Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Quần thư trị yếu 360

Quần Thư Trị Yếu 360 - Thầy Thái Lễ Húc giảng (Tập 9 -10)

Thứ sáu - 05/05/2017 16:15

TU THÂN - TỀ GIA - TRỊ QUỐC - BÌNH THIÊN HẠ

Kính thưa các vị trưởng bối, các vị học trưởng, xin chào mọi người!

Mỗi một lần chúng ta gặp mặt là một tuần lễ đã trôi qua, thời gian như thoi đưa. Người xưa đều quý từng tấc thời gian, chúng ta cũng phải khéo dùng thời gian để nâng cao trí huệ của mình, nâng cao trình độ của mình. Chỉ có trí huệ và học vấn chân thật mới có lợi ích cho những người có duyên ở xung quanh chúng ta. Đây mới là ý nghĩa của cuộc sống chúng ta, bởi vì tư tưởng giá trị quan của đời người hướng dẫn cuộc sống cho mỗi con người.

Lần trước, chúng ta bắt đầu học tập “Quần Thư Trị Yếu 360” câu. Chúng ta thấy câu đầu tiên là giới tham trong “quân đạo tu thân”. Quân là chủ tể. Cuộc đời của chính chúng ta, bản thân chúng ta có thể làm chủ được không? Câu nói này là đang nhắc nhở chúng ta. Chẳng thể điều phục tham dục của bản thân thì chúng ta trở thành nô lệ của dục vọng, như vậy làm sao chúng ta có thể làm chủ tể, làm chủ được đời sống của chúng ta? Đây là vấn đề đáng để cho chúng ta suy ngẫm, bởi vì rất nhiều trào lưu tư tưởng cận đại, những tư tưởng hướng dẫn sai lầm nghiêm trọng. Thí dụ như nói thời đại này nhấn mạnh tự do, nhưng rất nhiều người lý giải sự tự do là tôi muốn như thế nào thì phải như thế đó; cha mẹ muốn quản lý tôi, thầy cô muốn quản lý tôi, tôi cũng chẳng nghe vì tôi được tự do. Đây gọi là sự phóng túng. Cho nên những tư tưởng quan niệm này thật ra đã ảnh hưởng đến mọi người, đến cuộc sống, cách xử thế của họ. Vì vậy, chúng ta phải làm chủ được đời sống của chính mình. Trước tiên là phải hàng phục được tập tánh của chính mình. Có thể sửa đổi được tập quán xấu của mình thì chúng ta mới có thể làm chủ sinh mệnh của mình.

Thưa các vị học trưởng! Chúng ta đều biết việc nổi giận là không tốt, xin hỏi mọi người, ai có thể không nổi giận chứ? Các vị xem chúng ta đã làm chủ được chưa, chúng ta thật sự được đại tự tại chưa? Khi đến tự viện chánh thống của nhà Phật, vừa bước vào cửa, trước tiên là nhìn thấy Bồ Tát Di Lặc (Bố Đại Hòa Thượng). Bố Đại Hòa Thượng luôn nở nụ cười, nhắc nhở chúng ta không nên nóng giận, phải mỉm cười với mọi người. Hơn nữa, bụng phải lớn để có thể dung. Bao gồm tất cả kiến trúc đại hùng bảo điện đều nhắc nhở chúng ta có bao nhiêu công lao sự nghiệp huy hoàng thật ra chỉ là thoảng qua như mây khói. Điều quan trọng hơn chính là trong đời này có thành tựu cho huệ mạng của chính mình hay không. Trở thành anh hùng của cuộc đời mình chính là có thể điều phục được tập tánh xấu, đây mới là anh hùng.

Rất nhiều vị tướng, người dẫn dắt binh lính đánh thắng bao nhiêu trận, nhưng mà để họ sửa đổi tính khí thì chẳng thể sửa được. Bảo họ đừng đánh mạt chược thì không thể nào được, tập tánh này đã khống chế họ rồi, làm cho họ chẳng có cách nào được tự do. Vì vậy, “huấn hữu chi”.

Thủy tổ của nhà Hạ, Đại Vũ đã để lại lời giáo huấn cho thế hệ sau: “Huấn hữu chi, nội tác sắc hoang ngoại tác”. Học vấn là do chính bản thân mình chủ động lích lũy. Từ xưa đến nay, học vấn đạo đức được thành tựu chẳng phải là do người khác kéo đẩy, mà đều là do chính bản thân mình chủ động cầu học, chủ động tích lũy hạ thủ công phu.

Khổng Tử nói: “Bất viết, như chi hà, như chi hà giả, ngô mạt như chi hà dã dĩ hỹ”. Một người không chủ động, khi đối diện với những tình huống, những vấn đề thì chẳng thể chủ động khắc phục, chẳng thể chủ động phá bỏ. “Như chi hà” chính là làm cách nào, giải quyết ra sao. Nếu như một người không chủ động hướng thượng, chẳng muốn chủ động giải quyết vấn đề, Khổng Tử cũng chẳng thể giúp được, cái gọi là “tự trợ giả thiên trợ, tự cứu giả thiên cứu, tự khí giả thiên giả”. Bản thân chúng ta tự vứt bỏ chính mình, chẳng chủ động, chẳng dụng công, thì chẳng có ai có thể giúp đỡ được chúng ta.

Chúng ta vừa đọc đến câu này: “Huấn hữu chi, nội tác sắc hoang, ngoại tác cầm hoang, cam tửu thị âm, tuấn vũ điêu tường, hữu nhất vu thủy, vị hoặc phất vong”. Đã bị nhiễm những dục vọng này thì quốc gia chẳng thể nào không bị mất.

Chúng ta bắt đầu từ trị quốc rồi đến tề gia. Nếu như một gia đình sống phóng túng trong dục vọng thì gia đình này sẽ lụn bại. Từ tề gia quay trở lại, một người có dục vọng chẳng có cách nào khắc chế thì họ không thể tu thân. Một người muốn tu thân, tề gia hay cống hiến cho xã hội thì nền tảng về đức hạnh của họ đã vững chắc ngay từ nhỏ. Tư tưởng quan niệm của họ phải chuẩn xác, bởi vì tư tưởng sẽ làm chủ phương hướng cho cuộc đời của họ.

Các vị xem, thanh niên sinh viên hiện nay cảm nhận mục đích của cuộc sống là ở chỗ nào, tìm cầu ở nơi đâu? Họ đọc đến câu này, nếu như họ chẳng biết được đây là lời của Đại Vũ, họ vẫn cảm nhận được nó quá hay: “Cuộc đời của chúng ta nếu được như vậy thật sự là quá hạnh phúc rồi”. Có thể được hay không? Các vị đều chẳng có phản ứng gì. Không phải chứ? Giá trị quan của họ là như vậy phải không? Tôi chẳng cần phải nói sinh viên hiện nay tốt, tôi nói bản thân mình tốt rồi. Khi tôi chưa tiếp xúc với nền giáo dục văn hóa truyền thống Trung Hoa, xem truyền hình thấy trong truyền hình có một người đàn ông rất đẹp trai, ở sau lưng của anh ấy là một tòa biệt thự lộng lẫy, đứng bên cạnh là một cô gái thân hình rất đẹp, trước mặt là chiếc xe Cadillac hoặc là xe hơi hiệu gì đó, tôi nhìn thấy liền lập tức ngưỡng mộ. Đó chính là những thứ mà chúng ta đang theo đuổi. Bên trong mê đắm nữ sắc, bên ngoài ưa thích săn bắn, đi đâu chơi đây? Chăm chỉ đi mua sắm, cảm thấy như vậy mới là sự thành công của đời người, là địa vị của cuộc đời. Chúng ta khi chưa gặp được Kinh điển, cuộc sống của chúng ta là “tiếp nối của người trước, mở lối cho người đi sau” mới là giá trị của cuộc sống chúng ta.

“Vì kiến thức của Thánh Hiền xưa bị thất truyền, vì sự thái bình của vạn đời sau” mới là sự theo đuổi của cuộc sống chúng ta. Thưa các vị học trưởng, các vị thật sự chẳng phải là người tầm thường, các vị vốn là vừa bắt đầu thì phải “vì tiếp nối truyền thống của Thánh Hiền”. Tôi ở thế gian này đã lăn lộn hai mươi mấy năm, mục tiêu của cuộc sống bị sai lầm. Là mục tiêu gì vậy? Mục tiêu hưởng lạc, mục tiêu sống phóng túng.

Các vị chú ý xem, hiện nay có rất nhiều thanh niên khoảng ba mươi mấy tuổi bị những căn bịnh kỳ quái. Những bịnh này từ đâu mà có? Do lãng phí sức khỏe, lãng phí phước báu. Phước báu dùng hết rồi, thành ngữ nói: “Phước hết thì người chết”. Hiện nay trẻ em trúng gió khoảng mười mấy tuổi cũng có, do chúng sống buông thả trong việc ăn uống, chẳng có chút tiết chế. Càng đáng để chúng ta suy ngẫm là cha mẹ, người thân ở bên cạnh cũng chưa có quan niệm chuẩn xác để yêu thương chúng, miễn chúng vui là được rồi.

Thưa các vị học trưởng! Câu nói này các vị có nghe qua chưa? Hiện nay có bao nhiêu phụ huynh nói: “Ây da! Con cái nó vui vẻ là được rồi!”. Xin hỏi chúng làm gì để vui? Đi chơi, thỏa mãn lòng ham muốn, nói thẳng là “thỏa mãn dục vọng”. Bốn từ này đáng để bàn bạc. Dục vọng có thể thỏa mãn được không?

Các vị nữ đồng học, các cô có khi nào nói “tôi chỉ mua một bộ quần áo này thôi, từ đây về sau tôi chẳng mua thêm bộ nào nữa, tôi hứa rồi!”. Hoặc là có người đàn ông thích chiếc xe ô tô, anh ấy nói: “Bà xã à! Chỉ cần em mua cho anh một chiếc đi, từ nay về sau anh chẳng mua chiếc khác đâu!”. Bà vợ vừa nghe thì thấy hình như là lời nói thật lòng: “Được rồi, mua liền”. Chưa được nửa năm, ở chỗ đó lại có loại xe mới ra đời: “Ây da! Hiện nay tôi lái chiếc xe này thật là mất mặt”. Cho nên, thỏa mãn sự ham muốn là ảo tưởng của loài người, không thể nào đạt được. Lời tổ tiên nói rất có lý: “Dục như vực thẳm, không thể lp đầy”. Điều này rất đúng. Nhưng lúc chúng ta chưa biết những đạo lý này thì dục vọng của trẻ con là do chúng ta dung dưỡng. Yêu thương không đúng đạo thì đó là hại.

Chúng tôi có một người bạn, anh ấy là quan chức của chính phủ. Anh ấy tốt vô cùng, nhưng nếu như chẳng có sự chỉ dạy của Kinh điển thì khó tránh khỏi những tư tưởng quan niệm của thế gian này, ngỡ như đúng mà lại sai, thậm chí là chẳng có lập trường vững chắc. Con của anh ấy vô cùng thật thà, đã vào đại học mà không quen bạn gái, rất chăm chỉ học tập. Người lớn nói với con anh là: “Con bây giờ lạc hậu rồi, con phải nhanh chóng quen bạn gái đi chứ!”. Khi cháu về nhà cùng ăn cơm cùng gia đình, cháu không uống rượu, nhưng bậc cha chú kiên quyết ép cháu uống rượu, còn nói: “Không chịu học những chuyện này, sau này ra ngoài rất khó hòa nhập”. Xã hội là một cái chảo nhuộm lớn, nhưng gia đình thì không thể biến thành cái chảo nhuộm này. Sau này học xong rồi mới biết, con của anh ấy bản tánh vô cùng tốt. Giả như chẳng biết được những đạo lý này thì có thể dạy dỗ con của mình những điều sai lầm rồi.

Trên Kinh Dịch nói: “Mông dĩ dưỡng chánh, thánh công dã”. Một đứa trẻ từ lúc còn bé đã nuôi dưỡng tư tưởng quan niệm chuẩn xác, chuẩn bị tốt nền tảng của đức hạnh, thì tư tưởng của nó là chánh tri chánh kiến, không có tà niệm. Đây là công lao sự nghiệp to lớn nhất ở thế gian này, bởi vì họ đã thành một bậc Thánh Hiền, sự cống hiến của họ đối với gia đình, xã hội, quốc gia, dân tộc vô cùng to lớn. Cho nên ngày nay muốn dạy con cái được tốt (nói thật là chẳng phải con cái muốn học), thì bản thân làm cha mẹ, làm thầy cô, bậc bề trên trước tiên phải có quan niệm chính xác mới được. Cho nên, cả thế giới này đầy rẫy những chủ nghĩa công lợi, chạy theo danh lợi là điều rất bình thường. Nói đạo đức nhân nghĩa thì sẽ bị người cười, nói là lạc hậu.

Ở trong thời đại này, để không bị cuốn theo dòng chảy thật chẳng hề đơn giản. Toàn bộ sự phát triển của công lợi, lửa cháy thêm dầu. Trẻ con từ bé đã chú trọng việc hưởng lạc, cái gọi là thiên đường của trẻ con. Chúng hưởng lạc rồi thì dục vọng của chúng càng lúc càng nhiều, đến lúc chúng ta biết được dục vọng của chúng quá nhiều thì chúng đã mười ba - mười bốn tuổi rồi, muốn quản lý chúng cũng chẳng quản lý được. Cho nên tuổi thơ là thiên đường thì dục vọng không nên thỏa mãn.

Hiện nay rất nhiều học sinh tiểu học, học sinh trung học đều có thẻ tín dụng, đúng không? Các vị phải cho tôi một số thông tin thì tôi mới có thể phán đoán sự suy luận của tôi có chính xác hay không. Hiện nay học sinh tiểu học có hay không? Sinh viên đại học mới có thẻ tín dụng đúng không? Mười tám tuổi mới có thẻ tín dụng. Nhà kinh doanh này vẫn được xem là có chút lương tâm, đầu óc vẫn chưa tính đến những người bạn nhỏ. Nhưng tôi xin nói với các vị, hiện nay học sinh tiểu học tập trung lại với nhau, trên tay là chiếc điện thoại di động, hơn nữa là những chiếc điện thoại hàng hiệu, cứ sau nửa năm thì đổi một chiếc khác. Các vị nói xem, hiện nay trang bị toàn bộ từ đầu đến chân hết bao nhiêu tiền? Một đôi giày hàng hiệu. Thậm chí là việc cắt tóc thôi cũng tốn không ít tiền. Ngay khi còn bé thì mức độ tiêu phí của chúng đã như vậy rồi, các vị nghĩ xem, sau này chúng có thể kiếm được nhiều tiền như vậy không?

Người xưa có trí huệ, cần kiệm chăm lo gia đình, các ngài có tầm nhìn rất sâu: “Ta làm quan lớn, con cái của ta chưa chắc có được phước báu này. Lúc chúng còn bé, chúng ta nuôi dưỡng một cách xa xỉ như vậy không phải là ta đã hại cuộc đời của chúng rồi sao?”. Lúc còn bé biết cần kiệm thì cuộc đời của chúng sẽ rất ung dung tự tại, không có áp lực phải không?

Hiện nay, từ mười tám tuổi trở lên là đã có thẻ tín dụng. Chúng chưa kiếm được tiền mà đã mắc nợ rồi, cho nên mới gọi là nguyệt quan nữ thần. Cứ mỗi tháng đều tiêu sạch túi, gọi là bách lĩnh nhất tập, tiêu tiền rất nhiều. Tiêu xài không đủ, phải về nhà đào khoét phần lương hưu của cha mẹ. Nguồn gốc của hiện tượng này là do đâu? Nguồn gốc là do từ bé, sự dạy dỗ về tư tưởng cuộc đời của chúng đã sai lầm. Cha mẹ luôn đáp ứng đầy đủ sự đòi hỏi của chúng mới cảm thấy cuộc đời của chúng được vui sướng.

Thật ra các vị xem, sự hưởng thụ tiếp nhận về vật chất của trẻ em thời đại ngày nay là nhiều nhất, nhưng tôi xin nói với các vị, trẻ em trong thời đại này rất hiếm khi cười. Mọi người có phát hiện ra không? Hơn nữa, chúng dễ dàng nói “thật là chán quá!”. Kỳ lạ thật, chúng được đáp ứng nhiều vật chất đến như vậy, tại sao chúng lại buồn chán nhất? Kỳ lạ thật! Lúc còn nhỏ, chúng ta chẳng có những đồ chơi điện tử như vậy, nhiều trò chơi năng động như vậy, chúng ta hình như chẳng bao giờ nói “chán quá”. Lúc có thời gian là cùng với cánh đồng gió mát, chơi ở nơi đó không biết chán. Trong thiên nhiên luôn phát hiện ra những điều mới mẻ. Khi trở về nhà thì toàn thân dính đầy bùn đất, ông bà nội đang ngồi trông cửa liền phủi phủi: “Ây da! nghịch quá, vào ăn cơm đi!”. Rất nhiều ký ức về tuổi thơ. Các vị xem, trẻ em hiện nay ham muốn nhiều như vậy, ngược lại chúng càng nhàm chán, càng trống rỗng. Nhưng chúng không thích thú thì chúng chẳng biết làm điều gì, cuộc sống chẳng có mục tiêu, một ngày của chúng đều phải dùng vật khích lệ để đáp ứng cho chúng. Cho nên, làm sao mới có thể giúp đời sống trẻ con được hạnh phúc, có giá trị quan chuẩn xác? Điều này đáng để cho chúng ta suy nghĩ. Theo đuổi công danh lợi lộc một cách mù quáng, lúc còn bé là thiên đường; trưởng thành rồi, bởi vì dục vọng đã mở rộng thì nhất định kiếm tiền, và công việc sẽ giống như chiến trường vậy. Không thể không có việc làm, nếu không thì nhà cửa xe cộ sẽ bị thu hồi. Cho nên, họ đối với công việc này sẽ khống chế dục vọng, bất kỳ người nào cũng chẳng thể làm ảnh hưởng đến công việc của tôi, trong việc làm họ sẽ ganh đua, đố kỵ. Họ sẽ tạo vô số tội nghiệp, tính đấu tranh của họ rất mãnh liệt, vì lợi mà đấu tranh. Đời người như vậy cũng là trả nợ. Họ nhất định sẽ chẳng chăm nom được chuyện của gia đình, việc giáo dục con cái, cho nên cuối đời con cái cũng chẳng hiếu thuận với họ. Về cuối đời, họ phải sống trong viện dưỡng lão. Đó là mộ phần, ngồi ăn để chờ chết. Cả cuộc đời người truy cầu là như vậy, điều này không thỏa đáng.

Cho nên vẫn là tư tưởng quan niệm chuẩn xác của tổ tiên mới có thể mang lại hạnh phúc cho chúng ta. Từ nhỏ là nghĩ đến cha mẹ, nghĩ đến anh em, trong tâm luôn nghĩ đến người khác, tâm gieo trồng ruộng phước, vun bồi phước khi còn nhỏ.

“Hoặc ăn uống, hoặc đi đứng

Người lớn trước, người nhỏ sau”.

Thật ra, con người nên làm những việc đáng nên làm thì trong tâm của họ rất vui. Chúng ta từ nhỏ đã quen với việc món ăn gì đem ra đều mời ông bà dùng trước, trước đến giờ hình như chưa từng có lần nào cảm thấy uất ức. Thật kỳ lạ, bởi vì lúc mới bắt đầu đã làm đúng thì sự hưởng thụ của họ tương ưng với niềm vui tánh đức của bản thân. Nếu lúc mới bắt đầu đã sai lầm thì phải dạy lại cho đúng. Điều này chẳng phải dễ. Sai lầm cũng là do tập khí tự nhiên hình thành. Cho nên, ngay khi còn bé phải luôn luôn nghĩ đến người khác, phải bồi dưỡng phước. Lúc đi học phải nghĩ đến việc tích lũy trí huệ, năng lực để sau này đền ơn tổ quốc, phục vụ xã hội. Cho nên nỗ lực học tập, ra đời để tạo phước, bất luận là họ làm ở ngành nghề nào năng lực chắc chắc sẽ rất giỏi. Vậy ngay từ bé đã nghĩ đến người khác, lại có thể hết lòng vì xã hội, thì cuối đời nhất định có đại phước báu, cuối đời hưởng phước. Hơn nữa, xem trọng học vấn và năng lực, tuổi tác họ càng lớn thì trí huệ càng cao. Con cháu hàng hậu bối ở xung quanh họ luôn luôn muốn thỉnh giáo kinh nghiệm của họ, cuộc đời càng sống càng có giá trị.

Nhưng chúng ta nhìn xem, hiện nay trong xã hội, công danh và lợi lộc này chẳng biết tri ân báo ân, chẳng biết được luân thường, chẳng biết nghe lời dạy bảo từ người lớn tuổi, người tài trí; ngược lại còn xem thường người lớn tuổi, coi thường người già. Đây cũng là hiện tượng vô cùng sai lệch của xã hội. Điều này nhất định tổn giảm rất nhiều phước báu. Xem thường người già là vong ân phụ nghĩa, thì đâu có chuyện chẳng bị mất phước chứ. Mọi người nhìn xem, hiện nay thiên tai nhân họa mỗi lúc càng nhiều, là do tâm của chính chúng ta cảm chiêu đến. Thiên lệch khỏi đạo đức nhân nghĩa thì sẽ phơi bày ra hiện tượng, cho nên “Tả Truyện” nói: “Khí thường tắc yêu hưng”.

Thưa các vị học trưởng, mỗi câu nói này chúng ta tiếp thu được để dùng trong tu - tề - trị - bình. Mỗi câu đều là đại học vấn, mọi người không chỉ xem như là kiến thức để học thuộc lòng, mà mỗi câu có thể đem lại lợi ích cho cuộc sống của chúng ta, cũng đem lại lợi ích cho những người có duyên ở bên cạnh chúng ta. Giả như các vị là ông chủ, các vị tiếp thu được rồi, giá trị mục tiêu cuộc sống của các vị đã đúng rồi, sẽ có rất nhiều người cấp dưới được các vị hướng dẫn đi đúng đường. Cuộc đời của một người cấp dưới của các vị vì các vị mà không ly hôn, mà chuyển biến. Chỉ cần có một trường hợp thì công đức cũng là vô lượng. Ngày nay, con người ta có thể tự mình phản tỉnh mình được không? Toàn thể quá trình trưởng thành của họ có huân tập Kinh điển hay không? Họ vừa huân tập là họ đã trồng một hạt giống, có thể mười - mười lăm năm sau đột nhiên có một nhân duyên làm cho họ nhớ lại câu nói này, họ vẫn có thể hồi đầu. Nếu như trước đến giờ họ chưa từng huân tập những lời giáo huấn này; khuyên, lôi kéo trở lại, thậm chí họ cảm thấy các vị rất vô vị nhàm chán, những tư tưởng của các vị chẳng bắt kịp thời đại.

Các vị hãy tĩnh tâm lại mà suy nghĩ, ngày nay chúng ta có thể quay về với những lời dạy bảo của tổ tiên, sẵn lòng gánh vác một phần để hoằng dương văn hóa? Chúng ta có thiện căn như thế này, quyết định không rời xa sự giáo dục gia đình của chúng ta, không rời xa sự lương thiện của cha mẹ. Đây là gốc. Có thể chúng ta đã đọc qua một câu nào đó trong “Đệ Tử Quy”, “mẹ của tôi ngay từ nhỏ luôn căn dặn tôi như vậy”, đột nhiên cảm thấy rất thân thiết.

Hội công viên chức Hiệu trưởng Malaysia chúng tôi, năm năm nay, từ năm 2007 bắt đầu bồi dưỡng giáo viên dạy “Đệ Tử Quy”. Năm nay là năm thứ năm rồi. Có 984 Trường tiểu học Hoa văn, Tây Mã Lai, sau này là ở Đông Mã Lai, rất nhiều trường học hưởng ứng. Có hơn một ngàn trường tiểu học Hoa văn đều triển khai “Đệ Tử Quy”. Chúng tôi nghe được rất mừng. Những trẻ em học tiểu học đều được huân tập những lời giáo huấn này thì cuộc đời của chúng sẽ có những tư tưởng phán đoán, giá trị định hướng chính xác. Hơn nữa, cả một thế hệ, chính là hết thảy trẻ em của thế hệ này đều được học, sau này chúng có ngôn ngữ cùng với giá trị phán đoán. Việc làm này rất có ý nghĩa, rất là vĩ đại. Đương nhiên phía sau cũng có các vị học trưởng hết sức ủng hộ, đều là do nhân duyên của mọi người, tận tâm tận lực dạy dỗ trẻ em học tập. Huân tập những Kinh điển này sẽ có được những tư tưởng chuẩn xác, thì cuộc đời của chúng sẽ tốt đẹp. Giống như vậy, vì sao lại có “Trinh Quán Chi Trị”? Nhất định là chẳng thể tách khỏi bộ “Quần Thư Trị Yếu” này.

Hoàng đế Đường Thái Tông đã xem qua những lời giáo huấn này, khắc sâu ấn tượng. Lời của các vị quan nói tương ưng với “Quần Thư Trị Yếu” thì vua lập tức nói: “Đúng! Đại Vũ nói như vậy!”. Chúng ta xem “Ngoại tác cầm hoang”, ra ngoài săn bắn vui quên  nước Thục, chẳng muốn trở về. Một năm đi săn quá nhiều lần, chẳng quan tâm việc triều chính. Vua Đường Thái Tông là võ tướng, mười mấy tuổi là dẫn binh đi đánh rồi. Nếu không đi săn thì tay chân của ông sẽ bị ngứa, vì đây là sở trường của ông. Vì vậy, Thừa tướng Ngụy Trưng khuyên nhà vua: “Lạc bàn du, tắc tư tam khu dĩ vi độ”, là chỉ muốn đi ra ngoài săn bắn thật nhiều. Các vị quan đều khuyên nhà vua. Có một lần vừa ra ngoài đi săn, có một vị quan tên là Cốc Ná Luật (lúc đó thân phận của ông là gián nghị đại phu) đề xuất ý kiến cho Hoàng đế. Đúng lúc trên đường đi thì trời mưa rất to nên phải ở nơi đó trú mưa. Họ có mặc áo mưa. Áo đi mưa lúc đó làm bằng vải có bôi lên lớp sơn có thể phòng nước. Ngay lúc đó Đường Thái Tông hỏi vị đại thần này: “Áo đi mưa sơn dầu này phải làm như thế nào mới có thể hoàn toàn không bị thấm nước”. Đúng lúc đang ở đó trú mưa thì bàn đến đề tài này. Vị quan Cốc Ná Luật liền trả lời: “Thưa Hoàng thượng, dùng tấm ngói làm thì sẽ không bị thấm nước ạ!”. Thưa các vị học trưởng, “thính tư thông”, nhà vua nghe xong có ra lệnh: “Được, người đâu lấy tấm ngói làm áo đi mưa” không? Không có, áo đi mưa như vậy chẳng nặng đến chết người sao, làm sao mà mặc được. Cho nên Khổng Tử nói: “Quân tử hữu cửu tư”, “thị tư minh, thính tư thông”. “Thính tư thông” chẳng phải là nói mỗi một chữ thì các vị nghe rõ ràng mới gọi là “thính tư thông”, mà còn phải hiểu được huyền ngoại chi ý”. Vì sao vậy? Tuổi tác của chúng ta chẳng còn trẻ, đã lớn rồi, mọi người trực tiếp khuyên chúng ta, chúng ta sẽ tức giận sôi sục. Cho nên mọi người đành phải nói lời ẩn dụ, nói bóng nói gió, xem chúng ta có hiểu được không.

Tôi nhớ có một lần sư trưởng nói: “Trước hai mươi tuổi thì có thể khuyên. Từ hai mươi tuổi đến bốn mươi tuổi không nên khuyên trực tiếp, phải nói xa nói gần. Trên bốn mươi tuổi thì chẳng thể khuyên được nữa”. Mọi người nghe những lời dạy này thì phải nên nghe, không nên nghe một cách khô cứng. Có người hỏi: “Gần đây tôi với anh sống cùng với nhau như vậy, anh thấy tôi có chỗ nào chưa được, xin anh cho tôi biết ý kiến đi”. Anh không thể nói:“Anh năm nay bao nhiêu tuổi?”. Người kia nói: “Tôi bốn mươi hai tuổi”. “Ây da! Không được rồi, anh đã quá bốn mươi tuổi rồi!”. Cho nên nghe Kinh thì phải biết nghe, phải y theo nghĩa. Y theo nghĩa chứ không y theo ngữ, không phải y theo văn tự.

Có một số người mới mười tám tuổi mà vẫn cố chấp như người bảy mươi - tám mươi tuổi vậy. Có không? Có! Có người bảy mươi - tám mươi thì phản lão hoàn đồng, hồn nhiên như trẻ em vậy, mọi người khuyên họ thì họ: “Cám ơn anh, anh là quý nhân của cuộc đời tôi”. Chúng tôi thật sự đã gặp qua người năm mươi mấy tuổi có trạng thái như lúc nhỏ vậy. Gặp những người hồn nhiên này làm cho chúng ta rất ngưỡng mộ và cảm thấy hổ thẹn. Người ta càng học thì càng buông bỏ tập khí. Nhìn thấy sư trưởng giống như em bé vậy, ở nơi nào cũng vui vẻ, thật là hoan hỷ. Chúng ta vẫn đang ở đó suy nghĩ: “Những người ở bên cạnh có nhìn thấy chúng ta như thế nào không?”. Không nên quá vui, tự nhiên là được rồi, tự nhiên sẽ lưu lộ ra sự chân thật. Cho nên vẫn là nhìn người, thấy họ bằng lòng nghe khuyên ngăn, đương nhiên là phải tận đạo nghĩa; nhìn thấy họ không nghe thì không nên ép họ. Chúng ta thấy những người bên cạnh chẳng khuyên chúng ta thì đừng trách họ. “Hành hữu bất đắc, phản cầu chư kỷ”, “nghe khen sợ, nghe lỗi vui”, “người hiền lương, dần gần gũi”. Thật sự đời người đại đạo chí giản, đời người thật sự rất đơn giản, hai chữ “cảm triệu”, “chiêu cảm”. Tất cả những người chúng ta gặp được đều do tâm chúng ta chiêu cảm đến, không thể trách người nào khác.

“Phương dĩ loại tụ, vật dĩ quần phần”. Hiện nay vấn đề của con người đã đến rồi, chẳng hiểu được chân tướng. Hễ chẳng thuận theo ý của mình thì oán trời trách người, mỗi ngày trong đầu đều đang tạo nghiệp.

Trong truyện “Du Tịnh Ý Công Gặp Táo Thần”, Du Tịnh ý mười mấy tuổi thì thi đậu tú tài, tài văn chương và học vấn thật tuyệt vời nhưng thi tiến sĩ thì không đậu. Đã bốn mươi mấy tuổi, thi bảy lần vẫn không đậu. Mỗi năm ông đều viết sớ tâu lên trên trời, không nhìn ra vấn đề của bản thân mình. Sau đó thì “mãn chỉ oán vưu”, viết đầy cả tờ sớ, toàn bộ là ôm oán hận. Táo thần nhắc nhở ông ấy: “Ý ác quá nhiều”, trong ý niệm đều là ý ác, là tà niệm; niệm tham, ý niệm đố kị, niệm dâm, tính biển cấp (“biển cấp” chính là lòng dạ hẹp hòi, rất hấp tấp, rất dễ nổi nóng), “cao kỷ ti nhân niệm” (ngạo mạn), “ân thù báo phục niệm” (bụng dạ hẹp hòi, luôn ghi nhớ những chuyện vụn vặt của người khác, hễ nhìn thấy người khác thì chẳng được vui, thậm chí là còn nghĩ cách để hãm hại), “ức vãng kỳ lai niệm” là kỳ vọng bản thân mình sau này được tốt đẹp. Điều này gọi là mơ mộng hoang tưởng. Muốn biết kết quả ở tương lai thì hỏi hiện tại như thế nào. Làm sao mà học sách Thánh Hiền cả một đời, tư tưởng thì chẳng tương ưng với lời giáo huấn của Thánh Hiền. Điều này thì không đúng.

Giả như chúng ta đang học tập Kinh điển nhưng tư tưởng chẳng tương ưng với Kinh điển, đây gọi là có tiếng mà không có miếng. Hơn nữa, tiếng còn nhiều hơn miếng, người ta sẽ nói chúng ta là những người học văn hóa truyền thống. Danh cũng là phước. Nổi danh rất cao. Kết quả là tâm niệm, thực tế hành vi cùng với danh chẳng phù hợp, vậy thì phước bị mất đi rất nhiều. “Thế chi hưởng thịnh danh nhi thực bất phó giả”, câu nói này trong Liễu Phàm Tứ Huấn rất có đạo vị. “Đa hữu kỳ họa”. Chẳng biết mọi người đã gặp qua đứa bé được đặt tên Nghiêu, Thuấn, đều là tên của cổ Thánh tiên Hiền. Kết quả là luôn bị bịnh, nuôi không được. Cuối cùng sửa lại tên thì liền hết bịnh. Đây là do cái tên đó chúng tiếp nhận không nổi. Tên cũng phải có phước báo thì các vị mới hưởng thụ được cái phước này.

Trong “Liễu Phàm Tứ Huấn” có nói: “Những ai hưởng tiếng tăm nhưng không xứng đáng với những gì họ làm thì thường gặp những tai họa bất ngờ, đều không lường được tai họa”. Tôi nhìn thấy câu này thì toát mồ hôi hột, bởi vì tôi đã hưởng hư danh quá nhiều rồi. Cho nên bây giờ ra khỏi nhà là tôi đặc biệt chú ý xem có chiếc ô tô nào chạy tới không, thật sự là chẳng dám ra khỏi nhà. Người ta đánh giá tôi quá cao, học vấn của tôi thì rất tệ, tập khí vẫn còn một đống. Cho nên, hễ họ tán thán tôi thì tôi lại tiêu mất một lượng lớn phước báu, mỗi ngày đều tiêu phước, tiêu đến cuối cùng thì ngân hàng cũng hết tiền, cho nên ăn mà chẳng mập được. Mọi người đều biết rồi phải không, đều có nguyên nhân. Cho nên bây giờ nghĩ đến điều câu tục ngữ nói rất có lý: “Con người sợ nổi danh, heo sợ mập”. Con người vừa nổi danh, nói thẳng ra tai họa thật sự đã đến rồi, chịu chẳng thấu. Thậm chí là như thế nào? Thật sự là vẫn phải chịu. Vậy mà chẳng biết sự việc phức tạp, cũng chẳng biết  bản thân có mấy mặt nữa.

Tại vì sao tôi lại nói tới chỗ này rồi? Đây là do có cảm thì có ứng, cho nên người xưa để lại những câu nói này rất có đạo vị, chúng ta nên lĩnh hội cho tốt. Đạo lý rõ ràng như vậy, bản thân ta không nên mơ hồ.

QUẦN THƯ TRỊ YẾU 360 Tập 10

Vừa mới chia sẻ với các vị, khi nghe bất kỳ đạo lý nào thì phải “y nghĩa bất y ngữ”, y theo ý nghĩa đó. Hơn nữa, luôn luôn phán xét mình trước đạo lý này, quan trọng nhất là phải đối chiếu cho bản thân mình. Không có ai chịu giúp chúng ta, khuyên chúng ta, đều là do thái độ tiếp nhận của chúng ta chưa đủ. Vị quan đại thần này có trí huệ về việc khuyên can, ông trả lời với Thái Tông: “Ngài dùng tấm gạch để làm sẽ không bị thấm nước”. Thái Tông là người thông minh, vừa nghe câu nói này liền hiểu nhắc nhở ông không nên bước ra ngoài, nếu không thì sẽ bị mưa ướt, ý nói là ông đi ra ngoài quá nhiều rồi. “Thính tư thông”, nghe được “huyền ngoại chi ý”.

Thật sự sau khi chúng ta trưởng thành, mọi người có lúc thật sự không bắt kịp mục tiêu, chúng ta sẽ thẹn quá mà nổi giận phải không? Có những lời nói mọi người phải biết nghe, thậm chí khi xem Kinh điển đều biết được những lời này là đang nói về mình. Chúng ta suy nghĩ chuyện đã qua như thế nào? Mỗi câu đều là từ nơi tâm tánh, suy nghĩ lại bản thân mình có làm được hay không? “Cha mẹ gọi, trả lời ngay”, cái tâm cung kính đối với cha mẹ có làm được hay không? Không phải là làm ở bên ngoài mấy hôm, chỉ vài động tác. “Đông phải ấm, hạ phải mát”, có thể làm được việc luôn luôn chăm sóc cha mẹ hay không? Có thể khởi tâm quan tâm chăm sóc người khác được hay không? Mỗi câu phải từ nơi tâm mà công phu.

Hoàng đế Thái Tông vừa nghe là hiểu liền, vui vẻ tiếp nhận. Điều này chẳng phải đơn giản. Hoàng đế còn cho quan đại thần năm mươi khúc vải, sau đó còn tặng cho ông ấy một thắt lưng bằng vàng. Phần thưởng này để làm gì? Khuyến khích sự khuyên ngăn của các vị quan. Ý nghĩ thật sự của phần thưởng này kéo lên bầu không khí. Hành động này của Thái Tông đều có đức hạnh trị quốc, còn có đức, làm như vậy để khích lệ quần thần không lo sợ khi khuyên can lỗi lầm của nhà vua.

“Ngoại tác cầm hoang”, Hoàng đế Thái Tông cũng đang suy nghĩ lại.

“Cam tửu thị âm, tuấn vũ điêu tường”, xây ngôi nhà thật to.

Trước đời Đường là đời nhà Tùy. Đời nhà Tùy lên ngôi chỉ được ba mươi tám năm thì bị mất nước. Hơn nữa, người lập quốc đời nhà Tùy là Dương Kiên, con trai của ông là Dương Quảng tiếp nối. Tùy Dạng Đế thật sự là bạo ngược vô đạo, hoang dâm vô độ, trong phút chốc đã làm sụp đổ quốc gia. Sau nhà Tùy là nhà Đường. Gần đời nhà Đường nhất là triều nhà Tùy. Có một câu nói là: “Ân giám bất viễn”. “Ân” là nói triều nhà Thương. Câu nói này là những người nắm chủ quyền triều nhà Chu đang nghĩ lại chuyện của quá khứ, đời nhà Thương mất nước cách chúng ta không xa, chúng ta phải xem mà cảnh giác.

Thật ra “Ân giám bất viễn” cũng là nhắc nhở cho chúng ta, hết thảy những người mà chúng ta tiếp xúc trong cuộc đời này, chúng ta phải lấy cuộc đời của họ làm tấm gương cho cuộc đời của chúng ta. Thậm chí là tất cả những nhân vật chúng ta thấy trong lịch sử cũng phải lấy làm tấm gương cho chúng ta, như vậy thì cuộc đời của chúng ta mới có được tính cảnh giác cao, khả năng  giác ngộ cao. Không nên xem lịch sử như là những câu truyện tiểu thuyết võ hiệp, xem xong mà chẳng có ích gì.

Vào những năm đầu Trinh Quán, Thái Tông đối với những vị quan xung quanh mình, những vị quan thân cận nhà vua đã làm được. Tánh tự giác của Hoàng đế Thái Tông rất cao. Không chỉ có các quan đại thần khuyên ông, trong quá trình nói chuyện không chỉ tự nhắc nhở bản thân ông, mà ông cũng nhắc nhở hết thảy các quan đại thần. Tại vì sao phải nhắc nhở các quan đại thần? Vì ông là quân phu, vua của một nước lớn, đối với thần dân cũng phải giáo dục, lấy thân mình làm gương. Hơn nữa phải giáo hóa nhân dân, cho nên mới gọi là “thiên - địa - quân - thân - sư”. Vua cũng phải đóng vai của người thầy, vai của người cha, là cha mẹ của dân, là vị đạo sư tốt của dân. Thái Tông nói với các quan đại thần theo phụng sự ông, Tùy Dạng Đế ở nhiều chỗ tốt đều xây hành cung cho ông, cung điện rất lớn mà lại hay đi ra ngoài chơi, thường xuyên vui chơi, chẳng lo việc triều chính. Lúc ông muốn đi ra ngoài chơi phải cần rất nhiều người đi với ông, phải sắp đặt việc ăn, chỗ nghỉ cho ông. Hơn nữa, lúc đi ra ngoài chơi thì đường đi phải mở rộng mấy trăm bộ. Các vị xem, phải cần bao nhiêu người để mở đường? Sau đó dọc hai bên đường phải trồng rất nhiều cây cối, vậy phải cần bao nhiêu người đi trồng cây? Người dân không kham chịu nổi lượng công việc nhiều như vậy. Xây dựng một cung điện phải tốn bao nhiêu nhân lực, hơn nữa chẳng phải xây một ngày là xong, hễ xây là phải mấy năm. Dân chúng lầm than, đời sống người dân khó khăn, cuối cùng là nổi loạn.

Phía sau Hoàng đế Thái Tông nói đến “Đãi chí mạt niên”, đợi đến cuối đời nhà Tùy, “xích thổ nhất nhân, phi phục kỷ hữu”. Ông đã phóng túng như vậy, khắc nghiệt với dân chúng, cuối cùng vào cuối đời thì tình hình như thế nào? Một tấc đất cũng không phải là của nhà vua. “Xích thổ”, một miếng đất nhỏ như thế này cũng là của dân, chẳng phải là của vua, toàn bộ đều phản lại vua. Đây là do tự mình gây ra, tự làm tự chịu. Hơn nữa, cuối cùng là bị quan quân thuộc hạ giết. Hoàng đế Thái Tông nói: “Dĩ thử quán chi”, từ kinh nghiệm triều nhà Tùy mà xem. “Quảng cung thất, hiếu hành hạnh, cánh hữu hà ích”, xây dựng cung điện nhiều như vậy, thường xuyên đi ra ngoài du ngoạn, điều này tổn hại rất lớn đối với bản thân, đối với quốc gia. Ông nói đây là những điều mà ông thấy tận mắt, ông nghe tận tai, cho nên bản thân ông lấy đó làm tấm gương, chẳng dám tùy tiện đại sử dụng sức người, bắt nhân dân làm tôi tớ. Hơn nữa, phải để cho nhân dân an ổn, đời sống ổn định, tu dưỡng làm ăn. Ông sợ mất lòng dân, sợ dân tạo phản. Ông rất thận trọng trong việc lấy lòng dân. Đây chính là “tuấn vũ điêu tường”. Ông không xem trọng sự hưởng niềm vui cho cá nhân, có thể lo cho nhân dân.

Khổng Tử nói: “Đạo thiên thừa chi quốc, kính sự nhi tín, tiết dụng nhi ái nhân, sử nhân dĩ thời”. Chúng ta nhìn xem một vị vua, một vị lãnh đạo, điều quan trọng nhất là luôn luôn có tâm yêu kính, cung kính nhân dân. Muốn làm một việc gì cũng phải thận trọng mà cân nhắc, luôn luôn nghĩ đến người dân, nghĩ đến những người cấp dưới.

“Tiết dụng” chính là không phóng túng bản thân mình trong dục vọng, bởi vì là mồ hôi và xương máu của nhân dân. Đều là đồng tiền xương máu của dân thì làm sao có thể hoang phí như vậy chứ. Đây là câu thứ nhất.

Câu thứ hai, chúng ta cũng ôn tập lại một chút.

Phu lợi, bách vật chi sở sanh dã, thiên địa chi sở tải dã, nhi hữu chuyên chi, kỳ hại đa hỹ”.

Hiện nay, chúng ta nhắc nhở như thế này quá ít. Các vị xem, khi toàn thể nền kinh tế phát triển chỉ là kiếm tiền, rất nhiều người chẳng nghĩ đến việc đang phá hoại thiên nhiên trên toàn quả địa cầu, họ chẳng có thái độ tôn trọng trời đất vạn vật, trân quý nguồn tài nguyên quý báu. Cho nên, giả như có một người chủ xí nghiệp phá hoại thiên nhiên xơ xác tơi bời, thì người thầy giáo tiểu học của vị chủ xí nghiệp này phải tính một lỗi lớn, bởi vì tiểu học không có dạy. Cho nên, hồ sơ của tôi ở vua Diêm La không được tốt, cho nên phải lập công chuộc tội, có cơ hội thì phải nhanh chóng giao lưu với mọi người, đặc biệt là trẻ em về quan niệm tư tưởng yêu thương thiên nhiên.

Giống như lần này, từ ngày 14/7 đến ngày 19/7 “Đại chuyên doanh”, chương trình học như vậy nhất định phải để cho sinh viên học tập, thấu hiểu. Tương lai họ là người chủ, họ mới có thể dẫn dắt yêu thương người mẹ trái đất này. Bởi vì con người rất dễ bị chìm đắm trong phước báu. Con người hễ có phước đều cảm thấy những gì được hưởng là lẽ đương nhiên. Con người bỗng chốc có tiền, mỗi lần ăn cơm là ba - bốn chục món ăn.

Có một lần tôi đi ăn cơm. Ăn ở đâu xin không nói, bởi vì khi nói ra, ví dụ nói Đài Loan chúng ta, vậy là bà con Đài Loan có ý kiến với tôi. Giả như tôi nói Hải Nam, thì bà con Hải Nam lại có ý kiến với tôi. “Nhân tình bất khả phất”, thời đại này nói chuyện chẳng dễ. Hễ không chú ý, nói đến thì người ta không được vui. Nói thẳng ra, con người phải nên nghe lời khuyên của người khác, nhất định phải buông bỏ tâm yêu ghét xuống. Nghe những lời không vừa ý thì tâm sân giận nổi lên, nếu không yêu điên cuồng thì hận điên cuồng. Yêu điên cuồng chẳng ai có thể nói họ lời xấu nào, hận điên cuồng thì chẳng thấy được điểm tốt của họ. Mọi người xem, thời đại dân chủ tại sao hỗn loạn? Chẳng phải là những vị chính khách đã nắm chặt cái tâm thương ghét này của con người, ở đó làm mưa làm gió, đem hết thảy những phân biệt chấp trước treo lên. Thật sự là làm việc này. Vốn là phải dùng câu nói này, hình như có một chút không được nhã nhặn, chính là sanh con cũng chẳng sanh được dễ dàng. Thậm chí nói thẳng ra, phân hóa đoàn kết dân tộc thật sự là có báo ứng, là tiệt đường con cháu.

Nhưng hiện nay con người không biết nhân quả, chuyện gì cũng dám làm, chỉ cần thỏa mãn những lợi ích trước mắt của họ. Họ chẳng có cân nhắc những sự việc đó, thậm chí cảm thấy tài hùng biện của họ là giỏi, có thể khuấy động lên những sóng gió. Cho nên Khổng Tử nhắc nhở chúng ta: “Người có lời nói xảo quyệt, hoa hòe là người không có lòng tốt”. Nói chuyện làm cho mọi người càng lúc càng bất hòa, xảy ra xung đột, bảo đảm người đó có vấn đề. Phải bình tĩnh, xin đừng có đem sự chấp trước trong tâm của chúng ta ở nói đó nói “tốt, tốt, nói rất đúng!”. Ngôn ngữ phải ẩn ác dương thiện. Phải đem thị phi trình bày ra, không phải để đối lập. Phê bình như vậy thì không tốt.

Cho nên trong phước báu, con người rất dễ xem là điều đương nhiên, vừa có tiền thì tâm con người ta sẽ nghĩ: “Tiền tôi kiếm được, đương nhiên là tôi phải dùng”. Có đạo lý hay không? Một chút đạo lý cũng không có! Lấy của xã hội, dùng cho xã hội. Ngày nay nếu không có chính phủ thì chúng ta ở trong sự loạn lạc, làm sao các vị kiếm được tiền, làm sao các vị kinh doanh được? Ngày nay các ngành các nghề phối hợp, đời sống của chúng ta mới tiến bộ. Một ngành nghề trong đó đều có thượng - hạ lưu. Thậm chí chúng tôi dạy học trong trường, chúng tôi cũng phải phối hợp với nhân viên hành chánh. Phải có nhiều người như vậy cùng với nhau để thành tựu một công việc, làm sao có thể nói đó là công lao của chúng ta, đều là tiền do chúng ta kiếm được chứ! Nên nghĩ xã hội là một thể tương trợ lẫn nhau, tiền có được là sự tín nhiệm của xã hội đối với ta. Chúng ta chăm sóc tốt gia đình của mình, có dư ra thì chúng ta nên đi giúp những người khó khăn hoạn nạn, hoặc là đi giúp đỡ xã hội này. Hiện  nay đây là điều rất tối cần thiết, làm cho xã hội tốt đẹp hơn. Xã hội ở đâu cũng cần tiền, chúng ta nhìn mà chẳng thấy. Chúng ta kiếm tiền chỉ cho bản thân mình dùng là không được thỏa đáng. Cho nên con người đang hưởng phước báu, trong thuận cảnh thì đừng khởi tâm tham. Đây là công phu chân thật, điều này không phải dễ.

Thái Tông lúc nào cũng luôn nhắc nhở bản thân mình, nhắc nhở những người xung quanh ông. Có một lần Hoàng đế Thái Tông nói: “Con người nếu như lấy hạt minh châu đi ném chim se sẻ, có đáng tiếc hay  không?”. Rất đáng tiếc! Hạt minh châu thì quý hơn chim sẻ rất nhiều, rất là đáng tiếc. Tiếp tục Thái Tông nói đến tính mạng của con người thì càng có giá trị hơn hạt minh châu, nhưng mà nhìn thấy tiền tài châu báu, “xúc phạm pháp võng”, nhận của hối lội, vi phạm pháp luật, kết quả là tính mạng cũng không còn, vậy là có giống như đem hạt minh châu đi ném chim se sẻ không? Đem tính mạng để tham những thứ tài vật này, cuối cùng chẳng tham được, mà mạng cũng chẳng còn. Thật là mù quáng! Bởi vì minh châu là vật ngoài thân, còn không thể lấy để ném chim sẻ, thì làm sao có thể lấy sinh mạng quan trọng  này, làm sao có thể dùng cái sinh mạng quý báu như vậy để đổi lấy những của cải vật chất đó, để phá hủy cái sinh mạng này. Cho nên cũng khuyên những người thuộc cấp dưới phải hết sức trung thành, làm lợi ích cho nhân dân, thì bổng lộc của quốc gia sẽ như nước chảy thành sông để thành tựu gia đình của mình, chẳng còn lo âu về cuộc sống nữa. Nhất định không thể dùng tâm tham hối lộ để được giàu có. Việc làm này là cách sai lầm chôn đi sinh mạng. Thực tế thật đáng cười.

Tiếp theo là việc hiếm có. Hoàng đế Thái Tông nói: “Đế vương diệc nhiên”. Chúng ta xem trong “Trinh Quán Chánh Yếu”, Đường Thái Tông nói đạo lý xong luôn luôn là hồi quang phản chiếu. Lúc làm vua cũng là như vậy, “tứ tình phóng dật”, là sự phóng túng, nô dịch người dân chẳng có tiết độ; tin tưởng tiểu nhân, chẳng thân cận người ngay thẳng, quân thần trung thành.

“Hữu nhất ư thử, khỉ bất diệt vong”. Bốn chữ “hữu nhất ư thử” này chẳng biết là có phải lấy từ câu nói của Đại Vũ hay không? Hoàng đế Thái Tông rất hiếu học, đã dùng được “hữu nhất vu thử, vị hoặc phất vong”. Vừa nói đến phóng túng bản thân, nô dịch nhân dân, thân cận tiểu nhân, sơ viễn trung thần; chỉ cần có một điều thôi thì quốc gia có thể bị nguy hiểm rồi.

Tiếp tục ông lại nêu: “Tùy Dạng Vương xa xỉ tự hiền”, nhắc đến một điều quan trọng, đó là xa xỉ. Hơn nữa còn tự cao tự đại, tự cho mình là bậc hiền đức, chẳng cần ý kiến của hiền thần, cho nên vong quốc chi quân. Bên cạnh nhất định là có trung thần, nhất định có trung thần, không nghe thì sẽ mất nước. Hơn nữa: “Thân tử thất chi thủ, diệc vi khả tiếu”, bị thần hạ, chính là chết dưới tay của kẻ thất phu. Kết cục thật là bi thảm.

Chúng ta tiếp tục xem câu thứ ba trong “Hán Thư”. Trước tiên chúng ta cùng nhau đọc một lần.

Tự thành khang dĩ lai, cơ thả thiên tuế, dục vi trị giả thậm chúng, nhiên nhi thái bình bất phục hưng giả, hà dã, dĩ kỳ xả pháp độ, nhi nhậm tư ý, xa xỉ hành nhi nhân nghĩa phế dã”.

Đoạn văn này, chúng ta xem từ trên mặt văn tự. Thành khang chi trị là sự hưng thịnh của đời nhà Chu, Chu Thành Vương cùng với Chu Khang Vương. Sự hưng thịnh này đạt tới mức độ nào? Trong ngục tù chẳng có phạm nhân. Sau đó thì những dụng cụ dùng để hành hình mấy chục năm chẳng dùng đến nên bị rỉ sét, đều hư hỏng hết. Mọi người có hướng đến xã hội như vậy hay không? Phải nên hướng. Bắt đầu làm từ nơi địa phương của mình, tùy phận tùy lực mà làm.

“Cơ thả thiên tuế”. Đoạn này là ở vào thời nhà Hán, có một vị đại thần tên là Cống Vũ, lúc đó khuyên Hán Nguyên Đế đã nói một đoạn. Triều nhà Hán cách Thành Khang lúc đó đã một ngàn năm, có vị hoàng đế nào mà không muốn đại trị thiên hạ? Đều có cái tâm này.“Dục vi trị giả thậm chúng”, không ít hoàng đế có cái tâm này. “Nhiên nhi thái bình bất phục hưng giả”, nhưng mà thời gian một ngàn năm này chẳng có xuất hiện thêm một đời nào hưng thạnh như vậy. Vì sao vậy? “Hà dã”, cũng là có một cái tâm như vậy, tại vì sao làm không được? Then chốt ở đây chỉ ra.

“Dĩ kỳ xả pháp độ nhi nhậm tư ý”, vứt bỏ chế độ pháp lệnh lời giáo huấn của tổ tiên. Những phương pháp tốt này có thể làm cho quốc gia có trật tự, gồm có chế định lễ nhạc. Những chế độ này rất tốt. Họ không dùng “nhậm tư ý”, nghĩa là phóng túng bản thân mình trong sự ham muốn cá nhân, vì như vậy là phiền phức rồi, trên làm dưới theo. Hoàng đế phóng túng trong ham muốn cá nhân, thì nếp sống của cả quốc gia nhất định sẽ suy đồi.

Tiếp tục chúng ta xem: “Xa xỉ hạnh”. Chữ “hạnh” này chính là cả phong khí khởi dậy, “xa xỉ hạnh” mà nhân nghĩa thì suy tàn rồi. Chữ “phế” này chính là phong khí xa xỉ nổi lên, chẳng còn ai nói về nhân nghĩa nữa, đều nói về danh lợi.  Chúng ta xem trong giới tham này đều nhấn mạnh phải công phu “cách vật”, đặc biệt là người lãnh đạo. Cho nên trong “Đại học” nói: “Vật cách nhi hậu tri chí”, phải nghĩ tri chí, phải nghĩ có trí huệ, không loại trừ dục vọng thì làm chẳng được. Thậm chí những người cấp dưới chính là “thượng hữu sở hiếu, hạ tất thậm yên”, càng lúc càng phóng túng trong dục vọng. “Dục lệnh trí mê” thì chẳng thể chí tri, cũng chẳng thành ý, không chánh tâm. Một người khi thỏa mãn được dục vọng thì họ chẳng khởi được thành ý, tâm đã bị thiên lệch, càng chẳng nói được là thân có thể tu.

Cống Vũ đương thời là Nguyên Đế vừa mới lên ngôi vua, cho nên cơ hội này cũng rất tốt. “Thận ư thủy”, Hoàng đế vừa lên ngôi, trung thần nhanh chóng khuyên Hoàng đế những điều quan trọng nhất làm thế nào để lập lại trí huệ đại trị cho quốc gia. Bởi vì hoàng đế mới lên ngôi cũng có một tấm lòng, vừa bắt đầu là ngài gián đại phu, là một vị có tri thức chuyên môn khuyên ngăn hoàng đế. Thật là hiếm có.

“Hư kỉ vấn dĩ chánh sự”. Hoàng đế rất khiêm tốn để thỉnh giáo quan gián nghị việc triều chính. Toàn bộ câu trả lời của Cống Vũ cũng không tách rời trọng điểm mà chúng ta vừa mới nói, chính là không thể xả pháp độ nhậm tư ý, không nên xa xỉ, phải trọng nhân nghĩa. Hơn nữa, các vị đại thần thật sự là hiểu biết sâu rộng mới thuyết phục, khuyên ngăn được Hoàng đế. Vừa bắt đầu liền nhắc đến, vào lúc đó, đúng lúc toàn bộ thiên hạ bị mất mùa, thu hoạch chẳng được tốt, cho nên rất nhiều địa phương vô cùng khốn quẫn. Trước đó, chỉ cần thu hoạch không tốt, Hoàng đế biết phải phản tỉnh bản thân mình. Đây là ông trời nhắc nhở Hoàng đế. Cống Vũ nói đến thời cổ đại, khoản chi tiêu trong những cung điện này có chừng mực, không thể tiêu xài phung phí, cung nữ thì không thể vượt quá chín người.

Các vị xem, thời xưa cung nữ không vượt quá chín người, hoàng đế thời cận đại có bao nhiêu? Cho nên ở đằng sau bị rối loạn, xảy ra chuyện là do chẳng nghe lời của người xưa. Nuôi ngựa thì không vượt quá tám con, vách tường thì không nên trang trí lộng lẫy, phẩm vật bằng gỗ thì không điêu khắc quá tinh xảo, bởi vì làm như vậy sẽ tốn rất nhiều tiền. Xe để đi, đồ dùng thì không trang trí, đều phải có chừng mực, không nên lãng phí xa hoa. Sân nhà cũng không vượt quá mười dặm. Hơn nữa, sống gần gũi với dân, có lúc còn mở rộng sân nhà để người dân có thể qua lại. Cuộc sống của họ rất đơn giản, tín nhiệm người tài đức. Thu thuế cũng rất nhẹ, người dân làm việc công ích cho quốc gia mỗi năm không quá ba ngày. Cho nên mọi người sống đầy đủ sung túc nên vô cùng ca ngợi nền chính trị nhân từ của Hoàng đế. Đây là tình hình thời cổ đại.

Đọc đến chỗ này, tôi chẳng thể làm nổi chức vụ gián đại phu này. Người ta học rộng hiểu sâu, chúng tôi thì “nhỏ chẳng chịu cố gắng, đến già thì chẳng được gì”. Con cái của người ta thì có hy vọng. Các vị cố gắng cùng học với con cái, sau này con cái của các vị hễ mở miệng là “vua Nghiêu đã nói điều này, vua Thuấn đã nói điều này”, những kinh nghiệm quan trọng nhiều đời có thể được nêu ra.

Đương nhiên vào thời xa xưa, số dân chẳng có nhiều, đến đời nhà Hán thì dân số đông hơn. Cho nên các vị phải biết tùy cơ ứng biến, không thể “thưa hoàng thượng, cung nữ không nên vượt quá chín người ạ!”. Các vị nói như vậy, Hoàng đế sẽ chẳng chấp nhận, phải có sự phù hợp với tình hình thực tế cùng tiến bộ với thời đại. Ông đã nhắc đến Hán Cao Tổ, Hán văn Đế, Hán Cảnh Đế, các ngài có thể tuân thủ việc tiết kiệm của thời xưa, cung nữ không quá mười người, nuôi ngựa khoảng 100 con. Các ngài còn tăng thêm, nhưng mà có giới hạn. Quần áo của Hiếu Văn hoàng đế mặc thì rất giản dị, tất cả đồ dùng của ông đều có hạn chế về đồ trang sức. Ngược lại, đời sau trở nên rất xa xỉ. Sau này quan quân, nhân dân đều bắt chước theo việc xa xỉ này. Cho nên ông nói: “Y phục loạn ư chủ thượng”, mặc quần áo quá lộng lẫy là bắt đầu từ Hoàng đế mặc.

Điều này phải có lòng can đảm và sự sáng suốt. Nói lời chân thật với Hoàng đế, hơn nữa, nói tổ tiên của ông. Đương nhiên ông một lòng vì quốc gia, Hoàng đế phải chăm sóc những trung thần. Bởi vì những điều hiện thực bày ra ở trước mắt trước đó chẳng lâu, là tình hình mấy mươi năm trước, phải nhắc lại.

Ông có nói đến đại phu được hưởng cuộc sống vượt trội hơn chư hầu, chư hầu được hưởng vượt trội hơn thiên tử, thiên tử được hưởng vượt trội hơn thiên đạo, cả một quốc gia vô cùng xa xỉ. Cho nên khuyên hoàng đế các loại chi phí chi tiêu đều phải tiết chế. Quần áo, xe ngựa đã vượt quá mức. Trong đó còn nhắc đến người dân hiện thời bị đói đến nỗi người ăn thịt người, nhưng ngựa của hoàng đế nuôi thì mỗi ngày đều ăn lương thực rất ngon, ăn đến mức độ nào? Ăn quá no nê, ngựa ăn quá no đến nỗi phát cáu, cho nên phải luôn dắt chúng ra ngoài tản bộ để giải khuây. Người dân thì chết đói, còn ngựa của hoàng đế nuôi thì thọ hưởng đến phát cáu.

Tiếp sau đó là một đoạn (điều này cũng là xác thực, là có chánh khí của trời đất) báo với Hoàng đế: “Vương giả thụ mệnh ư thiên”. Thiên tử đại diện cho ông trời để bảo vệ người dân. “Thụ mệnh ư thiên”, “vi dân phụ mẫu, cố đương nhiên nhược thử hồ”, là cha mẹ của dân làm sao có thể làm cho quốc gia, nhân dân trở thành như vậy. “Thiên bất kiến tà”, không lẽ trời không nhìn thấy sao. Những lời này là điểm trọng yếu.

Tiếp tục nói đến: “Võ Đế Thời”, nhắc đến hán Võ Đế. Công lao và sự nghiệp của Hán Võ Đế rất to lớn, nhưng có lỗi lầm hay không? Có! Nhắc đến lúc Võ Đế ham mê mỹ nữ, ở hậu cung có hàng ngàn người. Sau đó đến Chiêu Đế (sau đời Võ đế là Chiêu Đế) cũng rất xa xỉ, rất nhiều đồ vật quý giá đều phải chôn theo vào mộ phần. Thậm chí là sau khi chết, lăng mộ của vua chúa, lăng mộ của Hoàng đế có rất nhiều cung nữ ở đó để canh giữ linh cữu của tiên vương. Như vậy lãng phí biết bao nhiêu sức người. Hơn nữa, những thiếu nữ này phần nhiều vẫn chưa kết hôn, đều là con gái của người ta. Chúng ta thử nghĩ xem, giả như cha mẹ của các cô biết được thì sẽ như thế nào? Tuổi thanh xuân của con gái mình phải trải qua ở nơi mộ phần. Nói đến tình huống này, tình trạng xa xỉ của người dân cũng rất nghiêm trọng.

Sau khi ông nói xong, nêu lên một số kiến nghị với Hoàng đế. Hoàng đế thật sự làm theo. Tuy là không làm theo hoàn toàn, nhưng mà rất nhiều hạng mục đã được làm, gồm có việc khuyên Hoàng đế nên đem đất đai của ngài cho người dân canh tác. Hán Nguyên Đế không đơn giản, ông cũng đã làm. Trong quá trình khuyên ngăn, những chỗ đáng quý là không ngừng nhắc nhở điều chánh niệm cho Hoàng đế, hơn nữa vẫn kỳ vọng Hoàng đế nên làm Thánh vương.

Các vị xem, trong lời nói này còn nhắc đến hiện thời thiên hạ vẫn bị đói, chúng ta làm sao mà không nhanh chóng đem tài sản đi cứu nhân dân? Làm như vậy mới hợp với lòng trời.

“Thiên sanh thánh nhân, cái vi vạn dân”, trời sanh thánh nhân là để chăm sóc người dân.

“Phi độc sử ngu lạc nhi dĩ dã”, không phải để cho thiên tử vui chơi hưởng lạc.

“Đương nhân bất nhượng”, kỳ vọng Hán Nguyên Đế  chẳng chểnh mảng lo việc nhân đức.

Sau đó là: “Khả dĩ thánh tâm tham chư thiên địa”, “thiên - địa - nhân” tam tài, “quý chi vãng cổ”. Những việc hiện nay Hoàng đế đã làm, công lao và thành tích tốt đẹp như cổ Thánh tiên Vương. Điều này hy vọng Hoàng đế. Ở đây cũng nhắc đến Hán Võ Đế vào lúc đó. Bởi vì có công lao và sự nghiệp, nên sau này thích làm lớn, thích công to. Cuối cùng toàn cả quốc gia mở cửa. Chính sách tiếp theo là gì? Người có tiền có thể chuộc tội, người có tiền có thể mua chức làm quan. Chính sách này chẳng biết cẩn thận khi mới bắt đầu, chính sách như vậy khiến trong thoáng chốc toàn cả nếp sống của xã hội tiền được tôn quý nhất. Làm sao mà các vị biết hết rồi? Các vị đối với xã hội hiện nay rất nhạy cảm. Hiện nay người nào là người thành công? Tiền nhiều là thành công à? Điều này chẳng phải là sự phán đoán thỏa đáng.

Sau khi Cống Vũ được thăng chức quan lộc đại phu thì khuyên hoàng đế một lần nữa, chỉ ra những sai lầm vô cùng nghiêm trọng của Võ Đế lúc bấy giờ. Cho nên người dân đã nói: “Hiếu để làm gì? Có tiền mới vẻ vang”.

“Hà dĩ hiếu để vi”, hiếu để làm gì chứ?

“Tài đa nhi quang vinh”.

“Hà dĩ lễ nghĩa vi”, hành lễ nghĩa để làm gì chứ?

“Sử thư nhi sĩ quan”, nghĩa là những người biết vẽ vời, những người có khả năng dối trên lừa dưới, có thể chết mà nói thành sống, những người như vậy được làm quan.

“Hà dĩ cẩn thận vi”, cần gì phải thận trọng lời nói việc làm.

“Dũng mãnh nhi lâm quan”, nghĩa là những người có võ công, rất khỏe, thậm chí là những người cậy thế cậy quyền lại được làm quan. Cho nên phong khí đã bị lệch lạc rồi, phải hướng dẫn cho đúng lại, phải trở lại thời tuyển chọn người hiền tài, hơn nữa, quyết định không thể dùng tiền để chuộc tội. Đây là những cách làm sai lầm. Quá trình trung thần khuyên ngăn thật sự là từ tất cả lịch sử để nhắc nhở Hoàng đế.

Tiết học này đến đây được rồi! Cám ơn mọi người!

A Di Đà Phật!

Chia sẻ học tập “Quần Thư Trị Yếu 360” (tập 9 và 10)

Giảng ngày 28 tháng 05 năm 2011 tại Trung tâm Giáo dục Văn hóa Trung Hoa Malaysia.

Người giảng: Thầy giáo Thái Lễ Húc

Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ, Mộ Tịnh Cư Sĩ, Phước Tịnh Cư Sĩ

 

 

 

 

 

 

 

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 51


Hôm nayHôm nay : 1252

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 185024

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 11427592

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?