Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Thái thượng cảm ứng thiên

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (Tập 9)

Chủ nhật - 28/09/2014 13:17

 

Văn tự của Cảm Ứng Thiên không nhiều, tổng cộng chỉ có hơn 1.000 chữ. Trong “Hội Biên” đem bài văn này chia thành 124 đoạn nhỏ. Một số đoạn chỉ có một vài câu, đoạn cuối cùng thì tương đối dài, có đến mấy câu. Về sau chúng tôi in lại bản này, không ngại theo cách chia đoạn của Hội Biên, đem bài văn này chia lại, phân chia như vậy khi đọc tụng, giảng giải đều rất tiện lợi.

Chúng ta xem đoạn thứ mười một.

“Hựu hữu tam thi thần tại nhân thân trung, mỗi đáo canh thân nhực, triếp thượng nghệ thiên tào, ngôn nhân tội quá”.

Hiện nay, không những thế hệ trẻ mà bao gồm thế hệ trung niên nghe thấy những lời này thì cho là mê tín, họ dùng hai chữ mê tín để phủ định sạch những sự thật này. Quả báo của họ thật không thể tưởng tượng. Trong mắt người sáng suốt, đó là một việc vô cùng đáng thương xót. Đây là kinh nghiệm tích lũy hàng ngàn, hàng vạn năm của cổ thánh tiên hiền. Khoa học kỹ thuật hiện đại, lịch sử của nó rất ngắn, vẫn chưa đầy 300 năm. Hiện nay khoa học kỹ thuật vẫn đang không ngừng phát triển, tần số không gian, họ đã chứng thực rồi, nhưng không thể đột phá. Giả dụ khoa học kỹ thuật tiến mạnh về phía trước nữa, một ngày nào đó, nó có năng lực đột phá được tần số không gian thì tình trạng của những quỷ thần, tình trạng của lục đạo này họ có thể nhìn thấy được.

Tôi đã sống ở Mỹ và Canada một thời gian dài. Hiện nay người ở bên đó thịnh hành thuật thôi miên, dùng cách thức thôi miên, khiến người bị thôi miên nói ra đời quá khứ của họ. Những tư liệu này khá phong phú, sách báo xuất bản cũng ngày càng nhiều. Họ chứng minh đúng quả thật là có sự tồn tại của sáu cõi luân hồi, có sự thật về sáu cõi luân hồi. Thế nhưng những sự việc về việc giám sát của quỷ thần đối với nhân gian thì thuật thôi miên không đến được, cũng không có cách gì hiểu được những chân tướng sự thật này. Từ trong giáo huấn của chư Phật Bồ Tát, cổ thánh tiên hiền chúng ta biết, người sống ở đời khi khởi tâm động niệm, từng li từng tí đều có quỷ thần đang ở đó nhìn thấy.

Trong Phật pháp nói có hai vị thần Đồng Sanh, Đồng Danh, thường ở trên hai vai trái, phải của chúng ta, không hề tách rời. “Tam Thi thần” là ba vị thần trú ở trong nội tạng của chúng ta, điều này thật bất khả tư nghì. Chúng tôi đã từng xem qua quyển “Lời Tiên Tri Cổ Xưa” (từ Mỹ đem về), trong đó nói, có một người có năng lực đặc biệt khám bệnh giúp người; người bệnh không cần ở trước mặt, cách xa ông mấy chục cây số, mấy trăm cây số cũng không sao, chỉ cần nói cho ông biết họ tên, địa chỉ, nơi ở là ông có thể đi khám bệnh. Ông đến đâu để khám vậy? Ông vào bên trong lục phủ, ngũ tạng của họ để khám. Ông có thể đi vào trong nội tạng người, nhìn thấy tim, gan, lá lách, phổi chỗ nào không bình thường là ông nói ra, bên cạnh có người ghi lại cho ông. Băng video đó, các bạn đều xem rồi. Tam Thi thần chính là thuộc về loại này.

Chúng ta thấy từ trong chú giải, Tam Thi thần giống như là ba chị em vậy, họ ở trong thân người. Thần Thượng Thi ở trong đầu người, họ có thể khiến người nghĩ ngợi lung tung, có thể khiến người hoa mắt, lông tóc rơi rụng. Thần Trung Thi ở trong ruột và dạ dày người, khiến bạn ham ăn, khiến bạn hay quên, khiến bạn làm chuyện xấu. Thần Hạ Thi trú ở trong chân người, khiến bạn háo sắc, ưa tham, hiếu sát. Tam Thi thần hy vọng bạn chết cho thật sớm, sau khi chết rồi, ba vị thần này sẽ biến thành quỷ, quỷ mới nhận phẩm vật mà người ta cúng tế. Cho nên nói, một người khởi tâm động niệm, lời nói việc làm, người hiểu rõ về bạn nhất là Tam Thi thần. Tam Thi thần ở trong thân người, mỗi khi đến ngày canh thân (mỗi một vòng giáp tý là có một ngày canh thân, vào thời cổ đại, ghi ngày, tháng, năm đều dùng lịch giáp tý. Các bạn hiện nay chấm tử vi, xếp bát tự thì biết, năm dùng giáp tý xếp, 60 năm là một vòng giáp tý; tháng cũng dùng giáp tý xếp, hai tháng là một vòng giáp tý, cho nên trong 60 ngày là có một ngày canh thân) thì Tam Thi thần sẽ đi báo cáo “Thượng nghị Thiên tào” (Thiên tào, phần lớn là chỉ Tứ Thiên Vương và Đao Lợi Thiên), họ đến chỗ Tứ Vương Thiên và Đao Lợi Thiên để báo cáo. Quí vị phải biết rằng, sự việc này bất kể bạn có tin hay không, không phải nói tin thì có, không tin thì không có. Nếu như không tin thì không có, thế thì bậc thánh hiền nói những lời này với chúng ta chẳng phải là gây phiền phức cho chúng ta sao? Vậy sao có thể xứng đáng với người! Không tin cũng có, chúng ta có, người nước ngoài có, không có người nào có thể may mắn tránh được.

Bạn tạo tác tất cả tội nghiệp mà vẫn chưa có gặp ác báo, là nguyên nhân gì? Do trong đời quá khứ, bạn tạo phước quá lớn; trong đời nay bạn tạo tác tội nghiệp, đương nhiên là tổn phước, sau khi tổn phước rồi bạn vẫn còn dư phước, vẫn còn dư nhiều nên bạn vẫn đang hưởng phước, đạo lý là như vậy. Nếu như bạn hiểu rõ đạo lý này, đoạn ác tu thiện thì phước báo của bạn sẽ thù thắng hơn, đời đời kiếp kiếp cũng hưởng không hết. Đây đều là lời chân thật. Vì vậy, người vì sao phải tạo tội nghiệp?

Cổ nhân cũng có cách nói khác, nói là Tam Thi thần chính là tam hồn, hồn phách của một con người. Chúng ta thường nói ba hồn, bảy vía, là cách nói của người cổ xưa. Đạo gia có cách nói của Đạo gia: “Nhân hồn hữu tinh, nhân tinh hữu phách, nhân phách hữu thần, nhân thần hữu ý”. Cách nói của họ là như vậy, nói nguồn gốc của hồn phách. Họ nói, thánh nhân đối với tất cả cảnh giới, họ không dùng tâm vọng tưởng mà dùng chân tâm. Sao gọi là chân tâm? Chân tâm là không có vọng niệm. Dùng cái tâm này đối với cảnh giới bên ngoài là thuần thiện. Ai biết dùng loại tâm này vậy? Nói lời thành thật chỉ có Phật Bồ Tát, người chân thật giác ngộ. Trong kinh Thanh Tịnh nói: “Nhân thần ưa thanh tịnh”. Tâm vọng tưởng, phiền não của chúng ta làm nhiễu loạn thanh tịnh. Tâm xưa nay vốn là thanh tịnh, nhưng bị dục vọng làm dao động nên tâm của bạn không thanh, không tịnh. Tâm không thanh, không tịnh là phàm phu. Tâm thanh tịnh chính là tự tánh; tâm thanh tịnh chính là chân tâm. Hồi phục tâm thanh tịnh, có thể dùng tâm thanh tịnh đối nhân xử thế tiếp vật, người này chính là Phật Bồ Tát. Chúng ta từ trong kinh điển cần thể hội được tầng ý nghĩa này.

Mục đích cao nhất của người học Phật chính là chuyển phàm thành thánh. Nhà Phật thường nói, giáo dục của Phật Đà dạy người ba cái chuyển biến. Thứ nhất là chuyển ác thành thiện, thứ hai là chuyển mê thành ngộ, thứ ba là chuyển phàm thành thánh. Bạn phải biết bắt đầu chuyển từ đâu. Tâm của chúng ta vốn dĩ là chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, giác ngộ, từ bi, nhưng hiện nay năm điều này thảy đều không còn nữa, biến thành hư ngụy, nhiễm ô, kiêu mạn, ngu si, tự tư tự lợi. Chúng ta thử nghĩ có phải như vậy không? Bản thân ta như vậy, thử nhìn lại xung quanh, người khác cũng như vậy, cho nên thế gian này mới có kiếp nạn, mới có thiên tai nhân họa. Chúng ta hiện nay sống trên bờ vực của cái tai nạn lớn này, có thể sẽ rất nhanh chóng gặp phải. Làm thế nào cứu vãn? Làm thế nào có thể tránh khỏi đây?

Tránh hung tìm kiết, quan niệm này cổ kim, trong ngoài, tất cả mọi người đều biết, nhưng cách tránh hung tìm kiết như thế nào thì không biết. Ở nơi này có tai nạn, không tốt, chúng ta tìm một nơi khác để di dân, có được không? Không chắc! Ngạn ngữ nói: “Tại kiếp nan đào”, có số kiếp này, bạn trốn đến nơi nào cũng đều vô ích, bạn vẫn phải chịu kiếp nạn này. Đây là chân lý, là đạo lý nhất định.

Phải làm thế nào mới có thể tránh khỏi vậy? Nhất định phải làm cuộc chuyển đổi từ trong tâm địa, đây là chính xác. Khu vực này gặp nạn, bạn vẫn có thể tránh khỏi. Nhà Phật nói trong cộng nghiệp có biệt nghiệp (biệt nghiệp là không cộng nghiệp). Cho nên, chúng ta làm sao hồi phục tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng của chúng ta. Tôi nói năm câu này, chỉ cần hồi phục một câu thì bốn câu khác thảy đều hồi phục; có một điều là có đầy đủ bốn điều khác, bất kỳ một điều nào cũng đầy đủ viên mãn bốn điều khác. Trong kinh Lăng Nghiêm nói: “Một tức là nhiều, nhiều tức là một”. Chúng ta làm một cuộc chuyển đổi từ chỗ này, nhất định phải đoạn, phải buông bỏ, phải bắt tay làm từ căn bản, đem ái dục buông bỏ, đem thị dục buông bỏ (thị dục là thị hiếu, những thứ mà trong tâm ưa thích), xa lìa danh vọng lợi dưỡng, xa lìa ngũ dục (tài, sắc, danh, thực, thùy), làm như vậy mới có thể tiêu tai miễn nạn. Nếu như ái dục, thị hiếu của bạn không buông bỏ được, thì trong thế gian này bất luận bạn lẫn trốn đến nơi nào, bạn cũng không tránh khỏi kiếp nạn. Chúng ta phải biết đạo lý này.

Kinh Phật thường nói: “Dùng kiếm trí tuệ, phá giặc phiền não; dùng dao trí tuệ, cắt lưới phiền não; dùng lửa trí tuệ, đốt củi phiền não”. Đây là Phật thường nói trong kinh luận Đại-Tiểu thừa; đặc biệt là ở những kinh luận Đại thừa, Phật nói rất nhiều. Trong kinh Hoa Nghiêm, Phật dạy chúng ta làm sao chuyển đổi. Nói đến chuyển đổi, đạo lý phương pháp rất nhiều, thật sự không đâu bằng “Hoa Nghiêm”, vì kinh văn phân lượng lớn, cho nên nói rất tường tận, lặp lại không ngừng, để chúng ta có cơ hội huân tu trong thời gian dài, điểm này vô cùng quan trọng.

Chúng ta ngày nay học Phật lâu như vậy rồi, tại sao không có được hiệu quả? Nói thực ra, thời gian huân tu không đủ, tập khí phiền não của chúng ta quá nặng, ý niệm của chúng ta quá ác, dù cho chúng ta khẩu thiện, hành thiện, nhưng ý bất thiện. Ý bất thiện, tâm thiện, khẩu thiện đều không thiết thực, cho nên công phu không đắc lực, kiếp nạn không thể tránh khỏi, đạo lý là ở chỗ này. Cần phải làm một cuộc chuyển đổi thật sự, mấu chốt ở trong chuyển đổi thật sự là thâm nhập kinh tạng. Thâm nhập kinh tạng, nói sao nghe dễ dàng! Ngày nay mọi người không đọc cổ thư nữa, không những không đọc cổ thư, mà sách cũng không muốn đọc, nhìn thấy sách là mệt mỏi, vậy thì làm sao?

Hiện nay khoa học kỹ thuật phát triển, chúng ta có thể triệt để lợi dụng công cụ hiện tại, băng ghi hình, băng ghi âm. Quí vị thử suy nghĩ, cổ nhân trước đây, mấy ngàn, mấy vạn năm trước, tại sao họ khắc những văn hiến quan trọng này vào trong đá? Chúng ta hiện nay đã hiểu rõ, trước đây khoa học kỹ thuật cũng phát triển như thế này, có thể phát triển còn cao hơn so với chúng ta hiện nay, chỉ một trận hủy diệt lớn thảy đều tiêu hết, chỉ có đá là tồn tại. Chúng ta thường hay nói đến VCD, CD có thể bảo tồn được vài trăm năm, nhưng thật sự có thể bảo tồn được vài trăm năm không? Ngày nào đó, thế gian này của chúng ta điện năng hoàn toàn không còn nữa thì những thứ này thảy đều không tồn tại. Cho nên nó không bằng sách vở, sách vở có thể bảo tồn. Thế nhưng sách vở bảo tồn cũng có giới hạn, tương lai sau mấy trăm năm giấy tờ, sách vở sẽ biến thành tro bụi. Cho nên, tổ tiên chúng ta ngày xưa đem kinh Phật khắc vào trong đá, có thể truyền lại đời sau vĩnh cửu. Chúng ta đến Phòng Sơn Bắc Kinh để xem thử thạch kinh, đây mới là trí tuệ chân thật, mọi thứ mới có thể thật sự bảo tồn vĩnh cửu, khoa học kỹ thuật sẽ bị hủy diệt. Chúng ta có thể thể nghiệm được cái gì là trí tuệ chân thật. Hiện nay có những công cụ này thì phải cấp tốc mà lợi dụng. Không nên nghĩ rằng không sao cả, tôi có thể bảo tồn vài trăm năm, hôm nay không nghe thì ngày mai nghe; ngày mai không có thời gian nghe thì ngày mốt, còn có thời gian, cứ từ từ. Đến ngày kia, mạng không còn, bạn còn nghe cái gì được? Chúng ta phải biết được những đạo lý này.

Chúng ta đã giảng đến “Tam Thi thần”, nói rõ bất kỳ một chúng sanh nào, không chỉ là loài người mà bao gồm súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục thảy đều ở trong đó, khởi tâm động niệm, nhất cử nhất động đều có trời đất thần linh giám sát. Người hiện đại coi sự việc này là mê tín, hoàn toàn ngoảnh mặt làm ngơ, còn có một số người có cách nói sai lầm, họ nói những sự việc này tin thì có, không tin thì không có. Những quan niệm, ngôn luận này đều là sai lầm, bất kể là bạn tin hay không tin, sự thật vẫn cứ tồn tại, đạo lý này chúng ta nhất định phải biết.

Người thời xưa, đặc biệt là người có học, đọc sách rõ lý, đối với lời giáo huấn của cổ thánh tiên hiền đều có thể tin sâu, không nghi. Giáo huấn của Phật pháp càng tuyệt vời hơn, Phật Bồ Tát không những dạy chúng ta phải tin, mà còn dạy chúng ta chứng minh, cái gọi là Tín-Giải-Hành-Chứng. Phật muốn chúng ta chứng thực đạo lý, chứng thực những chân tướng sự thật này, đây gọi là chứng quả. Loại phương pháp dạy học này quả thật là hợp tình, hợp lý, hợp pháp, là một nền giáo dục cứu cánh viên mãn chân thật. Nhà Phật nói sáu cõi luân hồi, những lý luận này, nói kỹ là 12 nhân duyên, còn nói sơ lược là “hoặc, nghiệp, khổ” (mê hoặc, tạo nghiệp, thọ báo). Chúng sanh trong sáu cõi vĩnh viễn đang bị sức mạnh này chi phối, vĩnh viễn bị nghiệp lực này đang chủ tể luân hồi. Nếu chúng ta muốn thoát khỏi sáu cõi luân hồi, phương pháp duy nhất là không tạo nghiệp, không mê hoặc. Không mê hoặc mới không tạo nghiệp. Cho nên phá mê khai ngộ là vô cùng quan trọng. Tại sao tạo nghiệp vậy? Là do mê. Mê là không hiểu rõ về chân tướng sự thật, không giác ngộ. Tông Duy Thức nói, “hoặc” bao gồm tướng trí, tướng tương tục. Trí này không phải trí tuệ, mà trí này là phân biệt, trong Phật pháp thường nói là thế trí biện thông, không phải trí tuệ chân thật. Trí tuệ chân thực là từ trong giới, định sinh ra. Chúng ta biết tâm không thanh tịnh, tâm không định thì không có trí tuệ.

Thế gian có rất nhiều phần tử trí thức cao cấp, nhà khoa học, nhà triết học, nhà tôn giáo, trí tuệ của họ cao hơn rất nhiều so với người bình thường. Trong Phật pháp nói, họ có trí tuệ hay không vậy? Không có! Trí tuệ của họ là thế trí biện thông, không phải trí tuệ chân thật. Phật pháp nói, tiêu chuẩn của trí tuệ là tâm thanh tịnh. Tiêu chuẩn của tâm thanh tịnh là phải lìa kiến tư phiền não. Kiến tư phiền não chưa đoạn thì tâm của bạn không thanh tịnh. Đoạn kiến tư phiền não rồi thì Phật mới thừa nhận trí tuệ của bạn khai mở, nhưng là trí tuệ nhỏ, không phải trí tuệ lớn, trong Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, bạn được xem là Chánh Giác. Chánh Giác là địa vị gì vậy? A La Hán, Bích Chi Phật, trong kinh thường nói bạn đắc lậu tận thông. Sao gọi là lậu tận thông? Lậu là kiến tư phiền não. Kiến tư phiền não đoạn sạch rồi, bạn đắc lậu tận thông, vào lúc này mới là Chánh Giác. Nếu như không phải loại trạng thái này thì cái giác đó không chánh, trong Phật pháp gọi là tà tri tà kiến. Gọi là tà tri tà kiến không phải làm nhục người, không phải khinh thường người, mà là nói rõ cái chân tướng sự thật này. Tà ở chỗ nào vậy? Bạn có ngã chấp. Kinh Kim Cang nói, bạn có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả; bạn có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thì tri kiến của bạn là bất chánh. Cái đạo lý này không thể không biết. Biết rồi tự mình mới hiểu được, mình hiện tại là thân phận gì; mình hiện tại trong toàn bộ quá trình tu học Phật pháp đang đứng ở địa vị nào, thì bạn mới biết tinh tấn, bạn mới quyết cố gắng. Nếu như không biết mình đang đứng ở địa vị nào, cho rằng mình rất cao, trong kinh luận thường nói, được ít cho là đủ, được một chút xíu khinh an, một chút xíu thông minh là cảm thấy mình rất giỏi giang, điều này làm chướng ngại đạo nghiệp của bạn, bạn đời này không có hy vọng thành tựu rồi.

Việc tu học Phật pháp quan trọng nhất là giải môn, sau khi giải rồi hành thì công phu mới đắc lực. Cho nên chúng ta biết, có nhiều người rất nỗ lực chăm chỉ tu hành, tại sao cả đời công phu cũng không đắc lực, khi đến già chết cũng mơ mơ hồ hồ. Chúng ta thấy quá nhiều, nghe còn nhiều hơn, cần phải có cảnh giác!

Có một số người cả đời xưa nay chưa từng nghe kinh, không biết chữ, cái gì cũng không biết. Họ học biết một câu A Di Đà Phật, họ niệm đến cuối cùng cũng có thể đứng mà vãng sanh, ngồi mà vãng sanh, đây là sự kiện gì vậy? Nói cho bạn biết, loại người đó có chân trí tuệ, tín tâm của họ thanh tịnh. Trong kinh Kim Cang nói rất hay: “Tín tâm thanh tịnh, tắc sanh thực tướng”. Trước đây thầy Lý thường nói, loại người này là người ngu, ngu không ai bằng, sự ngu ngốc đó của họ chúng ta không sánh bằng. Tại sao vậy? Ở trong đầu họ thanh tịnh, không có nghĩ ngợi lung tung. Tất cả vạn duyên họ thật sự buông bỏ, họ không cần thiết phải tụng kinh, không cần thiết học cái gì nữa, chỉ một câu Phật hiệu, họ liền có thể thành Vô Thượng đạo. Ai có thể sánh bằng họ? Thế pháp, Phật pháp đều coi trọng thượng căn thượng trí và hạ ngu bất di, hai loại người này dễ độ nhất, một loại là người thượng thượng căn, một loại là người hạ hạ căn. Người thượng thượng căn có trí tuệ, tâm thanh tịnh, vừa nói ra liền thông đạt, liền hiểu rõ. Người hạ hạ căn tuy ngu si nhưng họ không có vọng tưởng, là người thật thà, dạy họ cái gì là họ làm cái ấy đến cùng. Hai loại người này chỉ cần gặp được Phật pháp là chắc chắn thành tựu.

Cái khó nhất là ở đoạn giữa này, gọi là nửa nạc nửa mỡ, trên không trên, dưới không dưới. Tự cho rằng thông minh, tự cho là đúng, tự mình làm chướng ngại cho chính mình, đây là đã phạm sai lầm lớn. Chư Phật Bồ Tát giáo hóa chúng sanh, chính là lấy bộ phận này làm đối tượng. Bộ phận này là khó dạy nhất, trong kinh Địa Tạng nói là “cang cường nan hóa”. Thế Tôn đối với người thượng thượng căn và người hạ ngu giảng kinh thuyết pháp khoảng mấy giờ là giải quyết rồi, đâu cần phải giảng 49 năm. Bốn mươi chín năm hết lòng hết dạ là độ những người như chúng ta đây. Người căn tánh bậc trung là phiền phức nhất, rất không dễ dàng được độ. Họ tự cho là thông minh, tự cho là có trí tuệ, đâu có biết được đúng là mê hoặc, mê hoặc liền tạo nghiệp.

Quả thật mà nói đức Phật thị hiện tấm gương tốt nhất, nhưng chúng ta không nhìn ra, không giác ngộ. Trong các buổi giảng, tôi thường thảo luận với mọi người về những vấn đề này, chúng ta học Phật phải học Phật Thích Ca Mâu Ni, đời sống của Ngài, ngôn hạnh của Ngài chính là tấm gương cho chúng ta. Phật Thích Ca Mâu Ni cả đời không hề xây đạo tràng, Ngài cả đời trải qua đời sống hành khất, danh vọng lợi dưỡng, ngũ dục lục trần buông bỏ sạch sẽ, một mảy bụi cũng không dính nhiễm, vì vậy tâm mới có thể thanh tịnh. Ngài làm nên tấm gương cho chúng ta thấy, vạn duyên buông bỏ. Chúng ta muốn học Phật phải học từ những chỗ này.

Thời đại của Thế Tôn cách chúng ta quá lâu rồi, gần 3.000 năm. Gần đây, Ấn Quang đại sư là người thời cận đại, thời cuối đời nhà Thanh. Sự thị hiện của Ngài là tấm gương tốt của người cận đại chúng ta. Chúng ta phải biết được người xuất gia cận đại hay phạm những tật xấu gì, chúng ta có nghiêm túc phản tỉnh, nghiêm túc tư duy hay không? Tại sao Ấn Quang đại sư cả đời không nhận đồ đệ xuất gia? Chúng ta thử xem người xuất gia trong đời hiện đại này, tu hành tại sao không thể thành tựu? Bị đệ tử ràng buộc. Ngài làm ra tấm gương tốt cho chúng ta xem, cả đời không làm trụ trì, không truyền giới. Không truyền giới là không bị nhân quả. Truyền giới thì dễ, giữ giới thì khó. Họ không có thọ giới mà phạm tội thì không phải tội kép. Nếu như đã thọ giới mà lại phạm tội, là tội chồng thêm tội, sao có thể nhẫn tâm tăng thêm tội cho họ nữa? Chúng ta xem thấy thì biết, trong mấy chục năm nay, hải nội, hải ngoại, khắp các nơi, bao nhiêu đạo tràng, lão Hòa thượng chưa chết mà đệ tử đã tranh chùa, mưu tính hại nhau. Lão Hòa thượng bệnh nặng mà không có người chăm sóc, vì đệ tử bận tranh giành tài sản. Loại tội nghiệp này nặng cỡ nào! Ấn tổ biết rõ, Ấn tổ sáng tỏ, thị hiện tấm gương cho chúng ta thấy. Cả đời Ngài chỉ nhận học sinh, không nhận đồ đệ là có đạo lý lớn ở trong đó.

Khi tôi học Phật, vào thời đó vẫn chưa xuất gia, còn làm cư sĩ, lão sư Lý bảo tôi học pháp sư Ấn Quang. Tôi thật sự nương theo hình mẫu của đại sư mà học tập. Cả đời này tôi không xây đạo tràng, cũng không hề nhận đồ chúng. Các bạn xuất gia thế hệ chữ “Ngộ”, bản thân các bạn đều biết là do viện trưởng Hàn nhận, pháp danh của các bạn do viện trưởng Hàn đặt. Chỉ có Ngộ Đạo là ngoại lệ, chú ấy xuất gia tại Cơ Kim Hội Giáo Dục Phật Đà. Phàm là người xuất gia tại Đồ Thư Quán đều do Trưởng Quán thế độ. Sau khi Trưởng Quán đi rồi thì Đồ Thư Quán có biến cố, các bạn cùng tu chung với chúng tôi nhiều năm như vậy, đương nhiên là tôi có nghĩa vụ chăm lo mọi người. Tôi kính khuyên các bạn, kể cả những bạn đồng tu đến từ đại lục, tôi chân thành khuyên mọi người học theo Ấn Quang đại sư. Học theo Ngài chắc chắn chính xác, nhất định có thành tựu.

Tôi tu học vào thời đại đó vô cùng gian khổ. Sau khi xuất gia, tất cả mọi đạo tràng, tự viện đều không thâu nhận tôi. Nguyên nhân gì vậy? Nguyên nhân là tôi nhất quyết phải học giáo, mà đạo tràng tự viện thông thường nhất quyết phải làm kinh sám Phật sự. Tôi không chịu làm, cho nên tôi phải ra đi, chung quy là không thể để họ ra đi, tôi bị ép vào con đường cùng. Gặp được Trưởng Quán Hàn giúp đỡ tôi, thành tựu tôi 30 năm diễn thuyết. Cả đời tôi cảm kích bà, đó cũng là Phật Bồ Tát đến hộ pháp. Bà giúp đỡ tôi quá nhiều, quá nhiều, cho nên cả đời tôi cảm ơn. Trưởng Quán Hàn quả thật là chân hộ pháp. Năm nay bà vãng sanh được tròn hai năm, chúng tôi làm Phật sự kỷ niệm bà. Lúc làm Tam Thời Hệ Niệm Phật sự kỷ niệm, có đồng tu nhìn thấy bà. Bà đã dẫn theo mấy vị Tỳ Kheo ni ngồi ở hàng đầu tiên, Ngộ Đạo làm Tam Thời Hệ Niệm ở trên bục. Thường xuyên có người nhìn thấy bà. Bà niệm niệm vẫn hộ trì cái đạo tràng này như xưa, không hề xa rời. Đồng tu Đồ Thư Quán đều đến nơi đây rồi, đương nhiên bà có trách nhiệm, có nghĩa vụ, bà phát tâm hộ trì đến cùng. Mỗi người chúng ta đối với bà đều cảm kích, kể cả cư sĩ Lý Mộc Nguyên. Cư sĩ Lý đến đại lục, bất kể đạo tràng lớn nào cũng đều lập một bài vị vãng sanh cho Trưởng Quán Hàn, người khác không làm được như ông.

Sao gọi là người chân tu hành? Chân tu hành thì khó! Người giả tu hành thì nhiều, người mang bảng hiệu của Phật đi tạo nghiệp thì nhiều, những người này quả báo không thể tưởng tượng. Cho nên đọc kỹ Cảm Ứng Thiên, đọc kỹ Phát Khởi BồTát Thù Thắng Chí Nhạo Kinh, bạn sẽ hiểu rõ thôi.

Tối hôm qua có đồng tu nghe thấy trên đài truyền hình, họ nói là nước Mỹ có một nhà khoa học vật lý đưa ra cảnh cáo, khoảng tháng tám, trên thế giới này có tai nạn lớn. Tôi chỉ mới nghe được một nửa, chưa nghe hết. Sự việc này tôi hiểu rõ, tôi sáng tỏ, tôi đã biết từ sớm rồi. Cho nên tôi bàn với cư sĩ Lý Mộc Nguyên về chuyện này, để niệm Phật đường ở đây, từ nay về sau niệm Phật 24 giờ không gián đoạn. Hiện nay thầy Ngộ Toàn đang dẫn đầu niệm Phật. Thầy Ngộ Toàn nói với đại chúng, chúng ta niệm Phật 24 giờ để vượt qua cái tai nạn này, sau đó chúng ta hồi phục lại bình thường. Sau khi nghe xong, tôi nói: “Ngộ Toàn! Lời thầy nói sai rồi. Sao mới gọi là bình thường? Vĩnh viễn 24 giờ không gián đoạn mới là bình thường”. Niệm Phật đường của chúng ta từ nay về sau vĩnh viễn sẽ không gián đoạn, niệm Phật 24 giờ. Hiện nay, ban đêm có hơn 100 người niệm Phật, buổi sáng có hơn 200 người, buổi chiều có hơn 400 người, ngày nghỉ thông thường có 700-800 người. Vô cùng thù thắng! Đây là đạo tràng đứng đầu thế giới. Lời này không phải tôi nói, phàm là người đến Singapore tham quan đều tán thán như vậy, kể cả một số lão pháp sư của đại lục chúng ta.

Giảng đường của chúng ta mỗi ngày giảng kinh hai giờ, vĩnh viễn không gián đoạn; ba mươi tháng chạp, mồng một tháng giêng đều không gián đoạn. Niệm Phật không gián đoạn, giảng kinh không gián đoạn, đây gọi là đạo tràng có giải, có hành, giải hành cùng tiến. Chúng ta đến đây là yên tâm rồi. Đây là nguyện vọng của tôi năm xưa. Nguyện vọng này là vọng tưởng. Trước đây ở chung với Trưởng Quán Hàn, bà muốn tôi nghe theo bà, bà không nghe theo tôi, cho nên nguyện vọng của tôi chưa thực hiện. Đến nơi đây vô cùng hiếm có, tôi bảo sao thì cư sĩ Lý làm vậy, nên những vọng tưởng này của tôi thảy đều thực hiện rồi. Thôn Di Đà có lẽ tháng tám có thể thi công, dự kiến một năm rưỡi là hoàn thành. Tương lai trong đây trú chúng có thể ở được 1200 người. Người ở trong thôn Di Đà chúng ta không thu một xu nào cả, tứ xứ cúng dường. Người ở trong thôn Di Đà chỉ có hai việc là mỗi ngày nghe kinh, niệm Phật. Chúng ta xây một niệm Phật đường lớn, có thể chứa được 1500 người. Chúng ta làm thật, toàn tâm toàn lực tập trung vào chỗ này. Niệm Phật nhất định tiêu nghiệp chướng, niệm Phật nhất định liễu sanh tử, niệm Phật nhất định vãng sanh bất thoái thành Phật. Chúng ta có tín tâm kiên định, nguyện tâm kiên định thì trong tâm chúng ta không có tai nạn, không có sợ hãi, không có điên đảo vọng tưởng.

Ở Úc Châu, chúng ta có đạo tràng nhỏ. Tôi đã thông báo với Ngộ Hạnh và các đồng tu bên đó, hy vọng vào tháng bảy có thể làm Phật thất, làm bảy thất, tốt nhất là làm mười thất (bảy thất là 49 ngày, mười thất là 70 ngày), niệm Phật ngày đêm 24 giờ không gián đoạn. Tôi sẽ đến bên đó quan sát. Bên Đài Bắc, tôi cũng hy vọng pháp sư Ngộ Đạo đến bên đó, chí ít cũng làm Phật thất 49 ngày. Chúng tôi còn tìm khu đất khác nữa. Nghe nói cư sĩ Tạ Kiết Điền ở Đài Bắc có căn nhà diện tích 600 m2. Ông gọi điện nói với tôi, ông muốn dâng cúng dường làm niệm Phật đường. Vậy thì quá tốt rồi, có 300 m2 làm niệm Phật đường, 300 m2 làm liêu phòng. Hy vọng Đài Bắc ở nơi đó cũng trường kỳ niệm Phật, ngày đêm không gián đoạn. Singapore có thể làm được, tại sao các bạn không làm được? Người bên Singapore buông xả vạn duyên được, tại sao các bạn không buông được? Tám đồng tu từ đạo tràng Dallas đến Singapore, tôi biết bên đó không có người, bên đó cũng thường hay điện thoại hỏi tôi, hy vọng họ trở về. Tôi cũng khuyên họ trở về, nhưng họ không chịu trở về thì tôi cũng vô phương. Hy vọng mọi người giác ngộ, đề cao cảnh giác, nghiêm túc nỗ lực, buông bỏ tất cả, nhất tâm niệm Phật, tự độ độ tha, thành tựu vô lượng công đức.

Sáng hôm nay, vốn dĩ là có một giờ rưỡi giảng kinh Hoa Nghiêm, đúng lúc thì Ngộ Chánh từ Đài Bắc về. Em của thầy gần đây niệm Phật vãng sanh, tướng lành vô cùng hi hữu. Tôi bảo thầy làm một bài báo cáo cho tôi, nói rõ cặn kẽ. Tôi ngừng giảng kinh là do ghi hình ở trong giảng đường, đem buổi ghi hình này lưu hành ra toàn thế giới. Em của thầy chỉ niệm Phật sáu tháng là vãng sanh. Bạn thử nghĩ xem, người ta niệm như thế nào, tu như thế nào, thành công như thế nào. Đây là tấm gương tốt về tu học của người hiên đại, là một chương thù thắng nhất trong hình ảnh vãng sanh hiện đại.

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (tập 09)

Người giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không

Giảng tại: Tịnh Tông Học Hội Singapore

Thời gian: 1999

Cẩn dịch: Viên Đạt cư sĩ, Vọng Tây cư sĩ

Biên tập: Phật tử Diệu Hương

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 68


Hôm nayHôm nay : 2584

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 216026

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9993793

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?