Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Thái thượng cảm ứng thiên

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (Tập 11)

Chủ nhật - 28/09/2014 13:20

 

Hôm qua chúng ta đã học đến câu thứ mười bốn: “Kỳ quá đại tiểu, hữu sổ bách sự, dục cầu trường sanh giả, tiên tu tị chi. Quá thất đại tiểu, hữu kỉ bách chủng”.

Chữ “sự” này là chủng loại. Trong mỗi một loại, thật sự mà nói là vô lượng vô biên. Cổ đức nói “phi nghĩa nhi động”, đó chính là lỗi. “Nghĩa” là nên. Tư tưởng, hành vi của bạn đều là không nên, đó chính là lỗi lầm. Lỗi lầm có lớn, nhỏ; lớn chính là nghiệp chướng, nhỏ gọi là lỗi lầm. Tội lỗi của chúng ta, trời đất quỷ thần đều nhìn thấy cả, chư Phật Bồ Tát nhìn thấy còn rõ ràng hơn. Nói lời thành thật, cái mà trời đất quỷ thần nhìn thấy, chúng ta thường nói là chuyện đã rồi. Chư Phật Bồ Tát còn có thể nhìn thấy cái lý tại sao như vậy; tại sao bạn mê hoặc, tại sao bạn tạo nghiệp, tại sao bạn thọ báo.

Tại sao nói chư Phật Bồ Tát có thể nhìn thấy cái lý tại sao như vậy?

Mọi người đã học qua kinh Vô Lượng Thọ, trong kinh nói người ở thế giới Cực Lạc cho dù là người mới vừa vãng sanh vào hạ phẩm hạ sanh, năng lực của họ cũng thiên nhãn nhìn thấu, thiên nhĩ nghe suốt, tâm họ biết khắp. Hay nói cách khác, đối với con người của bạn, trong đời quá khứ, đời đời kiếp kiếp những tình trạng đó họ đều biết rõ, cho nên họ biết đạo lý tại sao như vậy.

Do tích tập ác nghiệp nhiều kiếp, nhiều kiếp đã hình thành tập quán ác, tập khí ác nên không dễ gì thay đổi. Chúng ta nhìn thấy trong kinh Địa Tạng, thế gian có một số người bất thiện, tập khí nghiệp chướng rất nặng là do trong đời quá khứ đến từ trong đường ác, nên còn mang theo tàn dư tập khí của đường ác. Như những đạo lý này, trời đất quỷ thần không chắc gì có thể nhìn thấy rõ được. Năng lực của A La Hán có thể nhìn thấy 500 đời quá khứ của một người, trước 500 đời trở lên thì họ không nhìn thấy. Cho nên cần phải hiểu rõ thì thuyết pháp mới có thể khế cơ, mới biết dùng phương pháp gì để giúp đỡ những chúng sanh khổ nạn này.

Cảm Ứng Thiên, ở chỗ này nói cũng là một nguyên tắc. Nguyên tắc là có tính phổ biến, chỉ cần con người có thể tuân thủ thì chắc chắn được lợi ích. Trong quá khứ, ba nhà Nho-Thích-Đạo đều dấn thân vào công tác giáo dục xã hội, cũng đều mang tư tưởng nhất thể đa nguyên văn hóa, đối với xã hội của chúng ta có cống hiến rất lớn. Tam giáo tuy có khác biệt, nhưng cũng có chỗ tương đồng, đó là bất kể tu học theo đạo nào, nhất định phải lấy “tích đức” làm gốc, đây là điều tam giáo công nhận.

Tích đức bắt đầu từ đâu vậy? Là từ trong tâm địa hạ công phu. Tâm địa nhất định phải quang minh chính đại. Nhà Phật nói, siêu phàm nhập thánh. Phàm là gì vậy? Phàm là phàm tình, chúng ta ngày nay gọi là tình cảm. Tình cảm này là phàm tình, cũng chính là nói xử sự theo tình cảm sẽ có lỗi lầm. Chúng ta thường nói xử sự theo tình cảm. Có thể đem tình chấp buông xả, vứt bỏ thì người này chính là thánh. Thánh là người hiểu biết, người giác ngộ, định nghĩa của thánh là như vậy. Cho nên làm thánh chính là làm người hiểu biết, làm người giác ngộ. Nếu như không đem tình chấp chuyển đổi thành trí tuệ thì bạn không làm thánh được, hay nói cách khác, bạn vĩnh viễn sẽ không hiểu biết, vĩnh viễn sẽ không giác ngộ.

Tình chấp phát sinh từ đâu vậy? Phật pháp nói từ trên lý, là phát sanh từ phân biệt, chấp trước trên bốn tướng của bạn. Bốn tướng chính là tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả. Bạn có phân biệt, chấp trước bốn cái tướng này. Đây là nguồn gốc của tình chấp.

Do bạn phân biệt chấp trước nên bạn mới có tự tư tự lợi, bạn mới có nhân ngã thị phi, bạn mới có tham sân si mạn. Không những ngôn hạnh của bạn tạo nghiệp, mà khởi tâm động niệm cũng tạo nghiệp. Điều này phần trước đã nói một cách sơ lược với quí vị rồi. Khởi tâm động niệm là ý ác, tâm bạn ác, tâm không tốt. Phật Bồ Tát giác ngộ, hiểu rõ rồi. Người giác ngộ không có ngã, không có ta, cho nên mới có thể thật sự tôn kính người khác. Người hiểu biết mới có thể làm được điều này. Nhà Nho cũng là như vậy, sau khi hiểu rõ rồi mới biết “hạ mình mà tôn người”; tự mình khiêm hạ, tôn trọng người khác. Chỉ có người mê hoặc mới tự cao tự đại; tự mình ngẩng đầu cao, không hề coi trọng người khác; không chịu được oan ức, hơi bị một chút xíu oan ức là ôm hận trong lòng, niệm niệm không quên, nên chiêu cảm quả báo không như ý. Mọi người đều biết sân hận đọa địa ngục. Phật Bồ Tát tại sao không trụ lục đạo, tại sao không trụ thập pháp giới? Thị hiện ở trong lục đạo nhưng các Ngài vẫn trụ ở nhất chân pháp giới, đạo lý ở đâu vậy? Không có ngã. Không có ngã mới có thể hạ mình. Người giác ngộ ở chỗ thấp hèn họ vẫn vui vẻ, tự tại, chỉ có người mê hoặc mới dương dương tự đắc. Cái đạo lý này quí vị hãy tư duy thật kỹ, thể hội thật tỉ mỉ thì sẽ thấy thọ dụng vô cùng.

Thật sự hiểu rõ nhân quả ba đời. Trong các buổi giảng chúng tôi thường hay nêu lên, giữa người với người dứt khoát không được giành phần lợi, cũng nhất định không bị thiệt thòi. Bạn giành phần lợi của người ta, tương lai phải trả nợ; nợ mạng phải đền mạng, nợ tiền phải đền tiền. Trong “Hồng Lâu Mộng” nói, nợ người nước mắt thì phải trả người nước mắt. Việc này là thật, chứ không phải giả. Chỉ có người thật sự giác ngộ, thật sự hiểu biết thì họ không tạo nghiệp nữa, họ mới thật sự làm được tùy duyên qua ngày. Trong tùy duyên thành tựu công đức của mình.

Trong Thập Đại Nguyện Vương nói: “Tùy hỷ công đức”. Công đức là gì vậy? Sự biểu lộ của tánh đức chính là công đức. Trong đây có một quan niệm quan trọng nhất, chúng ta không có cách gì thiết lập. Nếu như quan niệm này có thể thiết lập, thì Bồ Tát đạo không phải là việc khó, việc tích lũy công đức đó là chuyện dễ dàng. Quan niệm gì vậy? Hư không pháp giới tất cả chúng sanh là chính mình. Cái quan niệm này chúng ta không cách gì thiết lập, nhưng chư Phật Bồ Tát đều có cái quan niệm này. Phật chứng được pháp thân thanh tịnh. “Pháp thân” là gì vậy? Pháp thân là hư không pháp giới tất cả chúng sanh là chính mình. Biết rõ ràng hư không pháp giới tất cả chúng sanh là chính mình, hoàn toàn không có mảy may nghi hoặc, thì người này thành Phật rồi; họ chứng được pháp thân thanh tịnh. Cho nên, họ vì tất cả chúng sanh phục vụ chính là vì bản thân phục vụ, vậy thì còn gì để nói nữa, còn có gì mà chấp trước nữa, không phải vì người khác, mà là vì mình.

Khi tôi giảng kinh có nói rồi, vũ trụ phức tạp như thế nào thì cái thân thể này của chúng ta cũng phức tạp như thế ấy. Thân thể là vũ trụ thu nhỏ; vũ trụ là sự mở rộng của cái thân thể này của chúng ta, ở trong đây tình trạng phức tạp không tăng, không giảm, hoàn toàn tương đồng. Cho nên cái thân thể này của chúng ta là tiểu vũ trụ. Tiểu vũ trụ với đại vũ trụ là một, không phải hai. Trong kinh Hoa Nghiêm nói: “Nhỏ, lớn không hai”, lớn có thể chứa nhỏ, nhỏ cũng có thể chứa lớn; hạt cải chứa núi Tu Di, núi Tu Di chứa hạt cải, đây mới là cảnh giới bất khả tư nghì. Chư Phật Bồ Tát ở trong vô lượng vô biên cõi nước giúp đỡ những chúng sanh chưa giác ngộ, chính là xuất phát từ trên quan niệm này, từ quan niệm này mà thiết lập. Cho nên, pháp là pháp bất tư nghì, người cũng là người bất tư nghì.

Chúng ta đọc kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, luận quán của pháp sư Thanh Lương, trong “Ngũ Trùng Huyền Nghĩa”, mỗi một điều Ngài đều thêm vào “bất tư nghì” là rất có đạo lý. Nếu như bản thân Ngài chưa khế nhập cảnh giới thì không thể nói ra những lời này được. Ngài đối với chân tướng sự thật thể hội được rồi, nhận biết rồi, khế nhập cảnh giới, cho nên Ngài mới có thể nói ra được. Chúng ta đọc rồi thể hội được mấy phần? Tại sao chúng ta không thể thể hội? Vì trong đây có chướng ngại. Chướng ngại không ngoài phiền não chướng và sở tri chướng. Phiền não chướng chính là nhân ngã thị phi, tham sân si mạn. Sở tri chướng, dùng cách nói hiện nay mà nói là có thành kiến đối với phương diện tri thức học thuật. Nếu như có thành kiến về mặt nhân quả thì đó vẫn là thuộc về phiền não chướng, là một loại trong kiến tư phiền não. Thuộc về tri thức thì cái này gọi là sở tri chướng; tự cho là đúng, cho nên bạn sẽ không nhìn thấy chân tướng sự thật. Chúng ta ở chỗ này phải dùng công phu, khử một phần chướng ngại thì trí tuệ của bạn sẽ hiển lộ ra một phần.

Cách khử chướng ngại này như thế nào vậy?

Chúng ta phải hiểu rõ, trừ khử chướng ngại chính là đối với những tình chấp phân biệt dần dần ngày càng nhạt bớt, không nghiêm trọng giống như trước đây, mỗi năm một nhạt dần, mỗi tháng một nhẹ dần. Phân biệt chấp trước đã nhẹ rồi, nhạt rồi, đây chính là lần lượt xa lìa. Bồ Tát 51 cấp bậc, Tịnh Độ bốn độ, tam bối, cửu phẩm đều là như vậy. Tập khí phiền não bớt một phần thì phẩm vị của bạn sẽ tăng cao một bậc, đến khi tập khí phiền não thảy đều đoạn sạch rồi thì bạn liền viên mãn thành Phật. Bồ Tát Đẳng Giác còn có một phẩm sanh tướng vô minh chưa phá, đó chính là phiền não của họ, cho nên họ vẫn chưa đạt đến viên mãn, công đức của họ vẫn chưa có thành tựu cứu cánh. Cần phải xả cho thật sạch sẽ, vậy mới là thành tựu cứu cánh viên mãn. Chúng ta phải xả, phải buông xả. Nếu như không chịu buông xả thì đó chính là tích lũy tội nghiệp. Buông xả tức là bạn tích lũy công đức. Tại sao không buông xả? Là chưa hiểu rõ chân tướng sự thật. Đem những cái giả cho là thật, vậy là bạn thấy sai, nghĩ sai rồi, cho nên bạn mới làm sai, bạn mới bị dẫn đến ác báo. Nhưng mà buông xả và thấy ra là bổ sung cho nhau. Bạn có thể buông xả một chút là bạn thấy rõ ra thêm một phần; có thể thấy rõ ra thêm một phần thì bạn lại có thể buông xả thêm một chút. Hay nói cách khác, Bồ Tát từ lúc sơ phát tâm cho đến viên thành Phật đạo chính là thấy ra và buông xả, bổ sung cho nhau.

Trong sáu Ba La Mật thì Bát Nhã Ba La Mật là thấy ra, năm độ còn lại đều là buông xả, các bạn thử nghĩ đúng hay không? Bố thí là buông xả tâm tham. Trì giới là buông xả niệm ác. Nhẫn nhục là buông xả sân hận, buông xả tật đố. Tinh tấn là buông xả giải đãi lười nhác. Thiền định là buông xả tán loạn. Toàn bộ là buông xả. Bát Nhã là biết rất rõ ràng, biết rất minh bạch. Sáu Ba La Mật quy nạp lại chính là bốn chữ “Nhìn Thấu - Buông Xả”. Chúng ta phải thật làm. Những danh tướng kinh luận này tuyệt đối không phải đọc qua là xong. Đọc qua là quá khứ rồi. Bạn thật sự thấy rõ ràng, thấy minh bạch rồi, thật buông xả thì tội lỗi của bạn sẽ không còn nữa, không thể không trường sinh. Trường sinh là vô lượng thọ. Cho nên, muốn cầu trường sinh, muốn cầu phước báo thì nhất định phải cầu từ trên tâm địa. Tâm sanh vạn vật! Trong kinh Phật nói: “Tâm sanh thì các pháp sanh”.

Phần trước chúng ta cũng đã học qua “tất cả pháp từ tâm tưởng sanh”. Phật pháp là nội học. Bên trong viên mãn rồi thì cảnh giới bên ngoài liền thuận tâm, cho nên nói “tâm tưởng sự thành”. Trong Phật pháp nói nhất định là chính xác. Bạn nghĩ ác thì việc ác thành, bạn nghĩ thiện thì việc thiện thành, bạn nghĩ Phật thì thành Phật, bạn nghĩ tham sân si mạn thì ba đường ác thành, tâm tưởng sự thành mà. Bạn nghĩ tham thì thành ngạ quỷ, nghĩ sân hận tật đố thì thành địa ngục. Mười pháp giới y chánh trang nghiêm từ đâu mà có? Từ trong tâm của chính bạn nghĩ ra vậy. “Tất cả pháp từ tâm tưởng sanh”, nên liền biến hiện ra cảnh giới. Sự việc nó đã là như vậy thì tại sao không nghĩ Phật mà lại nghĩ khác? Nghĩ Phật liền làm Phật. Tâm nghĩ Phật, miệng niệm Phật, thân làm những việc Phật làm, miệng nói ngôn ngữ của Phật thì người này đã thành Phật rồi.

Chúng ta muốn làm Phật thì không thể không đọc kinh, vì nếu không đọc kinh là nghĩ ngợi lung tung ngay. Chúng ta phải đem tư tưởng của chúng ta hoàn toàn tương ưng với kinh giáo của Phật, khởi tâm động niệm nghĩ đến những đạo lý, những lời giáo huấn, những cảnh giới mà trong kinh Phật nói, nghĩ về điều này. Tôi khuyên mọi người đem kinh Vô Lượng Thọ đọc 3000 lần, đạo lý là ở chỗ này. Kinh bạn không thuộc, bạn nghĩ cái gì? Bạn không có cách gì nghĩ được. Trước tiên phải học thuộc kinh, học thuộc lòng, thuộc cho thật nhuyễn thì khởi tâm động niệm, cảnh giới lý luận ở trong kinh hoàn toàn có thể hiện tiền. “Nhớ Phật niệm Phật, hiện tiền, tương lai chắc chắn thấy Phật”, đây là tôi dạy mọi người, tin hay không là do bạn. Có người tin, họ làm như vậy, họ được lợi ích. Họ rất hoan hỷ đến nói với tôi, tôi cũng vì họ mà hoan hỷ. Người không chịu tiếp nhận, không chịu làm, tôi nhìn thấy cũng hoan hỷ. Tại sao vậy? Họ tâm tưởng sự thành mà. Hư không pháp giới chính là việc như vậy. Đời này không thể được độ thì xem như là đã trồng thiện căn. Trong A Lại Da thức có cái nhân duyên được độ, có cái chủng tử được độ, cũng tốt! Chỉ là được độ không phải ở trong đời này mà thôi. Trước đây thầy Lý nói, còn phải luân hồi trường kiếp, còn phải chịu rất nhiều khổ nạn. Cho nên chúng ta thật sự tin, thật sự y giáo phụng hành, thì đời này đem cái việc này làm ngay, đây là thiện căn, phước đức, nhân duyên chín muồi rồi.

Chúng ta xem tiếp Cảm Ứng Thiên, câu thứ mười lăm.

“Thị đạo tắc tiến, phi đạo tắc thối”. Bắt đầu từ chỗ này cho đến câu thứ ba mươi sáu: “Dục cầu thiên tiên giả, đương lập nhất thiên tam bách thiện. Dục cầu địa tiên giả, đương lập tam bách thiện”.

Những đoạn này đều là nói phước báo. Trong toàn văn, đây là đoạn lớn thứ ba.

“Thị đạo tắc tiến, phi đạo tắc thoái”.

Tám chữ này là nói tổng quát. Con người cần phải đoạn ác tu thiện, đây là chân lý muôn đời. Tất cả chúng sanh, có người nào không cầu phước báo? Có người nào mong muốn gặp tai họa? Nhưng bạn phải biết rõ, phước báo từ đâu mà có, tai họa lại từ chỗ nào mà ra. Tám chữ này chính là nơi cội nguồn của kiết hung họa phước, nhưng điểm mấu chốt ở trong tám chữ này chính là “Đạo”. Cái đạo này giảng như thế nào vậy? Ý nghĩa rất sâu, rất rộng. Thông thường nói “đạo” là lý, là đạo lý. Đạo cũng là con đường.

Sao gọi là thị đạo? Sao gọi là phi đạo?

Đây là điểm chúng ta phải biện biệt rõ ràng. Thiện tâm, thiện hạnh chính là “thị đạo”; tâm hạnh bất thiện là “phi đạo”. Đây là nói từ trên nhân. Là kiết, là phước, đây chính là “thị đạo”; là hung, là tai, là họa, đó chính là “phi đạo”. Đây là nói từ trên quả. Những sự lý nhân quả này chúng ta cũng nên biết rõ. Tiêu chuẩn mà trong Phật pháp lập nên chính là tánh đức. Phàm là tương ưng với tánh đức, đây chính là “thị đạo”; đi ngược lại với tánh đức đó chính là “phi đạo”. Tánh đức, nói đến cực điểm là nhất niệm tâm tánh. Cho nên, nói đến cứu cánh thì nhất niệm là thị đạo; hai niệm, ba niệm là phi đạo. Cái tiêu chuẩn này cao. Đây là tiêu chuẩn của chư Phật Như Lai, Pháp Thân Đại Sĩ. Chỉ có họ mới có năng lực giữ được nhất niệm, không rơi vào niệm thứ hai. Cho nên quả báo của họ là đại kiết, đại phước, cảnh giới bất khả tư nghì, trong kinh Đại thừa thường nói là Nhất Chân Pháp Giới.

Nhất chân pháp giới từ đâu mà có vậy? Từ nhất niệm mà có. Nếu như nhất niệm chúng ta không giữ được, không duy trì được thì biến thành thất niệm, tạp niệm, vậy liền biến hiện ra thập pháp giới y chánh trang nghiêm. Thập pháp giới y chánh trang nghiêm đối với Pháp Thân Đại Sĩ mà nói là phi đạo, chúng ta phải hiểu rõ cái đạo lý này. Bản thân không làm được, nhưng không thể không biết. Cái hay của biết là trong quá trình tu học, không đến nổi được ít cho là đủ, biết cảnh giới hiện tại rất hữu hạn, còn phải quyết cố gắng nỗ lực không ngừng nâng cao lên. Nhưng ngay trước mắt chúng ta, chúng ta đem trình độ của “đạo” hạ xuống, hạ đến mức thấp nhất.

Cái gì gọi là đạo? Ngũ giới, thập thiện là đạo.

Sao gọi là phi đạo? Phá giới, thập ác là phi đạo.

Tiêu chuẩn hạ đến mức độ này thì chúng ta hiểu rõ rồi, sáng tỏ rồi, đã có chỗ khởi đầu. Bắt đầu từ đâu vậy? Đây là nói với đại chúng thông thường, còn đối với đồng tu niệm Phật chúng ta mà nói, đồng tu niệm Phật, tại sao bạn niệm Phật? Mục đích của niệm Phật là gì vậy? Là hy vọng cầu sanh Tịnh Độ, hay nói cách khác, cái hy vọng này không thể tan vỡ, nhất định phải thực hiện, cho dù là “Phàm Thánh Đồng Cư Độ”, hạ hạ phẩm vãng sanh cũng không tan vỡ, nguyện của bạn cũng mãn rồi. Mức độ thấp nhất này là gì vậy? Thế Tôn trong kinh Phật Quán Vô Lượng Thọ nói với chúng ta là “Tịnh Nghiệp Tam Phước”. Đây là mức độ thấp nhất, là điều mà nếu muốn cầu vãng sanh ở ngay trong đời này thì không thể không biết.

Tịnh nghiệp tam phước, chúng tôi trước đây đã từng giảng qua nhiều lần rồi, có băng ghi âm, cũng có băng ghi hình, hình như cũng có sổ tay lưu hành. Phật nói tam phước, tổng cộng đã nói mười một câu. Mười một câu này chính là “đạo”. Trái ngược mười một câu này, đó chính là “phi đạo”.

Phước thứ nhất là phước nhân thiên, cũng chính là đạo của nhân thiên. Bạn có thể phụng hành thì đời đời kiếp kiếp không mất thân người; bạn không thể phụng hành đó chính là phi đạo. Phi đạo chính là ba đường ác, chắc chắn đọa ba đường ác. Bốn câu nói này là “Hiếu dưỡng phụ mẫu. Phụng sự sư trưởng. Từ tâm bất sát. Tu thập thiện nghiệp”. Chúng ta có hiểu ý nghĩa này hay không? Chúng ta có chịu làm hay không?

Trong câu thứ nhất nói rõ thập thiện là căn bản của căn bản. Sao gọi là hiếu, sao gọi là kính, điều này không thể không rõ ràng, không thể không sáng tỏ. Ở chỗ này tôi sẽ không giảng nhiều nữa.

Phước thứ hai là Nhị thừa, là tiêu chuẩn mà người Nhị thừa tu. Có ba câu: Thọ trì tam quy. Cụ túc chúng giới. Bất phạm uy nghi”. Đây là vào cửa Phật.

Phước thứ nhất là nền tảng vào cửa Phật, vẫn chưa vào cửa. Phước thứ hai mới vào cửa, trở thành đệ tử Phật, học trò của Phật. Chúng ta thử nghĩ, chúng ta có tư cách làm học trò của Phật không? Học trò của Phật nhất định phải tuân thủ sự ràng buộc của tam quy. Chúng ta khởi tâm động niệm, lời nói việc làm không trái với lời giáo huấn của Phật.

Tam quy, cái thứ nhất là “Quy y Phật”. Trong “Truyền Thọ Tam Quy” chúng ta nói rất rõ ràng, rất tường tận. Quy y Phật là Giác chứ không . Chúng ta khởi tâm động niệm, lời nói việc làm có phải là giác mà không mê hay không? Giác là “thị đạo”, mê là “phi đạo”.

Tư tưởng kiến giải của chúng ta có chính xác hay không? Tư tưởng kiến giải thuần chánh, tương ưng với Phật là thị đạo. Tư tưởng kiến giải bất chánh, tà tri tà kiến là phi đạo. Đây là ý nghĩa của “Quy y Pháp”.

Thứ ba là “Quy y Tăng”. Tăng là lục căn thanh tịnh, không nhiễm mảy bụi. Chúng ta thử nghĩ, tâm của chúng ta có thanh tịnh không? Ý nghĩ của chúng ta có thanh tịnh không? Thân của chúng ta có thanh tịnh không? Môi trường cư trú của chúng ta có thanh tịnh không? Thanh tịnh là đạo, không thanh tịnh là phi đạo. Cho nên, đệ tử Tam Bảo niệm niệm phải tương ưng với “Giác-Chánh-Tịnh”, đây là “thị đạo”. Nếu như niệm niệm là “Mê-Tà-Nhiễm”, đó là “phi đạo”. Tư tưởng ngôn hạnh phải theo giới luật, đặc biệt là người mới phát tâm. Thực ra mà nói từ mới phát tâm đến Như Lai địa, Bồ Tát Đẳng Giác đều nghiêm trì giới luật. Các bạn đã có khi nào nhìn thấy Phật Bồ Tát phá giới, phạm giới không? Không hề có! Hình tượng của Phật Bồ Tát đều là lợi ích chúng sanh. Đệ tử Phật phải lấy Phật Bồ Tát làm tấm gương; học Phật thì phải học cho thật giống. Hình tượng này của chúng ta làm tấm gương tốt cho xã hội, cho tất cả chúng sanh. Chúng ta phải hiểu đạo lý này.

“Bất phạm uy nghi”. Uy nghi chính là tấm gương tốt.

Phước thứ ba là nền tảng của Bồ Tát Đại Thừa. “Phát tâm Bồ Đề. Tin sâu nhân quả. Đọc tụng Đại thừa. Khuyến tấn hành giả”.

“Phát tâm Bồ Đề” chính là phát tứ hoằng thệ nguyện. Nguyện phát rồi phải thực hiện thì cái nguyện đó không phải nguyện suông, phải làm được. Cho nên, Bồ Tát có tâm hổ thẹn; hổ thẹn đang thúc đẩy động viên họ, khiến họ có thể quyết chí hướng thượng, dũng mãnh tin tấn. Hổ thẹn là đạo. Không hổ không thẹn, không biết xấu hổ, đó là phi đạo.

“Tin sâu nhân quả”. Tôi giảng câu này giảng rất nhiều, nhân quả này không phải nhân quả phổ thông. Nhân quả phổ thông Bồ Tát đâu có đạo lý nào không biết. Cái nhân quả này là “Niệm Phật là nhân, thành Phật là quả”. Đạo lý này, thật sự người biết không nhiều.

“Đọc tụng Đại thừa. Khuyến tấn hành giả”.

“Đọc tụng Đại thừa” chính là gần gũi chư Phật Như Lai. Một ngày cũng không được sống phí, mỗi ngày đều phải gần gũi chư Phật Như Lai. Chư Phật Như Lai ở đâu vậy? Các kinh Đại thừa chính là chư Phật Như Lai. Mỗi ngày chúng ta phải đọc tụng. Phương pháp đọc tụng, trước tiên là gần gũi một vị thiện tri thức. Đây là bí quyết cầu học, cầu đạo của thế xuất thế gian, người vào thời xưa gọi là “sư thừa”. Nhất định là ở một vị thiện tri thức tại chỗ đó mà thành tựu, sau đó mới có thể tham vấn khắp vô lượng thiện tri thức.

Ở dưới tòa, một vị thiện hữu thành tựu bản lĩnh tham học thì mới có năng lực tham học. Cái bản lĩnh này là gì vậy? Trong kinh Bát Nhã gọi là “căn bản trí”. Tham vấn khắp tất cả thiện tri thức là thành tựu “hậu đắc trí”, trí tuệ mới viên mãn. Kinh Hoa Nghiêm cuối cùng đã làm nên tấm gương cho chúng ta, Thiện Tài Đồng Tử gần gũi Bồ Tát Văn Thù, một vị thiện tri thức, đó là sư thừa. Ở dưới tòa, Văn Thù đã đạt được căn bản trí, sau đó ra đi tham học, 53 tham nữa là thành tựu viên mãn hậu đắc trí, vậy là trí tuệ viên mãn rồi.

Không có căn bản trí bạn sẽ không có năng lực tham học. Căn bản trí là thật trí, trí tuệ chân thật. Họ có năng lực phân biệt chân vọng; có năng lực phân biệt tà-chánh, đúng-sai, thiện-ác, lợi-hại. Họ vừa tiếp xúc liền biết rõ, cho nên ra đi tham học, bất kể gặp người thế nào, bất kể gặp phải việc gì, đối với họ đều là khai trí tuệ, không bị gặp phải chướng ngại. Nếu như bạn không có cái nội lực này, bạn ra đi tham học, một vị thiện tri thức chỉ bạn đi một con đường, hai vị thiện tri thức tức là hai con đường, ba vị thiện tri thức chính là ở ngã ba đường, bốn vị thiện tri thức tức là ở ngã tư, vậy thì bạn đi về đâu? Bạn không biết đi đường nào rồi. Bạn có nội lực, bạn có thể biện biệt, có thể nhận thức thế là không sợ, có gần gũi nhiều thiện tri thức đi nữa, nhưng phương hướng của bạn, mục tiêu của bạn chắc chắn không thay đổi.

Chúng ta thấy Thiện Tài Đồng Tử làm mẫu cho chúng ta, Thiện Tài Đồng Tử gần gũi Bồ Tát Văn Thù. Văn Thù dạy ông điều gì vậy? Dạy ông pháp môn niệm Phật. Trong kinh văn không nhìn thấy, trên văn tự không có ý nghĩa đầy đủ. Ý nghĩa ở đâu vậy? Bồ Tát Văn Thù cầu sanh thế giới Tây Phương Cực Lạc, đây là môn sinh đắc ý nhất của Ngài. Nếu như không kế thừa y bát của Ngài, thì sao có thể nói là đệ tử truyền pháp? Bạn phải biết rõ cái ý nghĩa này. Trong “Tứ Y Pháp” Thế Tôn dạy cho chúng ta: “Y nghĩa bất y ngữ”, bạn phải thể hội được cái ý nghĩa này. Hãy thử xem ông ra đi tham học, cái hình tượng đó, vị thiện tri thức thứ nhất là tỳ kheo Kiết Tường Vân, dạy ông điều gì vậy? Dạy ông “ban chu Tam Muội”. “Ban chu Tam Muội” là chuyên niệm A Di Đà Phật, “Phật lực Tam Muội”. Một vị thiện tri thức cuối cùng là Bồ Tát Phổ Hiền, “Thập đại nguyện vương, đạo quy Cực Lạc”. Từ đầu đến cuối chính là một pháp môn niệm Phật. Ông làm nên tấm gương để cho chúng ta thấy, đó là “thị đạo”, phải tiến dũng mãnh, tinh tấn; “phi đạo”, phải lui cho nhanh. Hai câu nói này là nói tổng quát. Không những bản thân chúng ta hiểu rõ, hơn nữa còn phải thường xuyên khuyên bảo người khác, giúp đỡ người khác.

“Khuyến tấn hành giả”. Đây là điều sau cùng của tam phước.

Tóm lại, trong mười một câu của tam phước thì mười câu đầu là tự lợi, một câu cuối cùng là lợi tha. Tự lợi rồi, sau đó mới có thể lợi tha. Bản thân chưa có thành tựu muốn lợi ích người khác, trong kinh Phật thường nói “không có chuyện đó!”. Cho nên hai câu, tám chữ này hàm nghĩa rất sâu, rất rộng, đây là tổng cương của thiện phước. Về sau mới dạy cho chúng ta, ở trong đời sống thường ngày làm thế nào tu thiện, tu phước, làm thế nào tích lũy công đức.

Tốt rồi, hôm nay thời gian đã hết, chúng ta chỉ giảng đến đây.

A Di Đà Phật!

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên (tập 11)

Người giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không

Giảng tại: Tịnh Tông Học Hội Singapore

Thời gian: 1999

Cẩn dịch: Viên Đạt cư sĩ, Vọng Tây cư sĩ

Biên tập: Phật tử Diệu Hương

 

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 45


Hôm nayHôm nay : 3502

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 240234

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9364720

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?