Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Con Đường Đạt Đến Nhân Sinh Hạnh Phúc

Con Đường Đạt Đến Nhân Sinh Hạnh Phúc (Tập 16)

Thứ năm - 05/07/2018 06:55

Có nhiều vị rất quen mặt, tối nào cũng đến nghe giảng, chứng tỏ là sau khi hết giờ làm việc, ăn cơm xong, thậm chí chưa ăn cơm đã vội đến nghe giảng. Khổng Lão Phu Tử có nói, một người cầu học vấn có ba pháp bảo là “Trí, nhân, dũng”: “Hiếu học cận hồ trí, lực hành cận hồ nhân, tri sỉ cận hồ dũng” (Thích học là đã gần với trí, nỗ lực hành thiện là đã gần với nhân, người biết thẹn là đã gần với dũng). Chỉ cần ham học thì sẽ dần có trí huệ. Khi chúng ta nỗ lực thực hiện lời giáo huấn của Thánh Hiền thì dần dần sẽ cảm nhận được chủ tâm của Thánh Hiền và cũng có thể cảm nhận được nhu cầu của mọi người, từ đó tâm đồng cảm, tâm nhân từ của chúng ta cũng sẽ xuất hiện.

“Tri sỉ cận hồ dũng”. Thật sự có thể nhận ra được lỗi lầm của mình, bước tiếp theo là điều chỉnh lỗi lầm của mình, thì có thể hàng phục phiền não, thói quen xấu của mình, đây mới là người dũng đích thực. Rất nhiều vị đã làm được “hiếu học cận hồ trí”, và sự ham học của quý vị sẽ đem lại cho gia đình mình sự ảnh hưởng rất tốt.

Tôi nhớ lúc tiếp quản phòng chứng khoán của ngân hàng thì cha tôi đã hơn năm mươi tuổi. Bởi vì tiếp quản phòng chứng khoán thì trong đơn vị phải có một người có chứng chỉ hành nghề, nên đã cử rất nhiều đồng nghiệp cùng đi thi để lấy chứng chỉ. Cha tôi là người cao tuổi nhất, đã hơn năm mươi tuổi rồi vẫn đi thi. Tôi thấy tối đến cha tôi ngồi đó xem sách. Kết quả thi chỉ có cha tôi đỗ, những người trẻ tuổi khác đều thi trượt. Quý vị xem, cha tôi không nói gì, nhưng chính hành động của ông đã khiến chúng tôi khâm phục ông rồi. Những người làm con cái như chúng tôi đây có thể không ham học được không? Có thể thua cha của mình sao? Cho nên trên làm dưới noi theo. Khi tâm ham học này của chúng ta có thể duy trì không ngừng, tin rằng đây nhất định là sự khởi đầu rất tốt cho gia đình của chúng ta.

*******************

CHƯƠNG HAI

XUẤT TẮC ĐỄ (BIỂU HIỆN NGƯỜI EM)

“Xuất tắc đễ”, chữ “xuất” này là chỉ khi ra ngoài thì phải học tập “đễ”. “Đễ” là thái độ lễ độ, bao gồm anh nhường em kính, tôn kính người lớn. Bởi vì anh em trong gia đình có thể tương thân tương ái với nhau, có thể đối với nhau có lễ độ thì đương nhiên khi họ ra ngoài giao tiếp với mọi người cũng sẽ mang theo thái độ này để đối nhân xử thế. Nếu như trong nhà anh em thường hay cãi nhau, không giữ lễ nghĩa, thì khi ra ngoài họ không thể có nề nếp. Vì vậy, muốn nhận biết một người thì trực tiếp vào nhà của họ là có thể nhìn thấy rõ ràng nhất. “Không vào hang cọp sao có thể bắt được cọp”. Rất nhiều hành vi đối nhân xử thế của chúng ta quả thật hình thành từ trong gia đình. Đó là lý do tại vì sao giáo dục gia đình quan trọng như vậy! Có câu: “Môn đăng hộ đối”. “Môn đăng” là gì? “Hộ đối” là gì? Điều quan trọng nhất là gia giáo và đức hạnh. Hiện nay, “môn đăng hộ đối” là gì vậy? “Là tiền tài”. Sao quý vị đều biết hết vậy? Tôi thì ít kinh nghiệm hơn quý vị. “Đối” sai rồi! Bản chất sai rồi thì kết quả sẽ phiền phức. Cho nên đức hạnh mới là gốc của gia đình, mới là gốc của quốc gia, tuyệt đối không phải tiền tài.

Trong “Hiếu Kinh” có một đoạn giáo huấn rất quan trọng: “Giáo dân thân ái, mạc thiện ư hiếu. Giáo dân lý thuận, mạc thiện ư đễ”. Muốn dạy dỗ nhân dân yêu thương người khác, quan tâm người khác, thì không có gì hiệu quả bằng việc dạy hiếu, “mạc thiện ư hiếu”. Muốn dạy nhân dân có chừng mực, biết tôn kính người khác, “giáo dân lý thuận”, thì không có phương pháp nào tốt hơn là dạy đễ, “mạc thiện ư đễ”. Vì vậy, “đễ” còn bao gồm giáo huấn về lễ độ. Khổng Phu Tử cũng nói: “Bất học lễ, vô dĩ lập”. Không có lễ độ thì rất có thể không có chỗ đứng trong xã hội.

Trong bài giảng mấy ngày trước, tôi cũng đã báo cáo qua với quý vị, lúc tôi còn nhỏ đã hình thành một thói quen, đó là chỉ cần có người lớn đến nhà, khi tôi nghe thấy tiếng của họ, thì bất kể đang làm việc gì tôi cũng nhất định sẽ đi đến trước mặt họ và nói: “Con chào chú ạ! Con chào dì ạ!”. Nụ cười của quý vị rất giống chú của tôi. Trẻ nhỏ có lễ phép thì người lớn chắc chắn sẽ rất vui. Khi tôi ngẩng đầu lên, tôi thấy họ rất vui và tôi cũng rất sung sướng. Bởi vì khi một người đang làm việc có đức hạnh, thực ra niềm vui của họ đã xuất phát từ trong nội tâm. Tôi bỗng nhiên cảm nhận được, hóa ra một người có được gặp quý nhân hay không thì từ nhỏ đã quyết định rồi. Quý vị có tin không?

Tôi mở buổi tọa đàm giữa phụ huynh và thầy cô giáo. Tôi nói với họ là: “Con quý vị sau này có được gặp quý nhân hay không, bây giờ tôi có thể đoán được”. Họ đều tròn mắt nhìn tôi. Bởi vì người hiện nay rất thực tế, khi nhắc đến con cái có thể gặp quý nhân là họ rất chú tâm. Con cái có lễ phép thì đi đến đâu cũng sẽ được mọi người yêu mến. Ngược lại, nếu như con cái không có lễ phép thì không những không thể gặp được quý nhân, không được nhiều sự trợ giúp, mà trong lời nói, hành vi còn có thể tạo thành rất nhiều sự cản trở. Chúng cảm thấy rất kỳ lạ là “tại sao người ta nhìn mình cảm thấy chướng mắt”, và bản thân chúng cũng không biết tại sao. Cho nên, lễ phép rất quan trọng.

Quý vị bằng hữu! Lễ phép quan trọng như vậy nên chúng ta phải dạy từ khi nào? Tôi cũng hỏi các phụ huynh rằng: “Thi được thêm hai điểm quan trọng hay là dạy các em thái độ làm người, làm việc quan trọng?”. Họ trả lời là “làm người, làm việc quan trọng”. Phụ huynh đều cảm thấy là làm người, làm việc quan trọng, nhưng phần lớn họ mất thời gian vào điểm số của con cái. Việc quan trọng thì không thể trì hoãn nữa! Trì hoãn nữa, khi các em lớn thì thói quen đã trở thành tự nhiên. Vì thế, rất nhiều việc không thể trì hoãn được. Tôi chưa có con nhưng cũng sốt ruột thay cho quý vị. Chúng ta nhất định phải xem trọng những đức hạnh quan trọng có sự ảnh hưởng đối với cả đời của trẻ, như thế trẻ sẽ nhận được nhiều sự trợ giúp.

Chúng ta hãy suy nghĩ xem, nếu như giao tiếp giữa con người với nhau không có lễ phép, thì sẽ xuất hiện những tình huống gì? Ví dụ lần trước tôi leo lên Vạn lý Trường Thành, trên đó có ghi: “Không lên Trường Thành không phải là hảo hán”. Cho nên muốn làm hảo hán thì hãy leo lên Vạn lý Trường Thành. Trên Vạn lý Trường Thành có những ô cửa chỉ có thể vừa cho một người ở phía kia đi lại và một người chúng tôi phía bên này đi qua. Nhưng ở ngay chỗ ô cửa này có rất nhiều người không giữ nề nếp, đi chen vào đường phía bên đối diện. Kết quả là tất cả mọi người bị tắc ở ô cửa này. Các vị thầy của trung tâm chúng tôi thấy vậy biết là không được rồi, bởi vì người phía sau không biết được tình hình ở đây, nên họ vẫn cứ chen lên tiếp, phía bên kia cũng cứ chen lên, đến lúc đó có thể sẽ xảy ra vấn đề. Thầy giáo của chúng tôi lập tức đứng ra bắt đầu phân luồng giao thông, yêu cầu những người đó phải xếp hàng. Những người đó nghĩ rằng chúng tôi là ban quản lý Vạn lý Trường Thành. Vì thế, có những lúc chúng ta cần phải đứng ra thì vẫn phải đứng ra liền, nếu không tình hình có thể sẽ như thế nào? Đến khi xảy ra vấn đề, các vị muốn làm cũng không thể làm được. Do đó, nắm bắt thời cơ là điều rất quan trọng. Sau nỗ lực của chúng tôi thì việc đi lại trên Vạn lý Trường Thành đã lưu thông tốt. Cho nên, giữa con người với nhau mà không có lễ thì dễ sinh ra tự tư tự lợi và có khả năng sẽ xảy ra xung đột.

Vừa rồi tôi đến núi Thiên Mục ở Hàng Châu giảng dạy năm ngày. Lúc chúng tôi lên núi, phía bên kia có hai chiếc xe chạy theo chiều ngược lại. Chúng tôi nhìn thấy liền chủ động tránh sát vào lề, nhường cho họ chạy trước. Chúng tôi nhìn thấy người trên chiếc xe thứ nhất chạy qua rất vui vẻ, vẫy tay chào. Chúng tôi cũng vẫy tay chào lại. Khi một người có lễ phép, lịch sự, nhất định sẽ khiến người khác cảm thấy như được tắm trong gió xuân. Biết vui như vậy tại sao không làm? Chúng tôi đợi một lúc vẫn chưa thấy chiếc thứ hai chạy qua, cảm thấy rất khó hiểu, liền phái người đến xem sao. Kết quả chiếc xe thứ hai cũng dừng sang bên đợi chúng tôi đi qua. Thế là chúng tôi liền cho xe chạy qua, người ngồi trên hai xe đều nở nụ cười rất rạng rỡ. Khi người với người đều lễ kính như vậy thì sẽ cảm thấy vô cùng thoải mái.

Trước khi lên núi, chúng tôi đã khảo sát dân tình, biết được người dân ở Thiên Mục Sơn rất đôn hậu, chất phác. Cho nên, chúng ta từ trong đời sống cũng thường có thể cảm nhận được: Biết lễ phép, biết nhường nhịn thì đường đời mới có thể thuận lợi, mới không đến nỗi bị kẹt xe, bị xung đột. “Giáo dân lý thuận, mạc thiện ư đễ” (dạy dân chúng tôn trọng lễ tiết, không gì hơn việc dạy họ đạo nhường nhịn). Chúng ta từ trong gia đình hãy thực tiễn tình hữu ái, thực tiễn lễ phép.

  1. Kinh văn: 

“Huynh đạo hữu, đệ đạo cung. Huynh đệ mục, hiếu tại trung. Tài vật khinh, oán hà sinh. Ngôn ngữ nhẫn, phn tự mẫn”.

“Anh thương em, em kính anh. Anh em thuận, hiếu trong đó. Tiền của nhẹ, oán nào sinh. Lời nhường nhịn, tức giận mất”.

1.1          “Anh thương em, em kính anh”

Anh em là ruột thịt, là máu mủ ruột rà, là cùng cha mẹ sinh ra, cho nên anh em rất có khả năng sẽ đi chung với nhau lâu dài nhất trên đường đời. Thiền sư Pháp Chiếu đã từng viết một bài “Từ” miêu tả tình nghĩa anh em:

“Đồng khí liên chi các tự vinh

Ta ta ngôn ngữ mạc thương tình

Nhất hồi tương kiến nhất hồi lão

Năng đắc kỷ thời vi đệ huynh.

 

Đệ huynh đồng cư nhẫn tiện an

Mạc nhân hào mạt khởi tranh đoan

Nhãn tiền sinh tử hựu huynh đệ

Lưu dữ nhi tôn tác dạng khán”.

“Đồng khí liên chi các tự vinh”. Anh em giống như những cành cây trong cùng một thân cây.

“Ta ta ngôn ngữ mạc thương tình”. Sự giao tiếp giữa người với người, giao tiếp trong gia đình, thường dùng nhất chính là ngôn ngữ. Vì vậy, ngôn ngữ cần phải nhu nhuyến, hòa nhã, tuyệt đối không nên nói chuyện khích bác. “Đệ Tử Quy” chúng ta nói: “Lời nhường nhịn, tức giận mất”. Sự xung đột giữa người với người tuyệt đại đa số là do nói năng không hợp nhau.

“Nhất hồi tương kiến nhất hồi lão”. Thật sự sau khi chúng ta đến ba - bốn mươi tuổi, mỗi lần nhìn thấy anh chị em cũng đều có cảm giác là “tóc của anh lại bạc nhiều hơn nữa rồi!”. Cho nên “năng đắc kỷ thời vi đệ huynh”. Chúng ta càng lớn tuổi, chứng tỏ đường đời chúng ta cũng sắp đi hết rồi, phải cố gắng quý trọng tình nghĩa này. Vì vậy “đệ huynh đồng cư”, cùng ở chung với nhau, “nhẫn tiện an”, phải biết nhường nhịn nhau, khiêm nhường nhau.

“Mạc nhân hào mạt khởi tranh đoan”, không nên vì một chuyện rất nhỏ mà tranh chấp nhau. “Nhãn tiền sinh tử”, hiện nay anh chị em đều có con cái rồi, chúng lại có anh chị em, nên chúng ta là người đời trước cần phải làm nên tấm gương “anh nhường em kính” thì mới có thể “lưu dữ nhi tôn”, làm gương tốt cho con cháu xem.

Bài thi “Từ” này của Thiền sư Pháp Chiếu đáng để chúng ta nghiền ngẫm thật tỉ mỉ. Bài này khiến tôi nhớ đến lời cô giáo Dương Thục Phương đã từng nhắc tôi rằng, anh chị em là cùng ruột thịt với nhau. Cô thường nghĩ phải làm sao để cho cha vô cùng vui vẻ, hạnh phúc. Cô nói chỉ có con cháu ngoan hiền, hiếu thảo, con cháu đều phát triển tốt đẹp mới có thể khiến cho cha của cô được an ủi. Bởi do cô có tấm lòng như vậy, hy vọng cha mẹ của cô là cây đại thụ, cành lá của cây đại thụ này có thể càng ngày càng xum xuê, nên lúc cô còn rất trẻ đã bắt đầu dạy cháu trai của cô học Kinh điển Thánh Hiền và viết thư pháp.

Cô Dương có mười tám người cháu. Mười tám người cháu đều được cô dạy dỗ. Bởi vì cô có tấm lòng như vậy, nên thế hệ sau của họ vô cùng ưu tú, rất nhiều người là giáo viên, một số người làm bác sĩ. Thật sự muốn một gia tộc có thể tốt lên, tất nhiên người lớn phải dẫn đầu làm gương, phải thật tâm biết hy sinh. Cho nên “anh nhường em kính” không chỉ ở thế hệ của họ, mà còn phải đem tình anh nhường em kính này kéo dài đến con cháu đời sau. Cô giáo Dương không có con, nhưng mỗi lần đến ngày lễ của mẹ, ngày lễ của cha, nhà của cô vô cùng đông vui, bởi vì cô có đến mười tám người cháu (có lẽ đông con hơn quý vị một chút). Tôi ở nhà của cô được nửa năm, khi đến những ngày lễ này đều đặc biệt đông vui. Những người cháu được cô dạy bảo này thật sự vô cùng hiếu thảo đối với cô.

Ngoài ra, tôi còn có một người anh kết nghĩa sống ở Đài Trung. Anh chị em của anh ấy cũng rất yêu thương nhau. Thứ bảy và chủ nhật, khi có thời gian, không cần hẹn trước, họ đều chủ động về bên cạnh cha mẹ. Bởi vì cha của anh mất sớm, nên nửa đời còn lại của mẹ anh đều do anh chị em của anh thường xuyên bầu bạn cùng bà. Mẹ của anh ấy mấy năm trước cũng qua đời. Lúc bà qua đời tôi cũng có đến tham dự tang lễ. Sau khi tham dự tang lễ tôi rất cảm động, bởi vì tôi nhìn thấy thế hệ sau của anh (những người cháu của anh) đều có tố chất rất tốt. Bởi vì anh chị em của anh yêu thương nhau như vậy đã làm nên tấm gương tốt cho thế hệ sau. Tôi có thói quen là khi nhìn thấy kết quả thì phải tìm cho ra nguyên nhân.

Sau đó anh ấy lại nói với tôi là mặc dù mẹ anh qua đời nhưng trong lòng anh vẫn rất mãn nguyện. Tại sao vậy? Bởi vì cuộc sống hơn mười năm nay của anh, anh đã cố gắng từ chối rất nhiều cuộc xã giao vô vị, dành tất cả thời gian để ở bên mẹ. Khi mẹ của anh qua đời, anh cảm thấy rất an ủi, cảm thấy sự lựa chọn của anh là chính xác. Do đó, anh nhường em kính nhất định có thể để lại tấm gương cho con cháu noi theo.

Tình anh chị em của người thời xưa cũng khiến cho rất nhiều người cảm động đến rơi lệ.

Câu chuyện chăm sóc anh bị bệnh dịch của Dữu Cổn.

Vào thời nhà Tấn, có một cậu bé tên là Dữu Cổn. Lúc đó trong thôn của họ có bệnh “ôn dịch”, anh em của Dữu Cổn đã chết mấy người, một người anh khác cũng đang bệnh nằm trên giường. Tất cả người lớn của cậu muốn dắt theo một số đứa trẻ còn khỏe nhanh chóng bỏ đi nơi khác. Dữu Cổn không chịu đi. Cậu nói: “Con không thể bỏ mặc anh trai của con đi mà không có người chăm sóc”. Các trưởng bối của cậu khuyên bảo nhiều lần rằng: “Nơi này quá nguy hiểm, chúng ta đi thôi”. Cậu liền nói với những trưởng bối này: “Trời sinh con không sợ bệnh, các chú các anh hãy để con ở lại”. Những vị trưởng bối này không lay chuyển được cậu liền bỏ đi. Cậu nhỏ như vậy nhưng tự mình sắc thuốc cho anh của mình, nửa đêm cũng thường hay đứng trước linh vị của các anh đã mất để khóc, để cảm thương. Bởi do tấm lòng yêu thương anh em này của cậu nên bệnh của anh cậu như một kỳ tích xuất hiện, đã khỏe trở lại.

Quý vị bằng hữu! Tại vì sao bị bệnh này mà có thể khỏe trở lại được? Đó là do tình thương yêu, quan tâm đã khiến cho hệ miễn dịch của anh cậu được nâng lên. Cách chữa bệnh của y học cổ truyền không phải đánh nhau với vi trùng, giống như không đội trời chung với nó. Y học cổ truyền gọi là “giải độc”, không gọi là “tiêu độc”. Khi tâm niệm của chúng ta rất thuần chính thì tự nhiên virus sẽ dần dần chuyển hóa. Vì vậy, tâm yêu thương có thể giải độc, tâm từ bi cũng có thể giải độc. Khi những trưởng bối, cha mẹ của cậu trở về, nhìn thấy anh em cậu vẫn còn sống đều vô cùng vui mừng.

Từ câu chuyện điển hình này của Dữu Cổn, chúng ta cũng có thể nhận ra được, tuy cậu tuổi tác còn nhỏ, nhưng cậu cũng được học sách Thánh Hiền, nên trong giá trị nhân sinh quan của cậu có một việc còn quan trọng hơn cả mạng sống, đó là đạo nghĩa. Hy sinh vì chính nghĩa, xả thân vì nghĩa lớn. Chủ tâm của bậc Thánh Hiền là đạo nghĩa hơn cả mạng sống. Bởi do họ có chủ tâm như vậy, nên mới có thể viết ra được những câu chuyện làm cảm động lòng người mà mãi đến mấy ngàn năm sau vẫn còn được ca tụng, và cũng có rất nhiều chuyện phát triển vô cùng viên mãn. Đây là thái độ đối với anh em của Dữu Cổn vào triều nhà Tấn, cho thấy tình anh em còn hơn cả mạng sống của mình.

Câu chuyện về Lý Tích chăm sóc chị.

Vào triều Đường, có một vị đại thần tên là Lý Tích. Thực ra ông vốn không phải họ Lý mà là họ Từ, nhưng bởi vì ông có công lao rất lớn đối với quốc gia, nên Lý Thế Dân mới ban tặng cho ông theo họ vua và gọi là Lý Tích. Bài giảng trước chúng ta đã nói đến Lý Thế Dân, ông thật sự tôn kính người hiền đức và vô cùng thành công. Có một lần Lý Tích bị bệnh, ngự y nói cần phải có râu người để làm thuốc (thuốc dẫn). Đường Thái Tông nghe xong lập tức rút dao ra cắt một đoạn râu của mình đưa cho ngự y. Câu chuyện này truyền đến tai của Lý Tích. Lý Tích rất cảm động, lập tức quỳ xuống trước mặt hoàng thượng cảm tạ hoàng thượng đã thật lòng thật dạ đối với ông. Đây thật sự có thể nói là: “Anh hùng quý trọng anh hùng”. Lý Tích ngoài là trung thần, tất nhiên cũng là một người con hiếu thảo và cũng rất yêu thương anh em. Bởi vì chúng ta biết, đức hạnh của một người đều được xây dựng từ nền tảng của “hiếu” và “đễ”.

Lý Tích có một người chị. Bấy giờ tuổi của ông cũng đã rất cao. Lúc chị ông bị bệnh, ông đến thăm. Nhìn thấy chị mình đang nấu cháo, ông liền tự mình giúp chị nấu cháo, bảo tất cả những người hầu tránh ra. Người làm quan lớn thời xưa đều có một bộ râu rất dài. Khi Lý Tích nấu cháo, bởi vì gió rất lớn lại không cẩn thận nên bị lửa cháy vào râu. Ông vội vàng dập tắt lửa. Chị của ông đứng bên cạnh nhìn thấy liền nói: “Em à! Em việc gì phải khổ vậy? Trong nhà người hầu nhiều như vậy, em hãy bảo họ làm là được rồi, không nên tự mình ở đó vất vả như vậy”. Lý Tích nói: “Chị à! Chị tuổi tác đã cao như vậy rồi, không biết em còn có bao nhiêu cơ hội có thể chăm sóc cho chị nữa”. Quý vị bằng hữu! Lý Tích trong lúc nấu cháo cho chị thì trong lòng tràn đầy lòng biết ơn, luôn luôn nhớ trong quá trình trưởng thành chị đã dìu dắt và giúp đỡ ông bao nhiều lần, ông đều ghi nhớ trong lòng.

Tôi cũng rất may mắn có hai người chị luôn đặc biệt chăm sóc tôi. Chị lớn và tôi học cùng một trường đại học. Tôi nhớ vào lúc đó sức khỏe của tôi không tốt, phải uống thuốc đông y. Thang thuốc đông y đó rất lớn, phải sắc hơn một giờ đồng hồ, từ một nồi nước đầy sắc còn lại một chén nhỏ. Lúc tôi học đại học năm thứ nhất thì ở ký túc xá. Trong ký túc xá không được sắc thuốc. Nếu sắc thuốc thì mọi người nhất định sẽ đem bảng kháng nghị đến trước cửa phòng tôi để phản đối, nên tôi không có cách gì sắc thuốc. Chị của tôi sống ở bên ngoài trường. Mỗi ngày chị giúp tôi sắc thuốc hai lần: Sáng một lần, tối một lần. Sau khi sắc thuốc xong, chị phải đi rất xa từ ngoài cổng trường vào, bởi vì ký túc xá nằm sâu trong sân trường đại học. Phải đi một đoạn đường rất xa, còn bưng một chén thuốc nóng như vậy đến khu ký túc xá nam của chúng tôi. Phía trước ký túc xá còn ghi một dòng chữ là: “Khách nữ xin dừng bước!”. Chị không thể vào được nên đi đến cửa sổ phòng tôi, sau đó gõ mấy cái ra hiệu bảo tôi: “Nào, ra uống thuốc!”.

Tôi nhìn thấy cảnh tượng đó thì bệnh cũng đỡ đi một nửa, vội vàng chạy ra uống bát thuốc tràn đầy tình yêu thương quan tâm của chị. Tình chị em tôi sâu đậm vô cùng. Cũng bởi tình chị em rất sâu đậm nên thật sự cũng khiến cho cha mẹ tôi rất yên tâm. Cho nên, “anh em thuận, hiếu trong đó”. Bởi vì cha mẹ sẽ nghĩ sau khi họ trăm tuổi, nếu như anh chị em chúng nó có thể yêu thương nhau thì họ sẽ rất yên tâm. Vì vậy, chỉ cần gia đình có tình cảm “anh nhường em kính” này, tin là gia tộc nhất định sẽ phát triển rất tốt.

Hơn nữa, nếp sống “hiếu - đễ” này không chỉ làm cảm động lòng người, mà ngay cả vật nuôi trong gia đình cũng sẽ bị cảm động. Quý vị có tin không?

Vào triều nhà Tống, có một người trí thức tên là Trần Phưởng. Con cháu mười ba đời của ông đều cùng sống chung trong một gia đình. Trong nhà có hơn 700 nhân khẩu. Họ cũng rất tuân thủ di huấn của tổ tiên là không ra ở riêng, hơn nữa cũng không thuê người giúp việc, mọi công việc đều tự mình làm. Làm như vậy có tốt không? Tốt. Trước đây chúng tôi cũng đã nói qua, thật sự để con cái biết quý trọng sức lao động thì chúng mới biết cảm ơn. Do đó, quý trọng sức lao động rất quan trọng. Hiện nay, nếu như con cái xài tiền rất nhiều, sống xa xỉ, không làm việc nhà, chúng sẽ trở nên lười biếng. Chúng vừa xa xỉ, vừa lười biếng! Lười biếng sẽ tạo thành tính ỷ lại, sau đó lại không biết cảm ơn. Quý vị thấy, một người không siêng năng cần cù thì có thể sẽ dẫn đến những thói quen xấu xuất hiện. Người lớn có kiến thức sẽ nhìn được ảnh hưởng của những sự việc này đối với con cái họ về sau, nên họ kiên trì giữ vững quy tắc.

Tiên sinh Tăng Quốc Phiên (Phan) là người triều nhà Thanh. Ông được xem là một trong những người Hán làm quan to nhất triều Thanh, làm tổng đốc của bốn tỉnh (quản lý bốn tỉnh). Chức vị cao nhưng gia quy của ông là việc nhà do toàn bộ con cháu ông phân chia ra tự làm. Quyết định này có quan trọng không? Quan trọng. Cho nên con cháu đời sau của Tiên sinh Tăng Quốc Phiên đến nay đã mấy trăm năm mà không bị suy. Đài Loan chúng ta có một người con cháu của ông cũng rất thành công tên là Tăng Sĩ Cường, cũng thường hay đi các nơi để diễn giảng. Vì vậy, sự truyền thừa nề nếp gia đình rất quan trọng.

Khi con người có rất nhiều tiền, lại có quyền thế, họ chỉ cần không có nguyên tắc thì tất nhiên gia đạo trong mấy đời chắc chắn sẽ suy bại. Chúng ta nghiên cứu con cháu đời sau của Lâm Tắc Từ, của Tăng Quốc Phiên, của Phạm Trọng Yêm thì nhất định sẽ hiểu được, những gia quy đó của họ thật sự có tầm nhìn rất xa. Nề nếp gia đình vài ba đời đã bị suy bại phần lớn là thuộc về gia đình thương nhân (người làm kinh doanh). Bởi vì con người một khi có tiền sẽ cảm thấy “có tiền mua tiên cũng được”. Câu nói này sai rồi! Khi có tiền thì họ sẽ coi thường người có học: “Anh đọc nhiều sách như vậy có gì là tài giỏi chứ, anh không có cuộc sống thoải mái như tôi”. Thường thường cách ứng xử của những người có tiền rồi xem thường người khác này sẽ được con cái của họ tiếp thu triệt để.

Có một quyển sách viết rất hay, tựa đề là “Bảo Phú Pháp”, là phương pháp làm thế nào thật sự khiến của cải có thể kéo dài đến đời con, đời cháu. Chỉ một mình quý vị giữ được thì không có gì là tài giỏi, bởi vì quý vị giữ được nhưng có thể mang đi được không? Khi chết hai bàn tay trắng không thể mang đi được gì. Làm sao khiến con cháu thật sự có phước, có huệ, đó mới là việc chính.

Cháu ngoại của Tiên sinh Tăng Quốc Phiên là tiên sinh Nhiếp Vân Đài sống trường kỳ ở Thượng Hải đi tìm nguyên nhân do đâu. Quý vị bằng hữu, Thượng Hải là nơi phồn hoa, rất nhiều thương nhân cực kỳ giàu có. Ông ở nơi đó mấy mươi năm, chứng kiến rất nhiều người giàu có khoảng một đời, hai đời thì bị suy bại nên ông đi tìm nguyên nhân do đâu.

Trong số đó có một người thương nhân họ Chu. Ông ấy mở ngân hàng tư nhân khắp nơi, rất nhiều tiền, khoảng mấy trăm vạn ngân lượng. Có một địa phương xảy ra lũ lụt, nơi đó rất nghèo khổ, một vị chủ quản tại một chi nhánh ngân hàng của ông đã quyên tặng 500 lượng giúp ông. Mấy trăm vạn lượng mà quyên tặng 500 lượng thì không nhiều, nhưng người chủ quản này bị ông chủ họ Chu mắng như tát nước vào mặt: “Sao anh lấy tiền của tôi đi quyên tặng?”. Ông chủ họ Chu này nói, ông chỉ có một phương pháp giữ được tài sản, đó là tiền vào trong túi của ông thì ông không cho nó chảy ra ngoài, chính là một chữ “tích”, tích tài.

Quý vị bằng hữu, tích tài thì sẽ như thế nào vậy? “Thương đạo”, tổn thương bổn phận làm người. “Tích tài thương đạo”. Tục ngữ nói: “Một nhà no ấm ngàn nhà oán”. Nhà của quý vị có tiền, nhà hàng xóm bên cạnh sắp chết đói mà quý vị không đi cứu giúp thì họ sẽ rất oán hận. Nếu như nhà quý vị bị hỏa hoạn, họ đều đứng đó nói “hoan hô”. Chỗ mà lòng người đều hướng đến đã nói ra chân lý rồi. Họ nhất định sẽ ở đó nói: “Quá tốt rồi! Ông trời có mắt!”. Nhưng nếu như quý vị ở đâu cũng có thể bố thí, ví dụ như trong đời sống, thậm chí trong việc giáo dục con cái của người ta, quý vị đều làm hết khả năng của mình, thì họ sẽ luôn luôn cảm niệm ân đức của quý vị. Nếu bỗng nhiên nhà quý vị bị hỏa hoạn thì họ nhất định sẽ chạy đến và tranh nhau tạt thùng nước đầu tiên. Có đúng không? Bởi vì khi quý vị chân thành cho đi thì đối phương chắc chắn sẽ cảm nhận được, và họ nhất định sẽ luôn luôn ghi nhớ trong lòng: “Chỉ cần có cơ hội ta nhất định phải báo đáp”. Việc này gọi là: “Ái nhân giả nhân hằng ái chi, kính nhân giả nhân hằng kính chi” (yêu người thường được người yêu lại, kính người thường được người kính lại). Cho nên chúng ta nhất định phải cố gắng lĩnh hội trí huệ của cổ Thánh tiên Hiền xưa. Vì vậy, tiền cần phải lưu thông. Người xưa nói: “Có nước thì có tiền tài”. Nếu như nước không lưu thông thì sẽ bốc mùi hôi thối. Nếu như nước không lưu thông thì sẽ sinh ra tác dụng phụ.

Vị thương nhân họ Chu này đến lúc sắp lâm chung, lúc đó là đầu năm Dân Quốc, tài sản của ông đổi thành tiền được ba mươi triệu đồng. Có nhiều tiền không? Rất nhiều. Ông có mười người con cháu. Ông liền đem ba mươi triệu chia thành mười phần, mỗi người được ba triệu đồng. Cuối cùng Tiên sinh Nhiếp Vân Đài quan sát thấy trong thời gian mấy mươi năm rất ngắn ngủi, toàn bộ mười người con cháu này của ông đều suy bại hết. Tất cả tiền tài đều tiêu xài hết, thậm chí có người ra đường xin ăn. Trong số đó có một vài người vẫn có chút tu dưỡng, nhưng tiền tài cũng đều tiêu tán hết. Có chút tu dưỡng nhưng vẫn không thể giữ được tiền.

Từ câu chuyện này, chúng ta mới nhận ra được lời trong “Kinh Dịch” nói chân thật không dối. “Kinh Dịch” nói: “Nhà tích điều thiện, ắt có thừa niềm vui. Nhà tích bất thiện, ắt có thừa tai ương”. Từ chỗ này chúng ta cũng có thể hiểu được, có người làm người rất tốt nhưng họa cứ đến hoài, có khả năng là một số tai ương còn lại của tổ tiên vẫn chưa trả hết. Vào lúc này quý vị nên khuyến khích họ phải kiên trì hành thiện thì nhất định có thể xoay chuyển được tình thế, đợi khi tai ương tiêu hết rồi thì chắc chắn sẽ có thiện báo hiện tiền. Có kiến thức như vậy thì mới có thể sinh ra con cháu tốt.

Tăng Quốc Phiên cũng thế, Trần Phưởng cũng thế, họ đều hiểu được nhất định phải để con cháu biết quý trọng sức lao động, nên họ đều không thuê bất kỳ người giúp việc nào. Mỗi lần ăn cơm đều 700 người cùng quây quần ăn chung với nhau, rất đông vui. Nhà của họ nuôi khoảng 100 con chó. Một trăm con chó này nhất định phải đợi đến khi toàn bộ có mặt đủ chúng mới chịu ăn. Có một câu để miêu tả cảnh tượng này: “Một con chưa đến cả đàn không ăn”. Nếp sống “hiếu - đễ” này đã cảm động đến đàn chó của gia đình họ. Khi quý vị là hàng xóm của họ, nhìn thấy cảnh tượng này quý vị sẽ cảm động. Ngoài cảm động ra, còn cảm thấy chúng ta quả thật không bằng đàn chó này, trong nhà mình sao vẫn cứ cãi nhau ầm ĩ.

Tình cảnh thịnh vượng này đã truyền đến tai vua. Vua cũng rất cảm động, lập tức miễn cho gia đình họ mọi lao dịch (người dân có khi phải làm một số việc lao dịch giúp quốc gia xây một số công trình). Bởi vì vua cảm thấy gia tộc này đã làm tấm gương tốt nên cũng miễn trừ lao dịch cho họ. Quý vị xem, đức hạnh của con người cũng có thể cảm động đến loài chó. Có một số người nói: “Tôi không tin”. Người hiện nay rất khó tin những chuyện cảm ứng này, vì sao vậy? Bởi vì họ đều lấy cái tâm của tiểu nhân: “Tôi còn không thấy cảm ứng, tại sao họ lại có?”. Họ đều không nghĩ đến chủ tâm của những bậc Thánh triết này.

Vào thời nhà Minh có một người học trò tên là Bao Thực Phu. Ông dạy học ở trường tư thục được một thời gian thì về nhà thăm cha mẹ. Trên đường đi về nhà ông gặp phải một con hổ, nó lập tức ngoạm lấy ông, tha ông đến một nơi khác để ăn thịt. Bao Thực Phu hoàn toàn không sợ hãi, bởi vì người trí thức xưa đều biết: “Sống chết có số, giàu nghèo do trời”, nên đứng trước sống chết ông không hoảng sợ. Nhưng ông quỳ xuống rất thành khẩn nói với con hổ này rằng: “Tôi bị ngài ăn thịt là số mạng của tôi, nhưng vì hiện nay tôi còn cha mẹ hơn bảy mươi tuổi phải phụng dưỡng, ngài có thể để cho tôi phụng dưỡng cha mẹ xong rồi tôi sẽ trở lại cho ngài ăn được không?”. Tấm lòng hiếu thảo này của ông khiến cho con hổ hung dữ nhất cũng phải cảm động, con hổ này liền bỏ đi. Người địa phương đặt tên cho nơi đó là “Bái Hổ Cương”, chính là để kỷ niệm Bao Thực Phu ở nơi đó cầu khẩn hổ, hy vọng hổ tha mạng để ông được về phụng dưỡng cha mẹ. Ngay cả loài hổ hung dữ nhất mà cũng biết cảm động, thì loài chó trung thành nhất có gì khó khăn đâu.

Không chỉ có động vật có thể cảm động, thực vật có thể cảm động, mà trời đất vạn vật đều có thể cảm động. Cái gọi là: “Vạn vật giao cảm, dĩ thành dĩ trung”, chân thành đến cực điểm thì trời đất cũng sẽ cảm động.

Vào thời nhà Nguyên có một người học trò tên là Lý Trung. Hiếu hạnh của ông nổi danh khắp cả nước. Lúc đó nơi thôn làng ông ở xảy ra động đất, toàn bộ nhà cửa đều bị đổ sập. Tâm chấn đi đến đâu nhà cửa đều đổ sập đến đó, nhưng khi đến nhà của ông thì tâm chấn chia thành hai nhánh. Sau khi đi qua nhà ông thì hai tâm chấn hợp lại thành một nhánh. Đây là việc thật được ghi chép trong lịch sử, chúng ta không thể không tin.

Trong “Trung Dung” có nói: “Họa phúc tương chí”. Dựa vào đâu có thể phán đoán một người sắp bị họa hay phúc vậy? “Họa phúc tương chí, thiện tất tiên tri chi, bất thiện tất tiên tri chi” (họa phúc sắp đến, lành cũng biết trước, dữ cũng biết trước). Nếu như là thiện thì biết là phúc, bất thiện thì là họa. Hiếu hạnh của ông khiến cho ông tránh khỏi được kiếp nạn này. Chúng ta phải tin tưởng chân lý này, để chúng ta có thể đi hết cuộc đời của chúng ta một cách thẳng thắn vô tư, quang minh chính đại.

Quý vị bằng hữu có tin cuộc đời quý vị chắc chắn có thể gặp dữ hóa lành hay không? “Có!”. Tốt! Hãy tự thưởng cho mình một tràng pháo tay!

1.2          “Anh em thuận, hiếu trong đó”

Giữa người với người làm sao chung sống hòa thuận? Chúng ta hãy suy nghĩ xem, ví dụ gia tộc của Trần Phưởng có đến 700 người vẫn chung sống hòa thuận, chúng ta hiện nay trong nhà có ba người mà đã không hợp nhau rồi. Thật sự chúng ta tệ hơn quá nhiều! Thậm chí chưa có con mà hai vợ chồng cũng đã cãi nhau không thể giảng hòa. Quý vị xem, người ta có thể bao dung được 700 người, thật sự là người có tri thức!

Chung sống hòa thuận là kết quả, vậy nguyên nhân do đâu? Nhân ở “đối xử bình đẳng” mới có thể hòa thuận. Đối xử bình đẳng, đây là nhân. Bình đẳng, “bình” nên lòng người cũng bình. Lòng người bình mới không sinh tranh chấp. Dạy con cái của mình nhất định phải nắm vững nguyên tắc, đó là tuyệt đối phải quan tâm bình đẳng. Tuyệt đối không được đối xử với con trai lớn tốt, còn đối với con thứ không tốt bằng.

Trong lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc chúng ta, rất nhiều người bởi vì cưng chiều một người con nào đó mà cuối cùng tạo thành kết quả anh em cấu xé nhau rất nhiều. Bởi vì lòng người bất bình thì sớm muộn gì cũng sẽ có tranh chấp. Chúng ta lại suy nghĩ sâu xa thêm, ví dụ nói hiện nay chúng ta đối với đứa bé này tương đối tốt thì có giúp được gì cho nó không? Quý vị đối với chúng tương đối tốt, chúng nhất định sẽ đối tốt với quý vị phải không? Sai rồi. Quý vị cưng chiều chúng quá mức thì chúng sẽ ngày càng ích kỷ, vậy là quý vị đã hại chúng. Còn đứa trẻ mà chúng ta không để ý đến thì trong lòng sẽ rất bất bình, không cân bằng, có khi lại trở nên rất tiêu cực. Vậy là chúng ta hại cả hai. Như vậy là không có lý trí! Cho nên “bình” rất quan trọng.

Tuy tôi là con trai độc nhất trong gia đình, nhưng cha của tôi đối xử với ba chị em chúng tôi rất bình đẳng. Ví dụ lúc khen thưởng đều thưởng giống nhau, không có thưởng cho tôi nhiều hơn, nếu không đến lúc đó tôi sẽ ỷ được cưng chiều mà kiêu ngạo.

Vào thời nhà Minh có một người trí thức tên là Trịnh Liêm. Gia tộc của họ bảy đời sống chung trong một gia đình. Chúng ta thời đại này nhiều nhất nghe nói đến là mấy đời? Ba đời, quá ít rồi. Tôi ở Đại Lục có nghe nói năm đời sống chung trong một gia đình. Trịnh Liêm là bảy đời sống chung trong một gia đình. Minh Thái tổ Chu Nguyên Chương rất khâm phục ông, ban tặng cho ông một tấm biển ghi là: “Thiên hạ đệ nhất gia”. Bao nhiêu người vậy? Khoảng 1.000 người. Ngoài việc ban tặng tấm biển này, còn tặng cho ông hai quả lê lớn. Minh Thái Tổ cũng là người rất có ý, ông nghĩ: “Ta tặng ông ấy hai quả lê, thử xem ông chia cho 1.000 người như thế nào?”. Ông còn phái cẩm y vệ đi theo sau để xem Trịnh Liêm xử lý sự việc này như thế nào. Quý vị bằng hữu, quý vị sẽ xử lý như thế nào? Quý vị suy nghĩ xem?

****************

Đệ Tử Quy giảng giải– Con Đường Đạt Đến Nhân Sinh Hạnh Phúc (tập 16)

Người giảng: Thầy Thái Lễ Húc

Giám định: Lão Hòa thượng Tịnh Không

Giảng ngày: 15/02/2005

Cẩn dịch: Ban phiên dịch Tịnh Không Pháp Ngữ

Giám định phiên dịch: Vọng Tây Cư Sĩ

Biên tập: Ban biên tập Tịnh Không Pháp Ngữ

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 27


Hôm nayHôm nay : 2234

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 63022

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 13017042

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?