Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Pháp Ngữ khác của HT Tịnh Không

Tịnh Không Pháp Ngữ

Chủ nhật - 16/06/2013 19:46
Xử lý việc khó, đối đãi với người càng khó hơn. Cho nên xử lý công việc đối đãi với người cần phải làm đúng pháp và làm cho được viên mãn.

 

Người học Phật, tâm có chổ mong cầu, tốt nhất khuyên họ nên cầu Phật Bồ Tát, cầu “người” cầu không được, chúng ta sẽ sanh phiền não. Cầu Phật Bồ Tát, tin vào Phật Bồ Tát, khi duyên được chín muồi, Phật Bồ Tát tự nhiên sẽ vì chúng ta an bài tất cả.

Không luận thế gian thay đổi thế nào, trong vạn biến chúng ta phải cầu bất biến, duy nhất không thay đổi, chính là “niệm Phật cầu sanh Tịnh độ”. Thời cuộc hiểm ác, tai nạn triền miên, chúng ta muốn làm việc tốt, mà việc tốt lắm giày vò, không có tâm thanh tịnh, không có trí tuệ và định lực, không cách gì ứng phó tai nạn. Cho nên tâm nhất định phải thanh tịnh, phải có năng lực của định mới có trí tuệ để biết giải quyết vấn đề như thế nào.

Ở thời đại này nếu muốn xây dựng định hướng rất khó khăn. Căn nguyên chính bởi con người ở thế gian đã đánh mất luân lý đạo đức, ai cũng không chịu phục tùng ai, cho nên trật tự thế giới đại loạn, tai nạn lớn ắt sẽ giáng xuống, người có đủ khả năng thoát qua được kiếp nạn, nhất định là người có đại phước đức.

Từ xưa đến nay, Trung Quốc rất xem trọng đối với luân lý đạo đức, bởi vì đây là giáo dục quan trọng để an định xã hội, trách nhiệm của người làm chủ, cũng chính là phải giữ gìn truyền thống. Cho nên dù họ tự mình có làm được tốt hay không, có khả năng gìn giữ truyền thống và còn đem nó mở mang rộng lớn, đó chính là công đức to lớn.

Trung Quốc từ mấy ngàn năm không bị diệt vong, là bởi vì có luân lý đạo đức gắn bó với trật tự xã hội. Cha hiền, con hiếu, anh thân, em kính, mang thân phận gì thì làm hết nghĩa vụ của thân phận đó, trọn một đời đều có thể vâng giữ không làm trái, đây là nền tảng để an định xã hội.

Thường ngày đối nhân xử thế tiếp vật, đều phải dùng tâm thanh tịnh, bình đẳng, từ bi. 
Từ bi phải có khả năng khống chế li trí, giác mà không mê, không phải dùng tình cảm để làm việc, tâm thanh tịnh là tùy duyên không phan duyên, bất kỳ việc gì phải thuận tự nhiên. Tâm đã thanh tịnh, cho dù hoàn cảnh có phức tạp hơn, cũng có thể thấy được rõ ràng thông suốt. Tâm không thanh tịnh, muốn thấy cũng sẽ thấy sai. Cho nên tâm thanh tịnh có thể sanh trí tuệ, đây là bản năng của tự tánh, bây giờ chúng ta mất đi bản năng, là bởi vì vọng niệm rất nhiều tâm tánh loạn. Nếu như tâm thanh tịnh, có định lực, năng lực của sáu căn liền hồi phục.

Nguyên tắc tu học của mỗi chúng ta là: Ba phước, sáu phép hòa, Tam vô lậu học, khi tiếp xúc với đại chúng, thì là trải qua công việc để luyện tâm, phải tuân sáu phép hòa, mười đại nguyện vương, giữ gìn tâm thanh tịnh, mới có thể thành tựu đạo nghiệp của chính mình.

Cẩn Dịch : Vọng Tây Cư Sĩ

Tác giả bài viết: Cẩn dịch: Vọng Tây cư sĩ

Nguồn tin: TinhKhongPhapNgu.com

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 54


Hôm nayHôm nay : 8718

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 245450

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9369936

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?