làm Phật? Nhất định phải đem tánh đức phục hồi lại một cách viên mãn thì tự nhiên thành Phật ngay. Phật không phải miễn cưỡng mà thành tựu được, mà là tự nhiên thành tựu. Trong đại kinh Phật nói cho chúng ta biết: “Tất cả chúng sanh vốn dĩ thành Phật”. Vốn dĩ chúng ta đều là Phật, hiện nay thì không phải, do nguyên nhân gì vậy? Tư tưởng, kiến giải, hành vi của chúng ta đã đi ngược tánh đức, cho nên chúng ta không phải là Phật. Nếu như hợp với tánh đức, đó chính là Phật, cùng với tất cả chư Phật Như Lai không hai không khác. Từ đó cho thấy, Phật giáo hóa chúng sanh chẳng qua là giáo hóa người thuận theo tánh đức mà thôi. Thuận theo tánh đức là tự nhiên, trái ngược tánh đức chính là phá hoại tự nhiên.

Trong Phật pháp có khi không dùng danh từ “tự nhiên” này, vì sợ mọi người có chấp trước, sẽ hiểu lầm đối với danh từ này nên dùng “pháp nhĩ”. Pháp nhĩ nghĩa là gì vậy? Là giống như ý nghĩa tự nhiên vậy. “Pháp” là tất cả các pháp, “nhĩ” tức là như vậy, vốn dĩ là như vậy. Hiện tại muốn thể hội về những ý nghĩa này chúng ta cần phải có độ sâu tương đối. Tại sao vậy? Mọi người thường nói môi trường tự nhiên bị phá hoại (môi trường tự nhiên chính là môi trường sống của chúng ta), môi trường tự nhiên bị phá hoại chính là môi trường sống của chúng ta bị phá hoại. Chúng ta hiện nay sống đã cảm thấy rất đau khổ, không những trong thức ăn uống có chứa đựng biết bao nhiêu vi khuẩn gây bệnh, khiến người ăn cơm cũng thấy thấp thỏm lo âu, nước sinh hoạt hàng ngày cũng chứa đựng độc tố, mà thậm chí là trong không khí cũng hàm chứa độc tố. Thời đại này của chúng ta, nước để uống, không khí để hít thở không bằng thời đại ngày xưa. Thời đại ngày xưa, quả thật nước uống là suối trong, hít thở là không khí trong lành. Môi trường sống của chúng ta ngày nay thua xa người xưa. Do ai phá hoại vậy? Bản thân chúng ta phá hoại, thật sự là tự làm tự chịu, nhưng mà hoàn toàn không phải loài người chúng ta thảy đều đang phá hoại, thiểu số người làm mà đa số người bị liên lụy. Thiểu số người phát minh, đa số người ham muốn một chút lợi ích nhỏ, không biết mặt sau có tai nạn lớn. Đây là ngu si, là vô tri đích thực, cho nên Phật dạy người không có gì khác, chính là hồi phục tánh đức mà thôi.

Tánh đức là cái vốn có của bạn, nhưng hiện tại bạn mê rồi, do đó vô lượng trí tuệ đức năng không thể hiện tiền. Phật hết lòng hết dạ khuyên bảo chúng ta. Tại sao trí tuệ đức năng không thể hiện tiền vậy? Do mê hoặc, ngu si. Từ trong si mê sinh khởi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, thị phi, nhân ngã, tham – sân – si – mạn, những thứ này tạo nghiệp, đây chính là phá hoại môi trường tự nhiên, khiến đức năng vốn có trong tự tánh của chúng ta sinh ra chướng ngại, không thể hiện tiền, Phật gọi những người này là phàm phu. Chỉ cần trừ sạch những chướng ngại này thì trí tuệ đức năng hồi phục lại ngay, người này liền được gọi là Phật Bồ Tát. Phật Bồ Tát khác biệt với chúng sanh là ở chỗ này. Chúng ta chỉ cần tin lời Phật, hiểu rõ lời của Phật, nương theo lời Phật mà làm thì có thể hồi phục tánh đức.

Trong kinh Hoa Nghiêm, Bồ Tát Phổ Hiền đã nêu ra mười cương lĩnh tu học cho chúng ta, trong đó điều thứ nhất là “Lễ kính chư Phật”, đây cũng chính là nói tu hành chân chánh phải bắt đầu từ “Lễ kính chư Phật”. Tiên sinh Liễu Phàm ở chỗ này dạy chúng ta phải “kính trọng tôn trưởng”, chính là thực tiễn “Lễ kính chư Phật”. Đây là bước đầu thực hiện bồi dưỡng tâm kính trọng, kính yêu tôn trọng, đây là tánh đức. Sau đó dùng loại kính yêu này, kính yêu chân thành, tôn trọng chân thành, đối xử tất cả chúng sanh không còn phân biệt, không còn chấp trước nữa,đây chính là sự bộc lộ của tánh đức, chính là “Lễ kính chư Phật” của Bồ Tát Phổ Hiền thật sự thực tiễn rồi. Chỉ cần thực hiện được một điều này thì chín điều còn lại sẽ dễ làm thôi, sẽ không khó,đời sống của bạn, công việc của bạn, đối nhân - xử thế - tiếp vật, tư tưởng - ngôn ngữ - hành vi của bạn đều là hạnh Phổ Hiền, cũng chính là biện pháp tu hành của Bồ Tát Phổ Hiền, bạn đạt được rồi.

Trong Phật pháp Đại Thừa, hạnh Phổ Hiền là phương pháp tu hành thù thắng nhất, phương pháp này có thể thành Phật, hay nói cách khác, phương pháp này có thể minh tâm kiến tánh (thành Phật chính là minh tâm kiến tánh). Chúng ta hãy tư duy thật kỹ, những kinh luận này chúng ta đọc rất nhiều, khi nói đến chúng ta đều thấy rất quen, hoàn toàn không xa lạ, nhưng mà mãi mãi không thể thành hiện thực. Nguyên nhân do đâu vậy? Nguyên nhân là thực hành không đủ lực, nói lời thành thật là hoàn toàn không muốn thực hành. Không chỉ là thực hành không đủ lực, mà căn bản là không chịu làm, cho nên chúng ta không có cách gì khế nhập cảnh giới của Phật Bồ Tát. Nói lời thành thật, nghĩa chân thật của Thập Đại Nguyện Vương chúng ta hiểu chưa được thấu triệt, hoàn toàn chưa phải thật sự hiểu rõ. Thật sự hiểu rõ rồi thì làm gì có đạo lý không làm theo? Các bậc cổ thánh tiên hiền dùng phương pháp này để bồi dưỡng tánh đức. Người nếu như có thể kính trọng cha mẹ, kính trọng thầy cô giáo, kính trọng người lớn, ra tay làm từ chỗ này thì dễ dàng, nhưng ngày nay thì khó! Xã hội ngày nay tôn sùng tự tôn phổ biến, không biết tôn trọng người khác, tự đại, cho nên tập khí ngạo mạn không ngừng đang tăng trưởng, mãi luôn áp chế người khác. Tâm thái như vậy là tạo tội nghiệp cực nặng, là hoàn toàn trái ngược lại với tánh đức. Không học Phật đã là không chịu nổi rồi, học Phật vẫn muốn làm như vậy thì đâu có đạo lý nào không đọa lạc? Chúng ta phải hiểu được ý nghĩa này. Tại sao Phật phải dạy chúng ta như vậy? Phương pháp dạy học này không phải Ngài sáng tạo, không phải do Ngài thiết kế, mà hoàn toàn thuận theo tự nhiên, hoàn toàn thuận theo tánh đức. Nếu như chúng ta hiểu rõ, sáng tỏ rồi thì tự nhiên có thể y giáo phụng hành một cách rất hoan hỷ, cố gắng học tập, học tập ở trong đời sống, học tập ở trong đối nhân xử thế tiếp vật.

Thứ mười là “Yêu quý vật mạng”.

Điều này trên thực tế là khuyên bảo chúng ta phải tiết phước. Trong tự tánh có vô lượng phước đức. Chúng ta xem thấy trong kinh Hoa Nghiêm nói y chánh trang nghiêm của Phật Tỳ Lô Giá Na, trong kinh Vãng Sanh nói y chánh trang nghiêm của Phật A Di Đà ở thế giới Cực Lạc, phước báo đó không phải do tu mà có, mà là xứng tánh, cũng chính là nói hoàn toàn là tự nhiên. Sinh thái tự nhiên chưa bị phá hoại tí nào cả, bất kể là môi trường vật chất, môi trường nhân sự, tốt đẹp đến cực điểm, cho nên gọi là thế giới Cực Lạc. Trong môi trường này, việc mà Phật Bồ Tát vì chúng ta thị hiện vẫn là “Yêu quý vật mạng”, huống chi phàm phu chúng ta chưa có kiến tánh, phước báo của tự tánh còn chưa hưởng thụ được một tí nào cả. Phước báo chúng ta ngày nay hưởng từ đâu mà có vậy? Là từ tu đức mà có. Giống như bạn có phước báo, bạn có của cải, tiền muôn bạc vạn, nhưng đều ở trong ngân hàng, trên người một xu cũng không có, đi trên đường muốn ăn thứ gì cũng không được, đành chịu đói, không có người đưa thức ăn cho bạn ăn, phải làm sao đây? Đành phải tạm thời làm thuê, kiếm chút tiền để có một bữa cơm. Tạm thời làm thuê kiếm chút tiền ăn cơm là tu đức,tuy tánh đức có nhưng mà không lấy ra được. Phàm phu giống như loại tình trạng này. Chúng ta tu một chút phước đức như vậy, nếu bạn không quý trọng thì phước này sẽ hưởng hết rất nhanh.

Người xưa có một câu nói rất hay: “Lộc tận nhân vong”. Lộc là gì vậy? Là phước báo. Ví dụ tuổi thọ của bạn rất dài, khoảng 80 - 90 tuổi, phước báo có trong 80 - 90 tuổi của bạn, nhưng bạn không biết tiết phước, đến 50 - 60 tuổi đã hưởng phước hết rồi. Khi hưởng hết rồi thì tuổi thọ tuy còn nhưng cũng phải chết, vì phước không còn nữa. Từ đó cho thấy, tiết phước rất quan trọng. Người biết tiết phước, tuy tuổi thọ đến rồi nhưng phước chưa hưởng hếtthì họ sẽ không chết, tuổi thọ của họ tự nhiên kéo dài. Tại sao vậy? Vì phước chưa hưởng hết, họ còn có phước dư, chúng ta thường nói “thêm phước thêm thọ”. Thêm phước có hai phương pháp, một là tự mình biết tu phước, hai là tự mình biết tiết phước. Vừa biết tu phước, vừa biết tiết phước thì tuổi thọ của họ đương nhiên sẽ kéo dài. Đây là đạo lý nhất định.

Nho, Phật đều dạy chúng ta phải tiết kiệm, phải yêu quý vật mạng. Vật mạng này đặc biệt là chỉ động vật. Trong một câu này đã hàm chứa không sát sanh, tiến thêm một bước là không ăn thịt chúng sanh. Không ăn thịt chúng sanh là tiết phước, không nên cho rằng ăn thịt chúng sanh là việc rất bình thường, trong xã hội mọi người đều ăn mà! Trong kinh Phật nói rất rõ ràng, bạn ăn nó tám lạng, tương lai bạn phải trả nửa cân, không phải nói ăn rồi thì chẳng sao, ăn rồi thì rất phiền phức. Bạn đời này đã ăn bao nhiêu thịt động vật, phải bao nhiêu đời bạn mới có thể trả hết? Thân người khó được mà dễ mất. Mất thân người, được lại thân người là việc không dễ dàng. Nói đơn giản nhất, bạn đời này đã ăn bao nhiêu thịt chúng sanh, đời sau biến lại súc sanh, đời đời kiếp kiếp biến thành súc sanh để trả nợ, khi tất cả thảy đều trả xong rồi thì mới có thể được lại thân người. Bạn hãy thử nghĩ, sự việc này phiền phức cỡ nào. Người thế gian không biết sự lợi hại này, Phật Bồ Tát biết, người tu hành chân chánh biết, nên không kết oán thù với chúng sanh, không có vướng víu nợ nần với bất kỳ người nào. Nợ mà người khác thiếu ta, ta không cần nữa, điều này tốt, vì “cần” thì bạn còn phải đi đòi nợ, bạn đời sau còn phải đi gặp họ. Không cần nữa thì dứt nợ rồi. Thiếu nợ người ta phải nhanh chóng trả, trả thật vui vẻ thì trên đường Bồ Đề chúng ta sẽ không có chướng ngại; vãng sanh sẽ đi rất thảnh thơi, đi rất tự tại; kẻ thù, chủ nợ sẽ không đến gây khó dễ; chư Phật hộ niệm, long thiên thiện thần phù hộ. Bạn không biết tiết phước thì biết làm sao bây giờ? Tiết phước, từng li từng tí đều phải quý trọng, phải tập thành thói quen.

Tôi lần đầu tiên đến Canada để giảng kinh, đồng tu bên đó nói với tôi, ở Vancouver có một vị hộ pháp lớn, cúng dường pháp sư Tuyên Hóa một tòa nhà lớn, lúc đó tòa nhà trị giá một triệu đôla Mỹ, tôi có tham quan rồi. Nguyên nhân gì cúng dường vậy? Trong một bữa cơm, ông nhìn thấy pháp sư Tuyên Hóa dùng một tờ giấy vệ sinh (tức là giấy chùi miệng), Ngài đã dùng tám lần, dùng xong một lần thì gấp lại, dùng hết tám lần. Ông đã bị cảm động, nên cúng dường một triệu. Đây là quả báo của tiết phước. Pháp sư Tuyên Hóa, trong rất nhiều thành phố lớn ở Mỹ đều có đạo tràng, Ngài có phước báo lớn. Phước báo từ đâu mà có vậy? Do tiết phước. Ngài tiết kiệm thật sự, tiết phước thật sự, đời sống bản thân thật sự tiết kiệm, người khác không làm được. Ngài ngày ăn một bữa, không nằm đơn, ở trong phòng không có giường, giữ giới rất nghiêm, những chỗ này đáng để chúng ta tán thán, đáng để chúng ta học tập. Ngài nói về những thần thông, cái này thì chúng tôi không tán thán Ngài, nhưng mà về phương diện giữ giới, tiết phước này, chúng ta cần phải hướng về Ngài học tập. Mười điều này chúng tôi chỉ giới thiệu đơn giản với các vị đồng tu đến chỗ này. Trong chú giải nói vô cùng tường tận, mọi người tự mình có thể tham khảo.

Cảm Ứng Thiên, câu thứ mười tám là “Từ tâm với vật”, trở xuống đoạn kinh văn này là nói dưỡng tánh, “tu tâm dưỡng tánh”. Trong môn học này là nói “Tu kính”.

“Từ tâm với vật”, “vật” chính là chúng sanh. Trong Phật pháp thường nói: “Từ bi làm gốc, phương tiện làm cửa”, từ bi là đức, phương tiện là công, chúng ta thường nói công đức. Phía trước đoạn này là dạy chúng ta tích lũy công đức. Tích đức chính là giữ tâm, lũy công chính là làm việc. Tâm từ bi, người thế gian gọi là tâm thương yêu. Tại sao Phật pháp không nói thương yêu mà nói từ bi vậy? Trong đây có một nguyên nhân, thương yêu của người thế gian là tình cảm, thương yêu này sinh ra từ tình cảm; từ bi cũng là thương yêu, nhưng mà từ bi là sinh ra từ trí tuệ, là lý trí chứ không phải tình cảm. Phàm là tình cảm thì rất dễ dàng thay đổi, cho nên người thế gian nói tình yêu là chắc chắn không tin cậy được, thiên biến vạn hóa, bản thân cũng không thể khống chế được. Tâm thương yêu của Phật Bồ Tát là vĩnh hằng bất biến, nên gọi là từ bi. Nó là lý tính, nó lưu xuất từ trong tâm tánh, chân lý tự nhiên. Chân từ bình đẳng chính là Phật.

Trong kinh điển, Phật nói với chúng ta nhân hạnh của mười pháp giới, đương nhiên mỗi một pháp giới nếu nói nhân duyên thì đều vô cùng phức tạp, trong kinh Hoa Nghiêm gọi là “vô lượng nhân duyên”. Trong vô lượng nhân duyên luôn có một nhân tố quan trọng nhất, vì vậy Phật liền đem nhân tố quan trọng nhất đó để chỉ dạy cho chúng ta. Làm Phật, nhân tố quan trọng nhất chính là “Chân từ bình đẳng”, chân là thuần chân, phần trước trong “Tích lũy công đức”, chúng tôi đã từng nói qua. Một người tu hành, một người hiểu biết, người triệt để hiểu rõ chân tướng vũ trụ nhân sinh, họ có ba việc mà phàm phu thông thường chúng ta thường hay lơ là.

  • Thứ nhất, tâm của họ là chân thành chí thiện. Tâm thiện đạt đến cứu cánh viên mãn thì gọi là chí thiện. Nhà Nho cũng dạy người “chỉ ư chí thiện”, một cái tâm thuần thiện đối nhân xử thế tiếp vật. Tâm thuần thiện chính chỗ này gọi là tâm từ, đây là cái đặc sắc thứ nhất.
  • Thứ hai, thuần là một cái tâm yêu thương người, không hề nghĩ đến bản thân, giống như người mẹ hiền yêu thương con cái của họ vậy, toàn tâm toàn lực chăm lo, quên đi cả bản thân mình. Phật và đại Bồ Tát là dùng tâm yêu thương như vậy đối với chúng sanh trong mười pháp giới.
  • Thứ ba, thuần là cái tâm lợi ích chúng sanh.

Ba điểm này đã đem tâm hạnh của chư Phật Bồ Tát nói hết rồi. Ba sự việc này, chúng ta hãy quan sát thật kỹ, hầu như là thông với tất cả tôn giáo. Tuy giáo nghĩa của mỗi tôn giáo không giống nhau, nghi thức không giống nhau, nhưng ba điểm này là có điểm chung, nên tôn giáo có thể viên dung hòa hợp, và có thể nói đây là pháp cơ bản. Bắt đầu làm từ trên pháp cơ bản này, phát triển mạnh mẽ. “Hoa Nghiêm” là một điển hình, “Pháp Hoa” cũng là một điển hình, thử xem kinh luận Đại Thừa của nhà Phật, giáo điển nhất thừa, không cái nào không lấy ba nhân tố này. Dung hợp đủ dạng chủng loại khác nhau trong hư không pháp giới, chúng ta ngày nay gọi là văn hóa khác nhau, phương thức sống khác nhau, tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, dùng ba nhân tố này là dung hợp rồi. Chí thiện, chân từ, lợi ích đối với tất cả chúng sanh, thật sự làm được quên mình vì người. Phật là đại trí đại giác, chúng ta nói giác hạnh của Ngài viên mãn. Phàm là người đại trí đại giác thì nhất định có đầy đủ ba nhân tố này, có thể dùng bình đẳng tâm từ làm bạn.

Nhà Phật dạy người dưỡng sinh, đây là tất cả chúng sanh có thể nói là không phân chia chủng loại, không phân tôn giáo, việc quan tâm nhất là làm thế nào gìn giữ khỏe mạnh, trường thọ, hạnh phúc, vui vẻ là dưỡng sinh. Nếu muốn thân thể khỏe mạnh, trường thọ, điều quan trọng nhất chính là phải có tâm từ bi. Đây là điểm mà rất nhiều người thường hay lơ là. Tâm địa thanh tịnh, từ bi thì sẽ không sinh bệnh. Tất cả mọi ốm đau, phiền não sinh ra từ đâu vậy? Nếu chúng ta quan sát tỉ mỉ thì sẽ biết, đây là sinh ra từ ô nhiễm. Đạo lý này không khó hiểu. Mấy hôm nay tôi nghe người ta nói, trên báo tạp chí đăng tin thịt bò châu Âu lại xảy ra vấn đề, lại không thể ăn, thậm chí là trong rượu nho có trộn lẫn máu bò trong đó, nhuộm đỏ cả rượu nho. Mọi người trong tâm đều hoảng hốt, đây là rất rõ ràng, ô nhiễm chính là nguồn gốc của bệnh tật. Tâm địa thanh tịnh, không có ô nhiễm thì sẽ không sinh bệnh. Từ bi có thể hóa giải tất cả những điều chẳng lành, không những có thể giải độc đối với bản thân, mà tâm từ bi còn có thể hóa giải tất cả sự hiểu lầm, kỳ thị giữa những tôn giáo khác nhau, chủng tộc khác nhau của thế gian. Cho nên tất cả những điều chẳng lành, tâm từ bi có thể hóa giải.

Vọng tưởng của tôi, tôi đã suy tính nhiều năm rồi, hy vọng có thể thành lập một ngôi trường học đa nguyên văn hóa. Đa nguyên văn hóa dạy cái gì vậy? Chính là dạy tâm chí thiện, tâm từ bi, tâm lợi ích chúng sanh. Phòng nghiên cứu đa nguyên văn hóa, khoa đa nguyên văn hóa, nội dung chương trình giảng dạy là ba điểm này. Ba điểm này ở trong Phật pháp nói chính là Bồ Tát. Trong tâm từ bi, điều quan trọng nhất là không sát sanh. Trong “Tịnh Nghiệp Tam Phước”, điều đầu tiên là “hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm bất sát, tu thập thiện nghiệp”. “Yêu thương vật mạng”, “vật” là nói tất cả chúng sanh, đối với tất cả chúng sanh không được phép có ý nghĩ sát hại, không những không được sát, mà tổn hại cũng không được phép,vậy mới là tâm từ thật sự, là cơ sở của tất cả mọi giới luật, căn bản của giới hạnh.

Phật Bồ Tát dạy chúng ta đạo dưỡng sinh, đặc biệt chú trọng tâm từ bi. Người thế gian dưỡng sinh chỉ biết sinh lý, ăn uống phải vệ sinh, “vệ” là bảo vệ, bảo vệ sinh lý, mong cho sinh lý khỏe mạnh, nhưng nhân tố chân thật của sinh lý khỏe mạnh họ chưa tìm ra. Cho nên, dù lựa chọn thức ăn khỏe mạnh nhất, họ vẫn cứ bị bệnh, họ vẫn cứ bị già, chết. Nguyên nhân gì vậy?  Đối với khỏe mạnh, trường thọ, việc giữ gìn sinh lý khỏe mạnh không phải là nhân đứng đầu, nó là nhân thứ hai, đây là trị ngọn, không phải trị gốc. Từ đó cho thấy, người coi trọng vệ sinh là trị ngọn, không trị gốc. Gốc là gì vậy? Gốc là tâm! Trong kinh Phật thường nói: “Y báo chuyển tùy theo chánh báo”, thân thể này của chúng ta là y báo, tâm là chánh báo. Tâm lý khỏe mạnh thì sinh lý chúng ta phần lớn là khỏe mạnh;phương diện ăn uống hơi chú ý một chút, thế là sống vô cùng khỏe. Tâm lý không khỏe mạnh, sinh lý điều dưỡng thế nào đi nữa vẫn chẳng giúp ích gì được. Loại điển hình này chúng ta thấy quá nhiều rồi.

Thời cổ đại, những đế vương, văn võ đại thần, đối với bảo vệ về mặt sinh lý đều là tìm một số chuyên gia, những người lỗi lạc đến chăm lo cho họ, nhưng họ vẫn đoản mạng như thường. Quí vị hãy thử kiểm tra xem, đế vương các đời được mấy người sống đến 70 tuổi? Không có mấy người, đại đa số là 40 tuổi - 50 tuổi thì mạng sống đã kết thúc. Năm - sáu mươi tuổi là trường thọ rồi. Người 70 tuổi trở lên thật hiếm có, người xưa gọi là tuổi xưa nay hiếm. Nguyên nhân gì vậy? Đã lơ là vệ sinh tâm lý, họ chỉ biết vệ sinh sinh lý, họ không biết vệ sinh tâm lý. Cho nên, tâm từ bi là quan trọng hơn cả. Chúng ta dưỡng thân thể, còn phải biết dưỡng tính tình.

Ăn uống trong nhà Phật, tại sao lựa chọn ăn chay vậy? Phật Thích Ca Mâu Ni năm xưa còn tại thế khuyến khích chúng ta ăn chay, nhưng bản thân Ngài không có thực hành ăn chay, đó là do môi trường sống không cho phép. Đức Phật là người vô cùng từ bi, người từ bi không muốn phiền phức người khác. Đức Phật mỗi ngày ra ngoài đi trì bát, khi trì bát, người ta ăn cái gì thì cúng dường cái ấy, vậy là thuận tiện. Nếu như Phật muốn đề xướng ăn chay, vậy mỗi một nhà đều phải chuẩn bị một chút thức ăn chay để ứng phó người trì bát, vậy thì phiền phức biết bao. Ngài không muốn thêm phiền phức cho người, đây là tùy duyên. Chư Phật Bồ Tát tùy duyên không sao cả, bởi vì tâm họ từ bi, họ không có phân biệt, không có chấp trước, tâm của họ thanh tịnh, không bị ô nhiễm. Chúng ta là phàm phu, tâm của chúng ta không thanh tịnh, tâm chúng ta sẽ bị ô nhiễm, cho nên không thể không có lựa chọn.

Phật giáo Trung Quốc áp dụng ăn chay bắt đầu từ Lương Vũ Đế. Lương Vũ Đế đọc kinh Lăng Già, trong kinh Phật khuyến khích Bồ Tát không nên ăn thịt chúng sanh. Sau khi ông đọc xong, ông vô cùng cảm động. Bản thân ông áp dụng ăn chay và khuyến khích người xuất gia cũng áp dụng ăn chay. Vận động ăn chay là được triển khai như vậy. Phật giáo đồ trên toàn thế giới đều không có ăn chay, ăn chay chỉ có ở Trung Quốc.

Phật giáo đồ xuất gia trên toàn thế giới, trên đỉnh đầu không có đốt liều, đốt liều chỉ có ở Trung Quốc. Đốt liều trên đỉnh đầu ý nghĩa là gì vậy? Trong kinh Phật nói: “Thắp sáng bản thân, soi sáng người khác”, là chúng ta phát nguyện xả mình vì người. Hiểu được ý này là được rồi, không phải bảo bạn đem thân thể đốt cháy thật sự. Thân thể đốt cháy rồi, bạn lấy gì để giúp đỡ người khác? Chư Phật Bồ Tát chính là phục vụ chúng sanh, vì chúng sanh phục vụ, vì nhân dân phục vụ. Bạn không có một thân thể khỏe mạnh, bạn lấy gì phục vụ? Nhà Phật nói đốt thân, đốt ngón tay, đốt cánh tay, đều là lấy ý nghĩa xả mình vì người. Nếu bạn hiểu sai ý nghĩa, thật sự đem thân thể đốt mất, ngón tay đốt mất, cánh tay đốt mất, bạn biến thành tàn phế, việc gì cũng không làm được. Bồ Tát Quan Thế Âm hai tay còn không đủ, phải ngàn tay, ngàn mắt. Chúng ta có hai tay còn muốn đem nó đốt đi, vậy thì thành cái gì? Ý nghĩa hiểu sai rồi! Tổ sư đại đức dạy chúng ta đốt liều trên đỉnh đầu, để bạn từng giây từng phút ghi nhớ, ta đã từng phát nguyện xả mình vì người. Thế nhưng có rất nhiều người trên đầu đã đốt rất nhiều liều. Tôi đã từng nhìn thấy, có một vị xuất gia, trên đỉnh đầu đã đốt khoảng chừng ba - bốn chục vết liều, đốt nhiều như vậy. Đây là tự tư tự lợi, cống cao ngã mạn! Ông ta đốt nhiều, người khác đốt ít, “tôi nhiều hơn anh”, cống cao ngã mạn,hoàn toàn không hiểu ý nghĩa của đốt liều! Cho nên, trên người đốt hay không đốt chẳng có quan hệ gì, trong tâm phải nhớ kỹ lời giáo huấn của Phật, thật sự phát tâm vô điều kiện, vô tư vì tất cả chúng sanh phục vụ.

Ăn chay vô cùng quan trọng. Ăn chay là dưỡng sinh, dưỡng tâm, dưỡng tánh. Tánh, dùng cách nói hiện nay là tinh thần, tức là trong ăn chay cũng có cái không tốt cho tính tình, Phật đều đem nó lựa ra. Mọi người biết, nhà Phật nói rau ngũ huân, “huân” có bộ thảo đầu, huân không phải thịt, cho nên rất nhiều người nói ăn huân là ăn thịt, đây là sai rồi! Huân không phải thịt, huân là rau. Thịt, nhà Phật gọi là “huân tanh”. Huân là năm loại rau, mọi người đều biết, đó là tỏi, kiệu (chúng ta gọi là kiều đầu), rau hẹ, hành, hưng cự (chúng ta gọi là hành tây), những thứ này ảnh hưởng sinh lý. Người không có công phu, người không có định công, nếu ăn sẽ gây ra hiệu quả không tốt, cho nên nhà Phật tránh nó. Năm loại này gọi là huân thái. Trong kinh Lăng Nghiêm, Phật nói rõ ràng, ăn sống rất dễ động can hỏa, nóng nảy bứt rứt. Cho nên Phật mới khuyên người sơ học, bạn muốn bảo vệ tâm trạng lương thiện của mình phải để ý, việc ăn uống sẽ ảnh hưởng tâm trạng. Ăn chay gìn giữ tâm từ bi, không ăn thịt chúng sanh, cho nên ăn chay là vệ sinh, vệ tánh, vệ tâm. Đây là sự lựa chọn tốt nhất, là đạo dưỡng sinh tốt nhất, nó dưỡng sinh, dưỡng tánh, dưỡng tâm. Đây là đại học vấn. Từ chỗ này sinh khởi tâm yêu thương, bảo vệ tất cả chúng sanh, hoan hỷ, vô điều kiện chăm lo tất cả chúng sanh, giúp đỡ tất cả chúng sanh. Tâm Bồ Đề là sinh ra từ đây.

Phật thường hay khuyên chúng ta phát tâm Bồ Đề, nhưng tâm Bồ Đề chúng ta không biết phát từ đâu? Tâm Bồ Đề phải phát ra từ trong tâm yêu thương, và tâm thương yêu này không kèm thêm bất kỳ điều kiện nào. Tâm thương yêu có điều kiện thì không phải tâm Bồ Đề. Tâm thương yêu vô điều kiện mới là tâm Bồ Đề. Tâm thương yêu vô điều kiện rất khó phát. Khó ở chỗ nào vậy? Khó ở chỗ chúng ta không hiểu rõ chân tướng vũ trụ nhân sinh. Nếu như bạn hiểu rõ rồi thì tâm Bồ Đề tự nhiên liền phát được. Chân tướng vũ trụ nhân sinh là gì? Hư không pháp giới tất cả chúng sanh là chính mình, đây mới là chân tướng. Cách nói này của tôi mọi người dễ hiểu, cách nói trong kinh của Phật mọi người nghe xong rất khó thể hội ý nghĩa. Cách nói trong kinh Phật là thế nào vậy? “Mười phương ba đời chư Phật cùng chung một pháp thân”. Cách nói này khi nghe rất khó hiểu, nên tôi đổi lại một chút, “hư không pháp giới tất cả chúng sanh là chính mình”. Các bạn thử nghĩ xem, đến khi nào bạn có thể thể hội được, đến khi nào bạn thừa nhận, bạn khẳng định rồi thì tâm yêu thương của bạn tự nhiên liền phát ra. Tâm yêu thương đó là tâm từ bi bình đẳng, đó là tâm Bồ Đề chân thật.

Tốt rồi, hôm nay thời gian đã hết, chúng ta chỉ giảng đến đây.

A Di Đà Phật!

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (tập 18)

Người giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không

Giảng tại: Tịnh Tông Học Hội Singapore

Thời gian: Năm 1999

Cẩn dịch: Viên Đạt cư sĩ, Vọng Tây cư sĩ

Biên tập: Phật tử Diệu Hương, Phật tử Diệu Hiền.

 

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 20


Hôm nayHôm nay : 1128

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 206594

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9984361

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?