Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Thái thượng cảm ứng thiên

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (Tập 42)

Thứ hai - 29/09/2014 00:20

Mời xem "Cảm Ứng Thiên" đoạn thứ 32: "Thi ân bất cầu báo, dữ nhân bất truy hối". Hai câu kinh văn này ý nói, bố thí đạt đến cảnh giới viên mãn chân thật, nhà Phật gọi là Tam Luân Thể Không, đây là tiền phương tiện của Tam Luân Thể Không, cũng là bước đầu thực tiễn của Tam Luân Thể Không, là chúng ta có thể làm đến được.

"Thi ân cầu báo", trong chú giải này chú được rất hay, "tham tâm vị vong, dữ nhân truy hối, lận tâm vị hóa, thamnhi thả lận, quân tử bất vi". Nhà Nho nói tiêu chuẩn thấp nhất. Trong nhà Nho, cao nhất là Thánh nhân, kế đến là hiền nhân, kế đến nữa là quân tử. Người đi học thời trước, đi học là chí ở thánh hiền, người đi học phải đem cảnh giới thấp nhất của chính mình nâng cao đến cảnh giới của một người quân tử, thì họ mớiđược xem là chân thật có thọ dụng. Do đây có thể biết, quân tử của nhà Nho, tuy là phiền não ba độc chưa đoạn, nhưng họ có thể phục xuống được, Phật pháp chúng ta gọi là phục phiền não. Nếu không phục được phiền não tập khí, thì dưới quân tử là tiểu nhân. Việc này chúng ta nhất định phải rõ ràng, phải tường tận. Tại vì sao phải đi học? Mục đích, ý nghĩa chân thật của việc đi học ở đâu? Nho và Phật đã nói, "không ngoài làm một người minh bạch mà thôi". Người tường tận sự lý thì gọi là Thánh hiền, người hiểu được chừng mực là người quân tử. Cho nên bố thí quyết định không nên cầu quả báo.

Trên Kinh đích thực Phật có nói, ngay trong cửa Phật, bố thí Phật Đà, Bồ Tát, A La Hán, quả báo không thể nghĩ bàn, có câu là "thí một, được vạn báo". Kỳ thật, cái "vạn" đó là hình dung từ, không phải chữ số, chắc chắn quả báo không chỉ vạn lần. Có rất nhiều người hiểu sai đi ý nghĩa của câu nói này, cho rằng làm ăn trong cửa Phật lời thật, một vốn vạn lời, nên mọi người đều vào trong cửa Phật để bố thí, để tu phước, mục đích ở chỗ nào? Cầu phát tài, cầu thăng quan, cầu Phật Bồ Tát bảo hộ, toàn là vì lòng tham. Vì lòng tham của mình, có thể có được quả báo hay không? Thực tế mà nói, thí là nhân, quả báo quyết định là có, làm gì mà không có quả báo? Chẳng qua là quả báo không lớn lắm. Bố thí, cái đạo lý này nếu nói ra thì rất sâu, vậy thì phải hỏi bạn là do động cơ gì? Bạn dùng cái tâm gì? Động cơ của bạn là thuần thiện, dụng tâm của bạn rộng lớn thì quả báo của bạn liền lớn; động cơ của bạn là vì cầu tự lợi, tâm lượng rất nhỏ hẹp thì quả báo bố thí của bạn cũng sẽ rất nhỏ.

Nhà Phật nói, bố thí ít mà được quả báo nhiều, được quả báo lớn, đó là nói người có tâm chân thành thanh tịnh, tâm rộng lớn tu bố thí, sự bố thí này quả báo không thể nghĩ bàn. Chúng ta giống như vậy, Phật bố thí một đồng, chúng ta bố thí một đồng; chúng ta bố thí một đồng, quả báo có thể chỉ là một đồng; Phật bố thí một đồng đó, quả báo không thể nghĩ bàn, vô lượng vô biên, do nguyên nhân gì? Phật dùng chân tâm, tâm của Phật là "tâm bao thái hư, lượng khắp pháp giới", chúng ta làm sao có thể sánh được? Cho nên nhà Phật nói, "thí một, được vạn báo", không phải là giả. Thế nhưng bạn phải hiểu được, người ta dùng tâm như thế nào mới có thể đạt được quả báo thù thắng không gì bằng.

Tôi thường hay dạy đồng tu, người ta hỏi mượn tiền bạn, bạn hoan hỉ mà cho họ mượn, tuyệt đối không nên nghĩ đến tương lai họ sẽ hoàn trả cho ta. Bạn cho họ mượn, chính là bạn tặng cho họ, họ trả lại là rất tốt, không trả thì cũng rất tốt, bạn liền không có phiền não, vậy bạn kết giao bạn bè sẽ rất nồng hậu. Bạn xem, bao nhiêu bạn bè tốt, chỉ vì mượn tiền tàimà sau cùng trở mặt thành thù địch, trên lịch sử có, ngay hoàn cảnh hiện tại của chúng ta cũng xem thấy không ít. Tại vì sao có thể trở thành như vậy? Chính là mượn được rồi mà trả thì lại không muốn trả, đây là sai lầm, chắc chắn là sai lầm, ngay cả mượn còn không muốn trả, huống hồ bố thí? Bố thí phải cầu quả báo. Tâm của bạn thanh tịnh, nếu không thanh tịnh thì quả báo nhỏ. Tâm thanh tịnh, bất cứ thứ gì đều không cầu thì quả báo lớn.

Hiện tại chúng ta giảng vô tư bố thí, bố thí vô điều kiện, quả báo này liền thù thắng. Bạn tặng cho người ta, kèm theo rất nhiều điều kiện, nếu như người ta báo đáp đối với bạn, luôn luôn đều là không như ý, thí dụ trên thực tế. Cho nên nếu như tỉ mỉ phản tỉnh một chút, bạn liền có thể quán sát được.

Sau đại thế chiến lần thứ hai, ngay trong thời kỳ đại chiến và sau đại chiến, Hoa Kỳ viện trợ kinh tế đối với toàn thế giới, một số thì cho mượn, một số thì tặng cho. Rất nhiều quốc gia bị tai nạn, tai họa chiến tranh đều chọn lấy viện trợ kinh tế. Viện trợ kinh tế là bố thí, thế nhưng đều là kèm theorất nhiều, rất nhiều điều kiện. Kết quả những quốc gia được tặng cho, không có quốc gia nào mà không ghét người Mỹ, không có nước nào mà không oán người Mỹ, nguyên nhân gì vậy? Vì họ cầu báo. Nếu như người Mỹ đọc qua “Thái Thượng Cảm Ứng Thiên”, nếu như hiểu được Phật pháp thì ngày nay họ đích thực có thể thống trị toàn thế giới, người toàn thế giới đối với họ, không ai mà không cám ơn đội đức, không ai không ủng hộ, vì sao vậy? Bố thí không cầu báo, đây là gì? Bố thí ân đức có thể cảm động lòng người. Họ không hiểu được đạo lý này. Tôi lấy tiền tài giúp cho bạn, mang theo rất nhiều điều kiện, bạn đương nhiên sẽ tiếp nhận, vì sao vậy? Tiếp nhận để giải quyết khó khăn trước mắt, nhưng trong lòng không phục. Người đồng tâm này, tâm đồng lý này, nếu như mang theo điều kiện quá hà khắc, lòng oán hận vĩnh viễn không thể hóa giải. Đây là do không có trí tuệ, không có đọc sách thánh hiền, nên không hiểu được những đại đạo lý này.

Trong Kinh Phật nói, những đế vương thống trị thế gian này, vị lớn nhất là Kim Luân Thánh Vương, ông thống trị một bốn thiên hạ. Ngày nay chúng ta đều bị ông thống trị, thế nhưng chúng ta chính mình không biết, chúng ta cũng không nghe nói qua, cũng giống như cái gì? Quốc gia của chúng ta, đất đai quá lớn, người ở nơi nông thôn, cả đời cũng không ra khỏi cửa thì làm gì biết được hoàng đế là ai, thống trị cái gì, họ không hề biết. Họ ngày ngày trải qua ngày tháng thái bình. Phạm vi của họ là thống trị của quốc gia.

Trên Kinh Phật nói với chúng ta, phạm vi thống trị của Kim Luân Thánh Vương rất lớn, một đơn vị thế giới. Từ trước chúng ta cho rằng đơn vị thế giới này là một Thái Dương hệ, ông thống trị Thái Dương hệ. Chúng ta sống trong một tinh cầu nhỏ của Thái Dương hệ. Cho nên có người xem thấy đĩa bay, tôi nghe nói có đĩa bay, tôi cũng đã từng thấy qua, có thể là Kim Luân Thánh Vương phái người đến đây để tuần tra.

Tại sao gọi ông là Luân Vương?Trên Kinh Phật nói vì ông có luân bảo, cái luân bảo này là luân bảo hình tròn, là công cụ giao thông của ông, cũng là binh khí của ông, như hiện tại chúng ta gọi là chiến đấu cơ. Đĩa bay làhình tròn, chẳng phải rất giống luân bảo hay sao? Tốc độ phi hành rất nhanh, trong Phật kinh nói, ngay trong một ngày, ông có thể tuần tra cả một Thái Dương hệ, phạm vi rất lớn như vậy là do ông quản hạt. Đây là chúng ta từ trước giải thích. Nếu như y theo giải thích của lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ thì phạm vi đó lớn hơn, một đơn vị thế giới hiện tại chúng ta gọi là hệ Ngân Hà. Vua của hệ Ngân Hà là Kim Luân Thánh Vương. Chúng ta ở trong cả thảy hệ Ngân Hà. Khoa học hiện tại thống kê, Hệ Ngân Hà gồm những tinh cầu lớn nhỏ chí ít có đến một trăm ức cái. Cái địa cầu của chúng ta ở trong hệ Ngân Hà, vẫn xem là một tinh cầu nhỏ, không lớn. Đây là quốc vương lớn nhất mà Phật nói, phước báo rất lớn. Kế đến là Ngân Luân Vương, Đồng Luân Vương, Thiết Luân Vương. Quốc vương ở thế gian này của chúng ta đều không ở trong số này, đều không tính đến. Những người này phước báo rất lớn, không luận là thiên thượng nhân gian.

Phú là tài phú, quý là địa vị, đó đều là quả báo. Phú quý, tuổi thọ đều có nhân duyên. Nếu như không tu nhân, bạn làm sao có thể được quả báo? Người địa vị càng cao, thông minh trí tuệ siêu vượt người thường, đức hạnh cũng siêu vượt người thường, họ từ đâu mà đến? Không phải trời sanh, họ đều là nhận được sự giáo dục tốt đẹp, do dạy mà ra. Ngày trước khi Pháp sư Diễn Bồi còn ở đời, dường như là khi lần thứ hai tôi đến Singapore, đại khái là năm 1979, ông mời tôi ăn cơm và hỏi tôi: "Pháp sư Tịnh Không! Ông tán thành dân chủ hay quân chủ?". Tôi nói với ông: “Tôi tán thành quân chủ”. Ông nói: "Ông lạc hậu rồi". Tôi nói: "Tôi không hề lạc hậu". Đế vương của chế độ quân chủ hy vọng gìn giữ truyền thống của họ, mong muốn triều đại của họ con cháu đời đời có thể duy trì, họ có cái tâm này, cho nên bồi dưỡng người kế thừa, có thể nói là dùng hết tâm huyết. Bởi vì có người kế thừa tốt, họ mới có thể giữ được lâu. Nếu như bại gia tử, nhất định là nước mất nhà tan. Cho nên bồi dưỡng đối với người kế thừa, dạy bảo đối với người kế thừa, đều là mời thầy giỏi nhất nước, người có đức hạnh, người có học vấn đến để dạy thái tử, hay nói cách khác, họ phải nhận được giáo dục tốt nhất. Việc này thì thật là khó được, người khác không có cơ hội này, họ có được cơ hội này. Chỉ cần họ không bị những “tài, sắc, danh, thực, thùy” này mê hoặc điên đảo, họ thống trị quốc gia đó, chắc chắn sẽ không đến nỗi bại vong.

Nước như vậy, nhà cũng như vậy. Cho nên, lúc trước cha mẹ toàn tâm toàn lực dạy bảo con cái, hiện tượng này đã không còn sau thời kỳ dân quốc. Trong thời kỳ dân quốc, thành thật mà nói, tâm trách nhiệm tuyệt đối không thể bằng được so với quốc vương, dân chủ một nhiệm kỳ ba đến bốn năm thì không thể làm tiếp rồi. Cho nên tôi luôn cảm thấy, giáo dục ngày nay không bằng ngày trước, nhất là cách thức giáo dục của thời cổ đại chúng ta, không giống như phương Tây, đế vương phương Tây đều là độc tài. Chúng ta thành thật mà nói, thời đại triều Chu thì tương đối kiện toàn, thời Hán triều đó chính là thiết lập. Bạn xem, vào thời xưa, quân quyền cùng tướng quyền phân ra rất rõ ràng, quan hệ giữa quân quyền và tướng quyền cũng giống như công ty hiện tại vậy; quân quyền là hội đồng quản trị, kết cấu quyền lực; tướng quyền là cơ cấu làm việc, tổng giám đốc. Tể tướng bằng với tổng giám đốc, hoàng đế giống như tổng sự trưởng, quyền hành phân ra rất rõ ràng. Hoàng đế tuyệt nhiên không hoàn toàn chuyên chế, còn phải nghe ý kiến của người khác, tiếp nhận ý kiến của người khác, đây đều là dạy từ lúc nhỏ. Nếu không thể tiếp nhận ý kiến của người khác, không thể tôn trọng người khác thì ngôi vị hoàng đế này nhất định làm không lâu, nhất định sẽ có người giành lấy thay thế, lật đổ đi. Cho nên chế độ ngày trước rất là tốt.

Ngày trước, tiên sinh Phương Đông Mỹ chí ít nói cho tôi nghe mười mấy lần, ông bảo tôi đọc "Chu Lễ", thế nhưng tôi không hứng thú xem. Ông nói, "Chu Lễ" là chế độ hiến pháp tốt nhất trên toàn thế giới, do Chu Công chế định. Nếu như các đời sau của triều Chu đều có thể tuân theo, không làm trái lại thì đến ngày nay, thiên hạ này vẫn là của triều Chu. Con cháu không theo đó mà làm, vậy thì không còn cách nào, vậy thì mất nước.

Thương Ân Trụ Vương mất nước là do sủng ái người nữ Đắc Kỷ. Chu U Vương cũng là sủng ái người nữ. Những hoàng đế đó vừa sủng ái nữ sắc thì xong rồi, họ không phải là nguyên nhân gì khác, mọi thứ đều nghetheo lời người mà họ sủng ái. Những đại thần chân thật trung quân ái quốc, họ đều không để ý đến. Không chỉ không để ý đến, mà có lúc còn ghét bỏ, còn đem họ giết đi, vậy thì làm sao mà không mất nước? Các vị phải nên biết, sự diệt vong của triều đại không phải vấn đề của chế độ mà là hoàng đế đời sau hôn mê, cho nên mới diệt vong. Nếu như họ có thể tuân thủ lời dạy của tổ tông thì không thể bị diệt vong, giữ lấy giáo huấn của thánh hiền, liền có thể được người thiên hạ. Đây là "tâm duyệt thành phục".

Giáo huấn của thánh hiền ở địa vị càng cao, bố thí ân đức đối với thiên hạ. Bạn xem, Phật dạy Bồ Tát:

  • Thứ nhất là bố thí.
  • Thứ hai là thủ pháp. Trì giới chính là thủ pháp. Ý nghĩa của thủ pháp sâu rộng vô tận.
  • Thứ ba là dạy chúng ta nhẫn nhục, phải có lòng nhẫn nại, phải có thể nhẫn.
  • Thứ tư là tinh tấn.
  • Thứ năm làthiền định, thiền định chính là trong tâm có chủ trương, không dễ dàng bị ngoại cảnh bên ngoài dao động.
  • Sau cùng là trí tuệ. Cái gì là trí tuệ? Không cầu báo là trí tuệ, không hối hận là trí tuệ. Giúp đỡ người khác mà kèmtheo rất nhiều điều kiện là không có trí tuệ. Cho nên chỉ có trí tuệ cao độ mới có thể chân thật giải quyết được vấn đề.

Phía sau chú giải này, vận dụng một câu trên Kinh Kim Cang: "Bồ Tát ư pháp ưng vô sở trụ nhi hành bố thí". Cảnh giới này so với hai câu này phải cao hơn rất nhiều. Vô sở trụ là hoàn toàn không trụ tướng, chân thật làm đến Tam Luân Thể Không, cho nên trên Kinh lại nói: "Nhược Bồ Tát bất trụ tướng bố thí, kỳ phước đức bất khả tư lượng". Lời nói này đều là lời chân thật. Giải quyết phân tranh của thế giới, lãnh đạo thế giới, trụ trì thế giới này, chỉ cần thực hiện "sáu Ba La Mật" của nhà Phật thì được rồi.

Ngày trước, tôi nói qua với các vị bao nhiêu lần, các vị xem thấy đại chiến thế giới lần thứ nhất, đại chiến thế giới lần thứ hai, chiến tranh Đài Loan, chúng ta mua những VCD này, các vị đều xem thấy qua, vấn đề có giải quyết được hay không? Không thể giải quyết vấn đề, càng làm càng phức tạp. Nếu chiến tranh có thể giải quyết được vấn đề, vậy thì đại chiến thế giới lần thứ nhất vấn đề liền giải quyết rồi, làm gì lại có lần thứ hai? Đại chiến thế giới lần thứ hai, vấn đề vẫn không thể giải quyết, vậy thì còn có lần thứ ba, về sau nữa vẫn có lần thứ tư, đến vô số lần. Đây chính là nói rõ chiến tranh không thể giải quyết được vấn đề.

Cái gì có thể giải quyết được vấn đề? "Thi ân bất cầu báo, dữ nhân bất truy hối" thì vấn đề liền được giải quyết rồi. Người Mỹ đánh Hàn Quốc, tốn hết 180 vạn ức mỹ kim, nếu đem 180 vạn ức này bố thí vô điều kiện cho Nam Bắc Hàn, tôi nghĩ vấn đề lập tức liền được giải quyết rồi. Sau khi bố thí thì đến điều đình với họ, ai mà không tôn trọng bạn, ai mà không nghe lời của bạn nói? Bạn là người tốt mà. Chiến tranh Việt Nam tốn gấp mười lần, một ngàn tám trăm vạn ức mỹ kim, không chỉ không thể giải quyết được vấn đề, mà vĩnh viễn kết oán cừu, oan oan tương báo không hề kết thúc. Ai bằng lòng làm sự việc này? Một ngàn tám trăn vạn ức này đem tặng cho Việt Nam, tôi tin tưởng người Việt Nam xem thấy người Mỹ đều kêu lên “lão tổ tông, đại ân nhân”. Cho nên chúng ta bình lặng nghĩ tưởng, vô tư, vô điều kiện giúp người khác, chân thật là vì lợi ích của người khác mà lo nghĩ, mới có thể giải quyết vấn đề.

Thế giới ngày nay phân tranh, không thể giải quyết vấn đề, vì sao vậy? Bất cứ người nào, khi suy nghĩ một vấn đề, quan niệm thứ nhất là có lợi đối với họ hay không. Chúng ta thường hay xem thấy trên báo chí, người Mỹ xử lý vấn đề, khi ngoại giao với bên ngoài thì xem có phù hợp với lợi ích của họ hay không? Vừa có cái ý niệm này thì không thể giải quyết vấn đề, vấn đề dính chặt ở đó, không luận dùng thủ đoạn gì cũng đều không thể giải quyết vấn đề. Muốn giải quyết vấn đề, giáo huấn thánh hiền nói, bạn phải suy nghĩ đến lợi ích của đối phương, xem có phù hợp lợi ích của họ hay không, có phù hợp lợi ích của đại chúng hay không? Không nên đem lợi ích của ta để ngay trước mặt. Lợi ích của ta là tự tư tự lợi, bạn làm sao có thể phục được người? Mỗi niệm nghĩ đến lợi ích của họ, lợi ích của xã hội đại chúng, vứt đi lợi ích của riêng mình thì chính mình chân thật được lợi ích thù thắng nhất. Thế là chúng ta liền tường tận ra, giáo huấn của thánh hiền chân thật có thể giải quyết vấn đề.

Lời nói của người xưa chúng ta, hiện tại người ta đã xem thường, không có người tin tưởng. Lời của Thang Ân Tỷ - người nước Anh nói, người ta liền tin tưởng. Lời của ông nói rất hay, không sai chút nào, "chân thật có thể giải quyết được vấn đề của thế kỷ 21, chỉ có Phật pháp Đại Thừa cùng học thuyết Khổng Mạnh". Đây là ông chỉ ra, Phật pháp Đại Thừa là gì, học thuyết Khổng Mạnh lại là gì, đến nơi đâu để tìm. Hiện tại tìm sách của Khổng Mạnh không khó, tìm Phật pháp Đại Thừa cũng không khó, sau khi tìm được rồi, xem cũng không hiểu, nhà Phật thường nói: "Phật pháp vô nhân thuyết, tuy trí mạc năng giải". Tìm được rồi, xem không hiểu, hoặc giả hiểu sai đi ý nghĩa, hiểu khác đi thì vẫn không thể giải quyết vấn đề. Cho nên tổng kết lại, đây là vấn đề của giáo dục. Muốn giải quyết vấn đề giáo dục, cái đầu tiên là vấn đề sư chất, làm thế nào bồi dưỡng sư chất? Thế gian này ngày nay đại công đức bậc nhất là bồi dưỡng sư chất. Các vị nhất định phải tường tận.

Ngày nay vong quốc diệt chủng không sợ, vì là việc nhỏ, đoạn tuyệt đạo thống mới là việc lớn, nhà Phật gọi là "pháp thân huệ mạng", cái này không thể đoạn, cái này khi đoạn rồi thì thế gian này khổ nạn vô biên. Đạo thống không thể đoạn, có thể có một người, hai người nối gốc huệ mạng của Phật, tất cả chúng sanhliền có hy vọng được cứu, liền có một luồng sáng. Cái cơ hội này cũng không dễ gì gặp được, chúng ta gặp được thì phải trân trọng. Để kéo dài đạo thống của Phật Bồ Tát thánh hiền, phải gánh vác sứ mạng này. Sứ mạng này là vĩ đại bậc nhất của thế gian, bạn có thể làm được công tác này hay không, chính là ở sự phát tâm của bạn. Bạn chân thật phải phát tâm, nhất định phải đầy đủ "Tín-Giải-Hành-Chứng" như Đại sư Thanh Lương đã nói. Bốn chữ này bạn đều có thể làm đến được, bạn liền có thể gánh vác sứ mạng này. Không luận hiện tại trải qua đời sống thế nào, không luận bạn đang ở cương vị công tác ra sao, đều làm đến được; bần cùng nghèo khổ đến người ăn xin cũng có thể làm đến được, trong những người ăn xin cũng có Phật, cũng có Bồ Tát, cũng có thánh hiền, vấn đề chính là bạn có cái tâm này hay không, bạn có chịu làm hay không? Vẫn là hiện tại chúng ta nghe giảng kinh, đề mục "Học Vi Nhân Sư, Hành Vi Thế Phạm", chính mình luôn nghĩ lại, khởi tâm động niệm, lời nói việc làm, có thể vì người khác làm ra tấm gương hay không? Quả nhiên có thể vì tất cả chúng sanh làm ra tấm gương tốt, bạn chính là hiền nhân, bạn chính là Phật, chính là Bồ Tát. Lời nói này chúng ta đã giảng qua rất nhiều lần, các vị phải tỉ mỉ mà tham cứu.

Thánh nhân, tâm hạnh của họ tương ưng với tánh đức. "Tánh đức" là gì? Tánh đức là chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chắc chắn không có cao thấp. Đã từng có mấy vị đồng tutheo tôi tham quan một công ty truyền hình của Tuyết Lê - Úc châu. Tổng giám đốc của công ty truyền thông tiếp chúng tôi, nói với tôi là công ty của họ, từ tổng giám đốc xuống đến công nhân, cho đến người công nhân quét rác, tất cả họ đều là đệ nhất, đều là bình đẳng. Khi chúng ta đến đó, vừa lúc người công nhân quét rác đang cầm dụng cụ quét rác để quét, họ là đệ nhất, họ quét được rất sạch sẽ. Đứng trong quầy tiếp tân nhân viên phục vụ, tiếp đón khách hàng thân thiết, làm việc chăm chỉ phụ trách, họ là đệ nhất. Làm giám đốc, làm tốt công việc của giám đốc, giám đốc là đệ nhất. Công ty của họ, mỗi mỗi đều đệ nhất, vậy thì đúng. Cho nên khi tổng giám đốc bước vào cửa, gặp người quét rác thì chào hỏi rất thân thiết, đôi bên chào hỏi lẫn nhau, vì sao vậy? Mỗi mỗi đều đệ nhất, không có thứ hai, công ty này gọi là công ty đệ nhất. Mỗi một người đem mỗi một bổn phận công tác của chính mình làm được tận tâm tận lực,làm đến tốt nhất, họ là đệ nhất. Người người đều đệ nhất, mỗi một phần công tác đều đệ nhất, thì công ty này mới chân thật gọi là công ty đệ nhất. Cho nên chúng ta mang một ít Phật pháp tặng cho họ, họ rất dễ dàng tiếp nhận, vì giáo huấn của Phật cùng cái họ đã nghĩ, đã làm đều tương ưng. Trên chức vụ thì có giai cấp, nhưng trên nhân cách thì bình đẳng. Giai cấp và chức vụ không như nhau, giữa người với người thì bình đẳng, không hề khác nhau. Giai cấp có hay không? Có! Bình đẳng có hay không? Có! Chính là trên "Kinh Hoa Nghiêm" đã nói: "Hành bố bất ngại viên dung, viên dung bất ngại hành bố". Hành bố chính là giai cấp. Có tổng sự trưởng, có tổng giám đốc, có khoa trưởng, có khoa viên, mãi đến công nhân có giai cấp, đây là hành bố. Thế nhưng họ có bình đẳng, không luận ở trong trường hợp nào, bạn xem thấy họ đều là bình đẳng thân thiết. Cho nên chức vụ có cao thấp, chức vụ không chướng ngại bình đẳng, bình đẳng không chướng ngại chức vụ. Tôi đến thăm nơi đó, không hề nghĩ đến "Kinh Hoa Nghiêm" quả nhiên đã thực tiễn ở ngay công ty của họ rồi. Tôi rất bội phục, rất tán thán loại tinh thần này, quan niệm lý luận này. Hôm đó tôi còn muốn họ mở rộng đến mỗi một cơ quan chính phủ, cơ cấu tư nhân cũng có thể mở rộng, Úc châu là đệ nhất, thế giới này là đệ nhất. Cho nên khi bạn bước vào, một bầu không khí an lành, không khí đoàn kết, đôi bên tôn trọng lẫn nhau, kính yêu lẫn nhau, hợp tác lẫn nhau. Đây là nhờ tổng giám đốc có phương pháp lãnh đạo. Đây là trí tuệ chân thật thực tiễn ngay trong đời sống, thực tiễn ở trong công tác, đáng được người tán thán.

Cư Sĩ Lâm, Tịnh Tông Học Hội chúng ta cũng đang làm, thông thường xem ra vẫn không tệ, nhưng trên thực tế vẫn làm chưa đủ, còn phải chăm chỉ, còn phải nỗ lực.

Tốt rồi, hôm nay thời gian đã hết, chúng ta chỉ học đến đây thôi. A Di Đà Phật.

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (tập 42)

Người giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không

Giảng tại: Tịnh Tông Học Hội Singapore

Thời gian: Năm 1999

Cẩn dịch: Viên Đạt cư sĩ, Vọng Tây cư sĩ

Biên tập: Ban biên tập Tịnh Không Pháp Ngữ

 

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 108


Hôm nayHôm nay : 1945

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 300493

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9424979

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?