Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Thái thượng cảm ứng thiên

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (Tập 48)

Thứ bảy - 18/10/2014 19:54

Chào chư vị đồng tu, chào mọi người.

“Cảm Ứng Thiên”, đoạn thứ ba mươi bảy là thuộc đoạn lớn thứ tư nói đến ác báo. Hai câu phía trước: “Phi nghĩa nhi động, bối lý nhi hành” là tổng cương. Ý nghĩa của hai chữ “Nghĩa” “Lý” rất sâu, rất rộng. Có thể hiểu rõ “nghĩa lý”, đây là đại học thức, cổ nhân Trung Quốc gọi là “thực học”. Thực học chính là học thức chân thật. Tiêu chuẩn của chân thật là gì vậy? Hoàn toàn có thể có được thọ dụng, không phải huyền học, là kiết hung họa phước sát sườn của chúng ta, đây mới gọi là thực học.

Chúng ta lấy xuất gia để làm thí dụ. “Nghĩa” chính là việc cần nên làm. Việc cần nên làm thì bạn phải làm. “Phi nghĩa nhi động”, “phi” là việc không nên làm. Việc không nên làm mà bạn muốn làm, thì đây là ác, không những ác mà còn là đại ác. Làm thuận theo lý là thiện. Cái lý này là gì vậy? Lý chính là tánh đức. Nếu như trái ngược lý, đó cũng là đại ác. Chúng ta dường như có khi không thấy rõ đây là ác rất lớn, nào ngờ rằng tích lũy lại sẽ biến thành đại ác. Tích ác nhỏ sẽ biến thánh ác lớn, tích ác lớn sẽ biến thành cực ác, đạo lý là ở chỗ này.

Người xuất gia chúng ta làm thế nào thuận theo nghĩa lý? Phật đã làm tấm gương cho chúng ta, Bồ Tát đã làm tấm gương cho chúng ta, Tổ sư Đại đức nhiều đời đều đã làm tấm gương cho chúng ta. Tấm gương của Phật là tiêu chuẩn tuyệt đối. Chuẩn mực của Phật Bồ Tát, chuẩn mực của Tổ sư Đại đức đã giảm bớt rồi. Tại sao vậy? Vì sợ chúng ta làm không được nên tiêu chuẩn đã giảm bớt. Giảm bớt rồi, nhưng mà vẫn không có sự trái ngược quá lớn, cho nên họ vẫn có thể thành tựu. Nếu như đem hai chữ “nghĩa lý” này quên hết, tâm hạnh hoàn toàn trái ngược nhau thì người xuất gia này chắc chắn đọa địa ngục A-tỳ. Điều này chúng ta phải biết.

Chuẩn mực Phật cho chúng ta là gì vậy? Nhất tâm cầu đạo, tu đạo, hành đạo. Đạo là gì? Đạo là “giới-định-tuệ” chân thật, đây là đại đạo. Tất cả pháp mà cả đời Như Lai nói ra, quy nạp lại chính là “giới-định-tuệ” tam học. Từ đó cho thấy, nghĩa lý cũng có ba cấp; nghĩa lý cao nhất là Tuệ học, kế đến là Định học, sau cùng là Giới học. Chúng ta khởi tâm động niệm, lời nói, việc làm có tương ưng với tam học hay không? Chúng ta phải quan sát từ chỗ này. “Định - Tuệ” tuy quá cao rồi, nhưng cũng cần phải học. Tại sao vậy? Vì không học thì không thể thành tựu. Nếu muốn dứt sanh tử, ra khỏi tam giới, không có định tuệ thì không được. Giới học thù thắng nhất chỉ là phước báo nhân thiên mà thôi, khỏi đọa tam đồ, quí vị nhất định phải hiểu rõ. Nếu muốn ở trong đời này dứt sanh tử, ra khỏi tam giới, mặc dù là niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, nhưng cũng cần phải có định tuệ. Công phu niệm Phật thấp nhất cũng phải niệm đến công phu thành khối mới có thể vãng sanh. Công phu thành khối là định tuệ sơ cấp, không đạt đến công phu này thì không thể vãng sanh. Bạn niệm Phật niệm tốt đi nữa, trì giới nghiêm đi nữa, niệm Phật vẫn là phước báo nhân thiên. Cho nên, định là gì, tuệ là gì, bạn phải hiểu cho thật rõ ràng, cho thật minh bạch.

Người Trung Quốc, bất luận là học tông phái nào, bất luận một người học Phật nào, không có ai không đọc “Kinh Kim Cang”. “Kinh Kim Cang” chính là tiêu chuẩn của định tuệ. “Bất thủ ư tướng, như như bất động” chính là định tuệ, đó chính là thiền định. Nhất tâm cầu sanh Thế giới Tây phương Cực Lạc, đó chính là tuệ. Nếu như chúng ta vẫn còn bị cảnh giới bên ngoài cám dỗ, sáu căn tiếp xúc với sáu trần, tâm vẫn bị dao động, thì cho dù chúng ta trì giới tốt đi nữa, niệm Phật niệm tốt đi nữa, cũng không thể vãng sanh. Cho nên muốn vãng sanh nhất định là phải ngăn được cám dỗ, không bị cảnh duyên làm dao động, nhất hướng chuyên niệm thì quyết định được sanh. Chúng ta học Phật, mục tiêu cuối cùng là ở chỗ này, quyết định không được làm sai.

Những việc phi nghĩa, trái lý, xã hội ngày nay chúng ta nhìn thấy quá nhiều quá nhiều rồi. Sự việc rõ ràng và dễ thấy nhất, nếu như tín đồ ưa thích một pháp sư nào đó, gần gũi một vị pháp sư nào đó, sự ưa thích đó có tình cảm ở bên trong thì đó là phi nghĩa, là trái lý. Pháp sư đi nịnh hót tín đồ, vị tín đồ này có quyền có thế, có của cải, sợ vị đại hộ pháp này đi mất, đây là phi nghĩa, đây là trái lý. Tứ sự cúng dường cho bạn, để bạn sống thật thoải mái thì đạo tâm của bạn hoàn toàn không còn nữa. Người bình thường thấy vị đại hộ pháp này tốt, thực ra, ở trong mắt chúng tôi thấy đó là đại ma vương, không phải đại hộ pháp. Vô lượng kiếp đến nay, đời nay khó khăn lắm bạn mới được thân người, nghe Phật pháp, có cơ hội giải thoát, nhưng bạn lập tức bị họ kéo lại, đó là ma vương. Ngày nay có nhiều người xem ma vương là thiện tri thức, xem thập ác nghiệp là thiện tri thức, vậy là sai rồi.

Phật Thích Ca Mâu Ni đã làm tấm gương tốt cho chúng ta. Người xuất gia, công việc một đời này của bạn rốt cuộc là gì? Chúng ta thử nghĩ thật kỹ, cả đời của Phật Đà, danh vọng lợi dưỡng, ngũ dục lục trần của thế gian xả rất sạch sẽ. Đây là điều đầu tiên chúng ta phải học. Thứ hai, hầu như Ngài dùng toàn bộ thời gian, ngày đêm không nghỉ, dũng mãnh tinh tấn trì “giới-định-tuệ” tam học. Bản thân tu học có tâm đắc, giáo hóa tất cả chúng sanh, đó là vô lượng công đức. Bản thân Ngài sống vô cùng đơn giản, ba y một bát, tâm vĩnh viễn là “thanh tịnh, bình đẳng, giác”. Phàm phu chúng ta nhìn thấy đời sống thanh bần, nhưng bên trong Ngài, sự thọ lạc đó chúng ta không cách gì tưởng tượng được. Điểm này chúng ta phải rõ ràng.

Chư Bồ Tát, Tổ sư Đại đức không hề kinh doanh qua đạo tràng. Phật Thích Ca Mâu Ni cả đời không có đạo tràng. Trúc Lâm tịnh xá, vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc, những địa điểm này đều là có chủ. Họ mời thỉnh Phật đến nơi đó hoằng pháp, Phật tạm trú ở đó. Cho nên, chúng ta xem thấy trong Kinh Phật, hai chữ “Phật tại” là Phật tại nơi nào đó, chứ không hề nói “Phật trú”. Trú chính là nhà của Ngài rồi, nhà mới trú. Phật tại nơi nào đó. “Tại” với “trú” hoàn toàn khác nhau, “tại” là không có nhà, “trú” là có nhà. Chư Phật Bồ Tát đều là người tái lai, còn thị hiện như vậy. Chúng ta thử nghĩ, người tu hành chúng ta là người thế nào? Phàm phu nghiệp chướng sâu nặng. Nếu như có những sự việc này đến quấy phá, thì đạo nghiệp của chúng ta chắc chắn bị hủy hoại mất. Cho nên, tôi thường hay khuyên các đồng tu, thật sự học đạo thì phải giống trình độ này của tôi. Tôi rất may mắn, trong một đời tôi, tôi không quản người, không quản việc, không quản tiền, không có lo nghĩ trong công việc, cho nên mới có một chút xíu thành tựu như thế này. Nếu như bạn quản người, quản việc, quản tiền là bạn tiêu rồi. Chúng ta tự mình phải suy nghĩ một chút, suy nghĩ thật kỹ, chúng ta xuất gia là vì cái gì? Không được làm trái lại bổn nguyện! Xuất gia có phải là đi kinh doanh đạo tràng không? Chiếm hữu đạo tràng là giống như người bình thường trong xã hội vậy, ở trong ngành nghề này tranh danh đoạt lợi, có phải là làm việc này không? Làm việc này, nếu như bạn có phước báo này, bạn cũng có thể được một chút, nhưng trong khoảng nháy mắt là đi địa ngục A-tỳ rồi.

Tôi ở trong một đời này, có người tặng đạo tràng cho tôi, nhưng tôi không tiếp nhận. Năm ấy, Giản Phong Văn tặng đạo tràng ở đường Nam Hàng Châu cho tôi, tôi hỏi ông: “Có phải anh muốn hại tôi không?”. Ông nghe xong, ngớ người ra, nói: “Pháp sư, sao con có thể hại thầy?”. Tôi bảo: “Anh tặng đạo tràng cho tôi chính là hại tôi”. Tôi hỏi: “Đạo tràng có cần quản lý, có cần thu chi hay không?”. Ông nói: “Đương nhiên là phải quản lý, phải thu chi”. “Vậy mà bảo là anh không hại tôi à?”. Cuối cùng tôi đưa ra điều kiện với ông: “Anh tặng đạo tràng cho tôi thì được, nhưng anh phải quản lý đạo tràng, anh phải phụ trách thu chi”. Ông gật đầu đồng ý. Thế thì được, tôi vẫn là không quản việc. Việc này giống như nói là phủ lên cái hư danh mà thôi, cho nên quyết định không quản việc thì tâm của chúng ta mới có thể chuyên nhất.

Chúng ta mỗi ngày phải đọc Kinh, khi không đọc Kinh thì tư duy nghĩa Kinh. Lời dạy của Phật Đà, từng giây từng phút luôn luôn ở trong tâm, Tông môn gọi là nghi tình, lâu ngày dài tháng, gặp phải duyên thì sẽ có chỗ ngộ. Khi hiểu được ý của Phật rồi, cái gọi là tiểu nghi có tiểu ngộ, đại nghi có đại ngộ. Cái nghi này không phải hoài nghi, là lý quá sâu nên không hiểu, nhưng mà thường xuyên nghĩ đến, đến lúc gặp được cơ duyên thì sẽ hiểu thôi. Nếu như bạn có việc lo lắng, từ sáng đến tối lúc nào cũng nghĩ chuyện lung tung, những sự việc này không những chướng ngại khai ngộ, chướng ngại định, cũng chướng ngại giới, “giới-định-tuệ” tam học thảy đều bị chướng ngại hết. Từ sáng đến tối sinh khởi lên phiền não, vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, hay nói cách khác, bạn đang tạo nghiệp. Vậy là quá đỗi sai lầm!

Cho nên tôi ở trong một đời này, khi giảng Kinh cũng thường hay nói là đạo tràng nhất định là của người tại gia, của cư sĩ. Người tại gia xây dựng đạo tràng, lễ thỉnh người xuất gia đến hoằng pháp lợi sinh. Giống như Phật Thích Ca Mâu Ni năm xưa vậy, đạo tràng đều là của quốc vương, đại thần, trưởng giả giàu có. Họ lễ thỉnh Phật Thích Ca Mâu Ni đến giảng Kinh thuyết pháp, hóa độ chúng sanh. Người xuất gia đối với ngũ dục lục trần không mảy may dính nhiễm, cái này tốt, thanh tịnh tự tại, vĩnh viễn gìn giữ trí tuệ cao độ của mình, một mảy may cũng không dính nhiễm. Cho nên nhất định phải có cái tâm xuất trần, có cái tâm vượt thế. Nếu còn muốn tranh đoạt đạo tràng, bá chiếm đạo tràng, chiếm cứ đạo tràng, khống chế đạo tràng, đây là tâm luân hồi. Dùng tâm luân hồi mà tham thiền, niệm Phật, giảng Kinh thuyết pháp đều là tạo nghiệp luân hồi, vẫn không ra khỏi lục đạo luân hồi, vả lại tội nghiệp còn vô cùng nặng. Nặng ở chỗ nào vậy? Bạn lấy chiêu bài của Phật đi làm nghiệp luân hồi, cho nên quả báo ở địa ngục. Nếu như không phải chiêu bài của Phật, quả báo chưa chắc ở địa ngục. Chỉ cần là lấy chiêu bài của Phật làm những việc này, không có một người nào không đọa địa ngục A-tỳ. Điều này chúng ta phải rõ ràng, phải minh bạch.

Hai chữ “nghĩa lý”, chúng ta phải hiểu rõ ràng. Ý nghĩa của hai chữ này sâu rộng vô tận. Điều mà cổ đức dạy cho chúng ta là “cùng lý tận tánh”, đạt đến chỗ viên mãn nhất chính là quả địa Như Lai. Đệ tử Phật, bất luận tại gia hay xuất gia, hai chữ “nghĩa lý” này phải hiểu rõ ràng, phải hiểu minh bạch. Chúng ta biết được bao nhiêu, nhất định phải làm bấy nhiêu. Cái đơn giản nhất là ngũ giới thập thiện. Mọi người đều biết, thuận theo lời dạy của Phật, đó là thuận nghĩa lý; trái lại lời dạy của Phật, đó chính là “phi nghĩa nhi động, bối lý nhi hành”. Phật dạy chúng ta “hiếu dưỡng phụ mẫu”, chúng ta có làm được chưa? Phật dạy chúng ta “phụng sự sư trưởng”, chúng ta có làm được chưa? Chúng ta có thể hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, đây là tiểu nghĩa, là nghĩa lý nhỏ. Nghĩa lý càng sâu càng rộng hơn, Phật nói ở trong Kinh, tất cả người nam là cha ta, tất cả người nữ là mẹ ta, bạn có thể đem cái tâm hiếu dưỡng phụ mẫu, mở rộng đến hiếu dưỡng tất cả người nam, người nữ, thì đây là nghĩa lý lớn, thế nhưng đây vẫn chưa phải cứu cánh viên mãn. Cứu cánh viên mãn là như trong “Kinh Hoa Nghiêm” nói: “Tình dữ vô tình, đồng viên chủng trí”. Không những phải hiếu dưỡng đối với mọi người giống như cha mẹ, mà đối với tất cả súc sanh, đối với tất cả chúng sanh đều phải hiếu dưỡng, đó mới gọi là cứu cánh viên mãn, là nghĩa lớn của Phật Bồ Tát, là chân lý của Phật Bồ Tát. Điều này hiện nay chúng ta làm không được. Có thể mở rộng hiếu dưỡng, cung kính đến toàn thể nhân loại thì coi như bạn đã khá rồi. Tạm thời không nói thập pháp giới, mà chỉ nói pháp giới người, bạn có thể phổ cập đến pháp giới người thì coi như bạn đã khá rồi.

Thế nào mới gọi là hiếu thuận? Ở phần trước, chúng tôi đã giảng trong đoạn “Trung Hiếu”. Thuận tánh chính là hiếu thuận, không phải thuận tình. Thuận nhân tình là sai lầm rồi, phải thuận tánh đức. Tánh đức là gì vậy? Ngũ giới là tánh đức, thập thiện là tánh đức. Hay nói cách khác, chúng ta sát sanh, trộm cắp, tà dâm, đây là đã trái lại nghĩa lý, đây là bất hiếu. Chúng ta vọng ngữ, lưỡng thiệt là trái lại tánh đức, là bất hiếu, là không thuận. Thánh nhân thế xuất thế gian dạy chúng ta, tiêu chuẩn đã lập nên rồi, chúng ta nhất định phải phù hợp thuận theo tiêu chuẩn này, không được phép trái lại. Đây là ranh giới của thiện ác. Nhưng mà chúng ta hành thiện khó, tạo ác dễ dàng, nguyên nhân do đâu vậy? Tập khí từ vô lượng kiếp, ở trong Kinh Phật nói rất hay, tâm sở phiền não của chúng ta có 26 cái, tâm sở thiện có 11 cái, vậy bạn thử nghĩ xem, ác thì nhiều, thiện thì ít, cho nên tạo ác quá dễ dàng, tạo thiện là quá khó. Ở chỗ này cần phải có sự giác ngộ cao độ, phải thật sự tỉnh trở lại, người này gọi là khai ngộ, giác ngộ rồi. Đem tập khí phiền não của mình khống chế lại, thuận theo nghĩa lý mà làm thì chúng ta sẽ có thành tựu.

Người xuất gia phải nhớ kỹ, tôi nói lời thành thật, nếu như bạn có đạo tràng, bạn chắc chắn đọa địa ngục A-tỳ. Người nào có thể có đạo tràng vậy? Người đã đại triệt đại ngộ. Vào thời xưa, Phật giáo truyền vào Trung Quốc, người xuất gia mới quản lý đạo tràng. Thế nhưng quản lý đạo tràng là người nào vậy? Đều là Phật Bồ Tát tái lai. Quản lý đạo tràng là vì người tu hành mà phục vụ, đây là Phật Bồ Tát, không phải người phàm. Bạn có phải là Phật Bồ Tát tái lai không? Là Phật Bồ Tát tái lai thì được, không có vấn đề, bạn đại từ đại bi, bạn làm hộ pháp. Quản lý đạo tràng là hộ pháp, không phải tu pháp, bạn là Bồ Tát, là Phật Đà tái lai. Nếu như chúng ta biết mình là phàm phu, tập khí phiền não chưa có đoạn thì không làm. Tập khí phiền não thật sự đoạn sạch rồi, còn phải xem duyên phận, không có duyên phận, miễn cưỡng cũng không được. Chúng ta đời này thời gian có hạn, quá ngắn rồi. Nếu như bạn ở tuổi trung niên, bạn biết tương lai vẫn còn mấy năm sống tốt không? Bạn cho rằng mình có thể sống đến 80-90 tuổi sao? Chưa chắc! Người 40-50 tuổi đi quá nhiều quá nhiều rồi. Tôi học Phật, xuất gia, đồng tham đạo hữu vào thời đó hầu như ba phần tư đều không còn nữa, họ chỉ mới 40-50 tuổi là đã đi rồi. “Đường xuống suối vàng không già trẻ”. Cho nên, mỗi giây phút còn sống, chúng ta đều phải nắm lấy nó thật chắc, không được phép lãng phí.

Chúng ta ngày nay ở Singapore tu hành là cơ hội hiếm có; không quản người, không quản việc, không quản tiền, nhất tâm lo cho đạo, đây là thật sự như pháp. Đến đâu để tìm ra cái đạo tràng này? Tìm không ra rồi. Vị hộ pháp này đều là Phật Bồ Tát tái lai, tuyệt đối không phải phàm phu, phàm phu làm không được. Phàm phu muốn đẩy bạn xuống nước nên mời bạn làm trụ trì, mời bạn làm chủ nhà, mời bạn quản cái này, quản cái nọ, đẩy bạn xuống nước, họ không phải người tốt. Không nên cho rằng, họ giao cho bạn nhiều quyền lực như vậy là tốt đối với bạn. Mắt bạn thấy rõ ràng, họ không phải người tốt. Tôi có năng lực này, thấy rất rõ ràng, cho nên ngoài rìa cũng không dính. Lần này tôi đến Úc châu để tham gia hội nghị tôn giáo do Thiên Chúa Giáo tổ chức. Lần này họ tổ chức rất tốt. Tôi đã nói qua mấy lần, các bạn cũng đều nghe thấy rồi, tại Towoomba tôi đã mua một mảnh đất nhỏ và đã làm một cái am tranh. Ngày nào đó, duyên phận ở đây hết rồi thì tôi sẽ lên trên núi ở am tranh này, tôi sẽ không ở đạo tràng, tôi không muốn gây ra những chuyện thị phi đó, tất cả buông xả, cầu dứt sanh tử, cầu vãng sanh Tịnh Độ.

****************

“Cảm Ứng Thiên”, đoạn thứ ba mươi bảy nói đến tổng cương của ác báo. “Phi nghĩa nhi động, bội lý nhi hành”, câu nói này chúng tôi đã giảng qua hai lần. Hai chữ “nghĩa lý” vô cùng quan trọng, không chỉ là làm người cần phải hiểu rõ, mà tu hành chứng quả, vĩnh viễn không có làm trái lại. Có thể nói, nguồn gốc của tất cả thiện pháp thế xuất thế gian là sâu rộng vô tận. Nếu như là “phi nghĩa”, “bội lý”, đây chính là nguồn gốc của các ác. Ở chỗ này Thái Thượng đặc biệt nhắc nhở chúng ta. Ở trong Phật pháp nói, hai chữ này nhận thức càng sâu sắc thì phẩm vị sẽ càng cao. Hai chữ này nhận thức đến cứu cánh viên mãn, chính là quả địa Như Lai. “Nghĩa” là gì, “lý” là gì, chúng ta nhất định phải hiểu rõ ràng.

Bốn câu sau cùng là kết luận của chú giải, rất hay: “Duy ư nghĩa lý, kiến đắc tinh thục, cố thủ chi tuân chi, xuất ư tự nhiên”. Hai câu phía trước là sự nhận biết về nghĩa lý. Hai câu sau là sự thực tiễn đối với nghĩa lý, hiện nay gọi là ứng dụng. Cho nên làm tự nhiên như vậy. Tại sao Phật Bồ Tát, các bậc Thánh Hiền làm tự nhiên như vậy, khởi tâm động niệm, lời nói việc làm đều có thể thuận theo nghĩa lý? Chẳng qua là nhận thức thấu triệt. Phàm phu chúng ta khởi tâm động niệm là trái ngược nghĩa lý, đối với hai chữ này nhận thức không rõ ràng, không đủ thấu triệt. Vấn đề phát sinh là ở chỗ này.

Tiếp theo là câu “Dĩ ác vi năng”. Chúng ta tuyệt đối không được phép xem thường câu này. Tại sao vậy? Câu này chính là bệnh của bản thân chúng ta. Phạm vi của ác quá lớn, quá rộng rồi. Tiêu chuẩn của Phật pháp đối với thiện ác là khởi tâm động niệm vì mình là ác, khởi tâm động niệm vì người khác là thiện, tại sao Phật dùng tiêu chuẩn này? Người thế gian nghe thấy thì nghi ngờ, vì có người nào không vì mình đâu? Vì mình là sai sao? Mỗi người đều cho rằng vì mình là đúng. Đặc biệt là ở trong xã hội hiện nay còn có quyền bí mật đời tư, đâu đâu cũng muốn coi trọng việc làm sao bảo vệ mình không bị người khác làm tổn thương, pháp luật cũng bảo hộ. Tại sao Phật nói đây là ác vậy? Dụng ý tiêu chuẩn của Phật, chúng ta phải hiểu. Tiêu chuẩn của pháp thế gian là không ra khỏi luân hồi, không ra khỏi tam giới. Tiêu chuẩn của Phật pháp là dạy chúng ta dứt sanh tử, thoát luân hồi, ra khỏi tam giới. Nghiệp nhân của tam giới lục đạo chính là chấp ngã. Chúng ta hiểu rõ đạo lý này rồi thì mới biết Phật đặt ra tiêu chuẩn này là chính xác. Phật đem những nhân tố này quy thành ba loại lớn là vọng tưởng, phân biệt và chấp trước. Chúng ta hiện nay dùng cách nói này để nói mọi người dễ hiểu. Thuật ngữ ở trong Kinh Phật là vô minh, kiến tư, trần sa phiền não. Vô minh chính là vọng tưởng, trần sa chính là phân biệt, kiến tư là chấp trước. Ba loại phiền não này bạn đều có đủ, đây chính là chúng sanh ở lục đạo.

Ở trong chấp trước, điều nghiêm trọng nhất chính là “ngã”, khởi tâm động niệm đều là “ngã”. “Ngã”, cái chấp trước này là cội nguồn của mọi ác, cho nên ngày nay chúng ta là “dĩ ác vi năng”. Chúng ta thử nghĩ, chúng ta có phải vậy không? Đúng vậy, một chút cũng không sai! Tự cho mình là đúng, tự cho mình là giỏi! Đến khi nào giác ngộ rồi, từ bỏ chấp ngã, không còn chấp trước ngã nữa, không còn chấp trước tự tư tự lợi nữa, khởi tâm động niệm đều có thể vì tất cả chúng sanh, đây là thiện. Cho nên Phật nói, tham sân si là tam độc phiền não. Ngược lại là vô tham, vô sân, vô si, đây là ba thiện căn. Tất cả mọi thiện pháp sinh ra từ vô tham, vô sân, vô si. Phật đây mới nói rõ ràng, nói minh bạch, thật sự đã giải quyết vấn đề cho chúng ta rồi. Bản thân chúng ta phải hiểu rõ, phải luôn đem sự việc này làm rõ ràng. Phật dạy cho các đệ tử, chí ít mỗi ngày phải làm thời khóa sáng tối. Ý nghĩa của thời khóa sáng tối, chúng tôi cũng đã nói rất nhiều lần. Khóa sáng là nhắc nhở bản thân. Khóa tối là soi lại, kiểm điểm, sám hối, sửa chữa lỗi lầm. Mỗi ngày sám hối, mỗi ngày soi lại, mỗi ngày sửa lỗi, đây gọi là chân tu hành, như vậy thì chúng ta mới có thể nâng cao “giới-định-tuệ” tam học. Bạn càng thấu triệt nghĩa lý thì bạn buông xả sẽ càng nhiều.

Người buông xả tự tư tự lợi thì mới gọi là Thỉ Giác, người này bắt đầu giác ngộ rồi. Từ trên cơ sở này phải không ngừng nâng cao lên thêm. Nếu lấy quả vị Bồ Tát Đại Thừa để nói thì Thỉ Giác là Bồ Tát quả vị sơ tín. Lên trên nữa còn có 42 cấp bậc, vậy mới có thể đạt đến cứu cánh viên mãn. Sau đó bạn mới biết, nhà Phật chúng ta nói thấy đạo. Đạo là gì? Dùng lời chỗ này để nói, “nghĩa lý” chính là đạo. Thấy càng thấu triệt thì phẩm vị của bạn sẽ càng cao. Từ thập tín đến thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa, đến Đẳng Giác, Diệu Giác viên mãn rồi. Quí vị thử nghĩ xem, đây có phải là điều mà trong “Kinh Hoa Nghiêm” nói “một tức tất cả, tất cả tức một” không? Một chút cũng không sai!

Chú giải ở chỗ này cũng rất hay. Ông nói, bốn chữ “dĩ ác vi năng” là gốc của mọi ác lớn nhỏ mà con người mắc phải ngàn vạn đời vậy, vì thế mới xếp vào hàng đầu của các ác. Lời này nói hay, một chút cũng không sai. Chúng sanh lục đạo, người nào không phải “dĩ ác vi năng”? Ai giác ngộ rồi? Ai quay đầu rồi? Người thời xưa đọc sách Thánh Hiền, đọc sách Phật mới khai ngộ (khai ngộ chính là đối với sự việc này, nhìn chung là sáng tỏ một hai phần). Người hiện đại không đọc sách Thánh Hiền, cũng không coi trọng Phật pháp, cái gốc bệnh này trước đây đã hình thành thói quen rồi, giống như hút ma túy vậy, họ đã bị nghiện rồi, không có cách gì dứt hết. Vào lúc này phải làm thế nào? Phật Bồ Tát từ bi, ngày nay muốn cứu vãn lòng người thói đời, dạy người hiểu rõ nghĩa lý, khuyên dạy người đoạn ác tu thiện chỉ có dựa vào giáo dục tôn giáo. Giáo dục xã hội đã không nói đến điều này, hình như đã không thể rồi, cho nên giáo dục tôn giáo phải đến bù đắp.

Lần này tôi ở Úc châu, nghe thấy các đồng tu Úc châu nói với tôi là chính phủ Úc châu đã có pháp luật quy định, học sinh đi học ở trường, học sinh tiểu học có vài ba người tin một tôn giáo khác thì phụ huynh học sinh có thể yêu cầu nhà trường mời thầy truyền giáo tôn giáo đến dạy cho các em học sinh nhỏ này. Họ hiện nay đã suy nghĩ đến rồi. Giáo dục tôn giáo bắt đầu từ khi nào vậy? Bắt đầu từ lúc mẫu giáo, bắt đầu từ tiểu học. Thật tuyệt vời, họ thật sự giác ngộ rồi! Họ yêu cầu chúng tôi giúp họ biên soạn giáo trình dạy học tôn giáo cho các em nhỏ. Chúng tôi mang thông tin này về rồi. Hiện nay giáo trình học ở cấp tiểu học của họ là có một cuốn “Truyện ký Phật Thích Ca Mâu Ni” của Đài Loan in, dùng quyển sách giáo khoa này. Giáo trình mà các cháu nhỏ mẫu giáo thích dùng, phải lấy tranh ảnh làm chủ, chữ càng ít càng tốt. Triển khai giáo dục đối với các cháu nhỏ mẫu giáo. Ngày nay ở ngoại quốc, tôi tin Úc châu chịu sự ảnh hưởng của người Anh quốc, họ đã nghĩ đến rồi. Giáo dục đạo đức phải bắt đầu dạy từ nhỏ. Mẫu giáo, tiểu học, trung học, đại học đều có môn tôn giáo. Bạn tín ngưỡng tôn giáo nào thì có thể mời thầy truyền giáo của tôn giáo ấy đến dạy cho bạn. Đây là điều đáng để chúng ta tôn kính, đáng để chúng ta tán thán, cũng đáng để chúng ta phổ biến tuyên dương. Cái hay này của người ta, chúng ta phải học tập.

Trung Quốc chúng ta là quốc gia Phật giáo, hiện nay vẫn chưa có nghĩ đến việc này. Quốc gia Cơ Đốc giáo, quốc gia Thiên Chúa giáo, họ đã nghĩ đến vấn đề này. Hơn nữa, tâm lượng của họ lớn, có thể bao dung, bất luận tôn giáo nào, bất kể bạn tin tôn giáo gì, bạn đều có thể yêu cầu nhà trường mời thầy truyền giáo đến dạy, hoàn toàn không hạn chế, vài ba học sinh là có thể yêu cầu nhà trường mời thầy đến dạy. Ví dụ như ở trong trường, có mấy em học sinh ở nhà là học Phật, thì phụ huynh có thể mời pháp sư đến dạy cho những học sinh này. Chúng ta nhìn thấy rồi, nghe thấy rồi, điều này đáng được chúng ta phản tỉnh sâu sắc. Thế kỷ kế đến, sức nước tăng trưởng, sức nước lớn mạnh không phải là do khoa học kỹ thuật, mà do đạo đức. Khoa học kỹ thuật phát triển đi nữa, công thương nghiệp phát triển đi nữa, mà đạo đức không có, thì giữa người với người, tâm thương yêu không còn nữa, mọi thứ giao thiệp đều lấy lợi hại làm tiêu chuẩn. Giao thiệp có lợi là bạn bè, còn giao thiệp không có lợi là kẻ địch, vậy có nguy không? Xã hội này sao mà không loạn động cho được? Quốc gia này đã tràn đầy nguy cơ, nguy cơ không phải đến từ bên ngoài, mà là ở nội bộ. Cho nên thế gian có những người trí tuệ cao độ, chí sĩ nhân từ là nhìn thấy chỗ nguy cơ của vấn đề này, lấy giáo dục tôn giáo để bù đắp, để bồi dưỡng giáo dục đạo đức.

Trung Quốc từ xưa đến nay, Hán Vũ Đế chính thức dùng “tư tưởng Khổng Mạnh” làm phương châm giáo dục cho quốc gia. Chính sách này mãi cho đến thời Mãn Thanh cũng không có thay đổi, tiếp nối đã thực hiện 2.000 năm. Mãi cho đến thời Dân Quốc, một mực học tập theo phương Tây, đem lời giáo huấn của cổ thánh tiên hiền vứt bỏ hết rồi. Quốc gia chúng ta gần 100 năm nay gặp phải khổ nạn lớn như vậy. Chúng ta phải biết nguồn gốc của khổ nạn từ đâu mà ra. Chúng ta đem cách thức thành công của tổ tiên vứt bỏ rồi, cho nên mới gặp nạn. Người Nhật Bản, một quốc gia nhỏ như vậy, có thể gọi là cường quốc hàng đầu ở trên thế giới, dựa vào cái gì? Dựa vào giáo dục Nho gia Trung Quốc. Chúng ta vứt bỏ rồi, còn họ thì đang phụng hành. Họ gìn giữ, không để mất, một mặt theo học khoa học kỹ thuật của phương Tây, cho nên Nhật Bản được xưng là cường quốc đứng đầu thế giới, người phương Tây tụt hậu xa so với họ. Chúng ta có kho báu thật sự, hiện nay người phương Tây phát hiện được, họ áp dụng, họ học tập. Nếu như chúng ta vẫn không giác ngộ, vẫn không thể đón đầu đuổi kịp, thì trong 20 năm, 30 năm sau, họ đều phát triển rồi, Trung Quốc chúng ta lại sa sút ở phía sau. Đây là điểm đáng để chúng ta cảnh giác. Hy vọng mọi người chúng ta đều có tâm cảnh giác.

Chúng ta học “Cảm Ứng Thiên” phải giống như học Kinh Phật vậy, phải hiểu sâu nghĩa thú, phải cố gắng phản tỉnh, tìm cho ra tất cả nguồn gốc không thể tu thiện, không thể khai ngộ, không thể thành tựu của chúng ta, sau đó đem nó điều chỉnh trở lại, đây gọi là tu từ căn bản. Mỗi một câu trong “Cảm Ứng Thiên” đều có rất nhiều, rất nhiều chuyện ví dụ ở trong đời sống hành trì thường ngày, để cho chúng ta làm tham khảo, cho chúng ta học tập. Những gì là thiện? Những gì là ác? Những gì là giác? Những gì là mê? Chúng ta đều phải hiểu rõ ràng, đều phải làm sáng tỏ, sau đó đoạn ác tu thiện mới không đến nỗi trở thành một câu nói suông. Chúng ta cần mẫn đi làm mới đạt được lợi ích công đức thù thắng chân thật. Ở trong chú giải cũng đã nêu rất nhiều ví dụ, chúng ta không thể giảng kỹ. Cần phải nêu ra mấy điều, để chúng ta sau khi học rồi ở trong tâm cảm thấy rất thiết thực. Nghĩ thử, “dĩ ác vi năng”, ta đã bị phạm ở chỗ nào, trong những việc nào rồi?

Hôm nay thời gian đã hết, chúng ta chỉ giảng đến đây. A Di Đà Phật.

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (tập 48)

Người giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không

Giảng tại: Tịnh Tông Học Hội Singapore

Thời gian: Năm 1999

Cẩn dịch: Viên Đạt cư sĩ, Vọng Tây cư sĩ

Biên tập: Ban biên tập Tịnh Không Pháp Ngữ

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 57


Hôm nayHôm nay : 6107

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 205669

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 10863712

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?