Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Quần thư trị yếu 360

Quần Thư Trị Yếu 360 - Thầy Thái Lễ Húc giảng (Tập 7 - 8)

Thứ ba - 25/04/2017 22:18

TU THÂN - TỀ GIA - TRỊ QUỐC - BÌNH THIÊN HẠ

Kính thưa các vị trưởng bối, các vị đồng học, xin chào mọi người!

Chúng ta chính thức bắt đầu học tập 360 câu này. Đầu tiên là từ cương mục quan trọng “quân đạo”.

  1. Cương mục thứ nhất, “Quân Đạo”

“Quân” là chỉ quốc vương, nói rộng ra, những người lãnh đạo đều gọi là quân. Vậy trong gia đình có quân hay không? Gia tộc có quân hay không? Chúng ta thấy trong “Gia Nhân Quái” của “Kinh Dịch” trực tiếp chỉ ra: “Gia nhân hữu nghiêm quân yên, phụ mẫu chi vị dã”. Một vị quân oai nghiêm trong gia đình chính là cha và mẹ. Một gia đình phải có người dẫn đầu, hơn nữa, người đó phải oai nghiêm, có thể dẫn dắt lèo lái cả gia đình con cái.

“Ân oai bính thí”. Trong một  gia đình, cha mẹ chẳng oai nghiêm, đặc biệt là “phụ nghiêm mẫu từ”, người cha chẳng oai nghiêm thì tập khí của con cái rất khó hàng phục được, chúng sẽ ngỗ nghịch, chúng chẳng giữ phép tắc. Bản thân chúng ta hãy nhớ lại giai đoạn trưởng thành, chỉ cần có cha mẹ ngồi ở đó, chúng ta chẳng dám rối loạn. Có một số việc giải quyết chưa được ổn thỏa, chỉ cần người cha liếc mắt một chút, lập tức sẽ ổn ngay. Cha nghiêm, người cha ở đây chính là quân.

Trước đây là đại gia tộc, một - hai trăm người cùng sống chung với nhau. Người có vai vế cao nhất, công nhận người có đức hạnh, có địa vị nhất đứng đầu của một gia tộc là quân. Cho nên, một người mà thái độ của anh ấy tôn trọng lãnh đạo, sự thật là đã được bồi dưỡng từ trong gia đình. Cả một gia tộc lớn đều có thái độ này. Vấn đề hiện nay là đại gia tộc đã ít rồi, hầu như không còn nhìn thấy nữa. Sự đoàn kết của cả đại gia tộc, phép tắc mọi người chung sống với nhau, trí huệ này có khi trẻ em chưa chắc đã học được, gồm cả hiếu đạo rất là khó học. Ông bà nội không có ở bên cạnh, giả như cha mẹ rất cưng chìu, thì đứa trẻ không thể học được, như vậy làm sao tôn trọng bậc trưởng thượng, làm sao để ngoan ngoãn vâng lời bậc trưởng thượng! Hiếu đễ chẳng học được thì cái gốc làm người của chúng không có. Giá trị thâm sâu của cả một nền văn hóa cổ, thế hệ này của chúng ta nhất định phải thực hiện cho rõ ràng thì mới có thể truyền lại đời sau. Có lúc cũng phải nghĩ, người ngoại quốc họ nghiên cứu còn kỹ càng hơn chúng ta.

Lúc trước chúng tôi đến Đại học Cambridge, nhìn thấy những lớp sinh viên tiến sĩ viết luận văn về Mạnh Tử, viết luận văn về Vương Duy nói tiếng Bắc Kinh rất lưu loát. Họ nói còn chuẩn hơn tôi nữa. Tôi ngồi bên dưới mà cảm thấy hổ thẹn. Hơn nữa, những nhà khoa học ở Âu Châu, trước khi đại chiến lần hai đã có nghiên cứu vì sao bốn nền văn minh cổ đại chỉ còn tồn tại duy nhất nền văn minh cổ Trung Hoa, đạo lý là ở đâu? Họ đi sâu nghiên cứu mới phát hiện ra là do dân tộc Trung Hoa xem trọng giáo dục gia đình. Xem trọng việc giáo dục gia đình mới có thể có được con hiền cháu thảo, mới có được những vị trung thần cho quốc gia. Điều logic này vừa suy ra đã hiểu giáo dục là quan trọng nhất. Hơn nữa, tổ tiên của chúng ta đã giáo dục cho chúng ta bắt đầu dạy từ lúc còn ở trong thai cho đến ba tuổi. Ba năm một ngàn ngày là học tập theo hành nghi của cha mẹ. Cái gốc đức hạnh của họ đã được cắm sâu.

Hiện nay, cái gốc đó của chúng ta đã lơ là mất rồi, đến khi lớn lên thì xảy ra vấn đề rất phiền phức, giải quyết chẳng dễ dàng. Vì vậy, phần văn hóa tốt bản thân chúng ta phải biết rõ, sau này sẽ do chúng ta đảm nhiệm công việc này, do chúng ta dần dần khôi phục truyền thống tốt đẹp này.

“Bát loạn phản chánh, hiển chánh phá tà”. Bắt đầu làm từ nơi bản thân mình. Có nhiều người rất đáng ngưỡng mộ, sau khi học xong liền đón cha chồng mẹ chồng về nhà, cùng chung sống với nhau. Đây là những người có sự quyết tâm. Muốn thành tựu công việc mà không có sự quyết tâm, chẳng bền lòng thì làm chẳng thành tựu. Phải chân thật làm mới được. Vì vậy, chữ quân này từ nơi gia đình, gia tộc. Rộng ra là đoàn thể, lãnh đạo đều được chứa trong chữ quân này. Tổ tiên chúng ta vô cùng tôn sùng ba nhân vật là “quân - thân - sư”. Ba nhân vật này đối với gia đình, đối với xã hội, quốc gia có sự ảnh hưởng đặc biệt to lớn, cho nên trước đây trong số bài vị của tổ tiên có thờ một bài vị thiên địa “quân - thân - sư”. Đương nhiên “quân - thân - sư” cũng là làm theo sự vô cầu lợi của thiên địa, đức hạnh của thiên địa, đến để đóng tròn vai của nhân vật đó. Xã hội động loạn nhất định bắt đầu động loạn từ nơi “quân - thân - sư”. Bậc trưởng thượng không làm tốt “quân - thân - sư” thì người ở dưới chẳng tôn kính “quân - thân - sư”, quốc gia này sẽ loạn.

“Hiếu Kinh” dạy chúng ta: “Yếu quân giả vô thượng”, không tôn trọng quân; “phi thánh nhân giả vô pháp”, không tôn trọng bậc Tiên sư Thánh Hiền; “phi hiếu giả vô thân”, chẳng kính trọng cha mẹ; “thử đại loạn chi đạo dã”. Chúng ta hiện nay nhìn thấy những hiện tượng trong gia đình, xã hội, hai - ba thế hệ không có học văn hóa truyền thống.

Không nên yêu cầu bất kỳ người nào. Ai học trước thì tự yêu cầu bản thân mình.

“Chánh kỷ nhi bất cầu ư nhân, tắc vô oán”. Chấn chỉnh mình để cảm hóa người khác. Hiện nay chẳng phải vua đi yêu cầu quan, thầy đi yêu cầu trò, cha đi yêu cầu con sao? Không có cách nào yêu cầu, bởi vì họ không có nền tảng. Phải là những người đã học. Người trưởng thượng trước tiên phải làm tốt. Làm tốt rồi thì tự nhiên đức hạnh đó cảm hóa được người khác, tiếp theo là khơi dậy thiện căn của họ.

Hiện nay rất nhiều vị lãnh đạo nói thuộc hạ của họ rất khó dẫn dắt, giáo viên nói học trò chẳng nghe lời, cha mẹ nói con cái khó dạy bảo. Những âm thanh này không nên nói ra nữa. Bởi vì oán giận đối sự thì chẳng giúp đỡ được gì, hơn nữa, càng oán giận thì càng thấy không có ai làm tốt, chẳng nâng cao được chính mình. Thấy ai cũng chẳng được tốt là trong tâm vẫn còn oán giận, trong tâm còn đầy sự oán giận. Không còn ở trong đạo nữa thì làm sao có thể giúp đỡ được ai. Hơn nữa, vừa nổi giận, vừa oán giận thì lửa thiêu rừng công đức, hoàn toàn bị đốt hết rồi. Cho nên, ba nhân vật “quân - thân - sư” này phải diễn cho tròn vai, cũng phải quán triệt ba tinh thần này thì mới có thể diễn tốt được.

Là những tinh thần nào vậy?

“Quân” là lấy thân làm gương, xung phong đi đầu, thậm chí là biết được cách dùng người. Thái độ yêu cầu bản thân mình trước, đây là “quân đạo”. Người lãnh đạo phải biết áp dụng tinh thần của “thân” thì họ hiểu được quân nhân thần trung, yêu thương cấp dưới giống như đối xử với người trong gia đình vậy. Đây là tinh thần của “thân”.

“Sư” là dẫn đạo, giáo đạo, chỉ đạo, nắm bắt cơ hội nói rõ cho họ đạo lý làm người, làm việc. Có những lúc bình thường cũng phải nói. Có thể con cái, học trò, thuộc hạ chẳng thích nói đi nói lại, nhưng khi họ gặp đúng sự việc thì ấn tượng đặc biệt sâu, các vị nói với họ thì cả cuộc đời họ chẳng quên. Cho nên, nhân vật “sư” này cũng thức tỉnh chúng ta không ngừng tăng cường tri thức đạo đức cho chính mình. Trí tuệ phương tiện khéo léo mới có thể diễn tròn tinh thần “sư” này. Cho nên, “quân đạo” hoàn toàn không phải là nói nhân vật chính trị mới nên học. Chúng ta là phụ huynh, lãnh đạo của đơn vị, hoặc là giáo viên dạy học đều phải tuân thủ “quân đạo” thì mới có thể diễn tròn vai của chúng ta.

Thứ nhất là “tu thân”.

Điều thứ nhất trong “tu thân” trong “Thượng Thư” có nói đến “Ngũ Tử Chi Ca” của “Hạ Thư”. Nội dung của nó nói đến “huấn hữu chi, nội tác sắc ngoại tác cầm hoang, cam tửu thị âm, tuấn vũ điêu tường, hữu nhất vu thử, vị hoặc phất vong”. Chúng tôi vừa nói đến lời tựa của Ngụy Thừa tướng có nhấn mạnh quyển sách này. Quyển sách này đối với cả sự việc thủy chung xưa nay đầu đuôi ngọn ngành được thu thập rất tốt. Cho nên, câu Kinh văn này làm cho chúng ta quay về với lịch sử, sự phát triển của cả sự kiện, chúng ta hãy hiểu rõ một chút. Câu này bắt đầu từ hàng cuối cùng  trang hai mươi chín, quyển thứ nhất của Quần Thư Trị Yếu.

Chúng ta nên ôn lại lịch sử các triều đại một chút.

Đời nhà Hạ, Nghiêu, Thuấn, Hạ, Thương, Chu, Tần, Hán (thời Tam Quốc), Ngụy, Tấn, Nam Bắc triều, Tùy, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh. Đây là thứ tự các triều đại của cả quá trình lịch sử mà Thái Khang của đời nhà Hạ. Chúng ta đọc Quần Thư Trị Yếu, chúng ta rất cám ơn Ngụy Thừa tướng cùng với những vị đại thần đã biên tập. Các Ngài ngoài việc biên tập nguyên văn hoàn chỉnh còn đưa thêm phần chú giải rất dễ đọc, dễ hiểu. Chúng ta xem cả sự kiện lịch sử “Thái Khang thi vị dĩ dật dự”. 

Phía dưới nói đến Thái Khang là cháu của vua Đại Vũ, chính là con của dòng họ Khải. Đại Vũ chuyển sang họ Khải, đây là con của dòng họ Khải. Có một câu thành ngữ: “Thi vị tố xan”, câu thành ngữ này rất thường dùng (hình như câu thành ngữ này ở Malaysia rất ít dùng), các vị xem dịch câu chuyện đầu tiên là đã có. “Thi vị tố xan” có nghĩa là chịu trách nhiệm chính của công việc mà chẳng nghiêm túc làm, tiền lương cho viên chức chính phủ, ăn không bổng lộc của quốc gia. Ở đây dùng từ “thi vị” là đại diện cho việc họ không có trách nhiệm với nhiệm vụ, cho nên họ ở trên ngôi thiên tử mà chưa tận hết bổn phận, hơn nữa còn “dĩ dật dự”. Hai chữ “dật dự” này; “dật” chính là an nhàn, phóng dật; “dự” chính là ham thích vui chơi, chẳng cố gắng hết sức làm thiên tử. “Diệt quyết đức”, nghĩa là đức hạnh của họ càng lúc càng kém, làm mất đi đức hạnh của họ. “Lê dân hàm nhị”; chữ “nhị” này nghĩa là nhị tâm, tâm bất đồng với thiên tử. Nhân dân đã hai tâm thì thiên tử phải nên phản tỉnh, chắc chắn là đã để cho người dân quá khốn khổ mới bị như vậy. Vì vậy, trong chú giải nói: “Quân tang kỳ đức, tắc chúng dân nhị tâm dã”. Thế nên, trong quan hệ ngũ luân chẳng phải yêu cầu đối phương nên đối với chúng ta như thế nào, luân thường cũng không yêu cầu. Luân thường là sự chiêu cảm tự nhiên. Nếu có yêu cầu đó là do ngã chấp của chúng ta quá nặng, khống chế dục vọng quá nặng, luôn yêu cầu người khác. Nếu họ nhân từ thì chiêu cảm được lòng trung thành của người dân.

“Lê dân hàm nhị, nãi bàn du vô độ”. Người dân chẳng tín nhiệm họ, họ vẫn chưa tỉnh ngộ. “Bàn du”, mọi người có cảm giác quen thuộc không? Sao các vị không thuộc một câu để cho tôi vui một  chút. “Lạc bàng du, tắc tư tam khu dĩ vi độ”.

Gián ngôn của Thừa tướng Ngụy Trưng viết cho Đường Thái Tông, “gián Thái Tông thập tư sớ”, rất đặc sắc. Một nhà chính trị, một nhà lãnh đạo tuân theo mười điều khuyến cáo này của Ngụy Thừa tướng thì tuyệt đối sẽ lãnh đạo tốt. Đây là văn chương thiên cổ nên cố gắng lãnh thọ, cố gắng học tập. Tiến thêm một bước là thực hiện, sẽ được lợi ích to lớn.

Thái Khang Ngài Bàng Du chính là: “Bàn lạc du dật”. “Vô độ” chính là chẳng biết tiết chế. “Tam khu dĩ vi độ” nghĩa là một năm ra ngoài đi săn ba lần là do tập quán, không thể nhiều hơn nữa. Nếu nhiều hơn thì là ham thú vui chơi mất cả ý chí. Cổ nhân đặt ra những tập quán này đều có ý nghĩa quan trọng ở trong đó.

Tiếp theo nói đến “điền”. Chữ “điền” này thật ra chính là săn bắn, chữ này đọc là “điền”. “Điền vu hữu lạc chi biểu”. Họ săn bắn ở  trong lưu vực của sông Lạc. “Thập tuần phất phản”; chữ “tuần” này là chỉ cho mười ngày, thập tuần nghĩa là vượt quá 100 ngày; khoảng 100 ngày vui quên đường về, chẳng biết trở về làm việc, tận bổn phận của họ.

“Hữu Cùng hậu nghệ, nhân dân phất nhẫn, cự vu hà”. “Hữu Cùng” là tên của quốc gia. Hữu cùng thị, hậu nghệ. “Hậu nghệ” là chư hầu của một phương. Bên dưới thiên tử là chư hầu bốn phương quy phục, họ cũng là người lãnh đạo của một nước chư hầu. “Cự Thái Khang ư  hà” nghĩa là Thái Khang săn bắn ở nơi đó, họ bố trí binh quân đội hùng mạnh ở bờ phía bắc sông Hoàng Hà để cho Thái Khang không quay về thủ đô được, nghĩa là họ đang mưu cầu quyền lực. Đây cũng là tự bản thân họ cảm thấy hết thảy lòng dân đều không hướng theo ông. “Hậu nghệ” mới dám làm như vậy.

“Quyết đệ ngũ nhân”. Thái Khang có năm người em trai.

“Ngự kỳ mẫu dĩ tùng”. Chữ “ngự” này nghĩa là phụng dưỡng cha mẹ của họ. Họ cùng đi với Thái Khang, kết quả là “sĩ vu lạc chi nhuế”. Chữ “sĩ” này nghĩa là chờ đợi, năm anh em của Thái Khang ở đoạn quanh co của sông Lạc Hà. Chữ “nhuế” này có nghĩa là đoạn quanh co, ở đó để chờ đợi nhưng Thái Khang chưa trở lại. Cho nên: “Ngũ tử hàm oán”. Nghĩa là năm anh em cả thảy đều oán trách ông ấy. Vì sao vậy? Oán trách ông ấy mãi vui chơi mà quên mất chuyện quốc gia.

“Thuật Đại Vũ chi giới dĩ tác ca”. Phần chú giải bên dưới có nhắc đến “thuật” nghĩa làm theo, làm theo ông nội của họ. Lời giáo huấn của tổ tiên sau đó làm thành bài ca, cho nên đời sau gọi là “ngũ tử chi ca”. Xin lỗi là tôi chưa học được, có ai hát được bài đó không, có thể giới thiệu cho mọi người nghe một chút?

“Ngũ tử chi ca” này nhắc đến: “Kỳ nhất viết, dân duy bang bổn, bổn cố bang ninh, {ngôn nhân quân đương cố dân dĩ an quốc dã}”. Là vua thì phải an định lòng dân thì quốc gia mới phát triển tốt. Nhân dân bá tánh là nền tảng của quốc gia. “Bang bổn”, bổn chính là nền tảng, là nền tảng của quốc gia. Nền tảng có ổn định thì quốc gia mới hưng thịnh. “Bổn cố bang ninh”, mới có thể được ổn định. Tâm của người dân không cùng với nhà vua thì quốc gia đó có lúc sẽ bị diệt vong. Chúng ta thấy, đây là lời giáo huấn của Đại Vũ. Tấm lòng của ông ấy lúc nào cũng xem trọng người dân, hơn nữa, tôn trọng nhân dân. Đại Vũ đã nói: “Dư thị thiên hạ ngu phu ngu phụ, nhất năng thắng dư”. Đại Vũ nói, ông xem mỗi người nam người nữ trong thiên hạ đều vượt trội hơn bản thân ông, đều hơn hẳn bản thân của ông. Điều này được biểu hiện ra ông kính nể, tôn kính, xem trọng hết thảy nhân dân, ông không có xem thường họ. Ông chẳng làm hại nhân dân, nô dịch nhân dân ông tuyệt đối chẳng làm. Ông rất tôn trọng nhân dân, cho nên Đại Vũ mới được lòng dân. “Yêu thương người thì thường được người yêu thương lại. Kính trọng người thì thường được người kính trọng lại, giúp đỡ người thì thường được người giúp đỡ lại”. Oán hận người, … đây là các vị nói nhé! Bởi vì chúng ta học Quần Thư Trị Yếu phải nắm bắt tinh thần học một biết mười.

Câu nói tiếp theo cũng rất là sâu sắc. “Oán khỉ khí tại minh, bất kiến thị đồ {bất kiến thị mưu, bị kỳ vi dã”. Nghĩa là nói oán hận đâu có đợi đến quá rõ ràng thì bạn mới chú ý, đến lúc quá nổi bật thì các vị xoay chuyển không nổi. Oán trách, oán giận chẳng nên đợi đến quá nổi bật, quá nghiêm trọng, phải “bất kiến thị đồ”, lúc chưa nổi bật, chưa nhìn thấy được thì quý vị vẫn có thể cảm giác được. Cái từ “thủ” này là gì? Nghĩa là biết được mà nhanh chóng sửa đổi bản thân mình, nhanh chóng thực hiện phương sách tốt hơn để thu phục lòng dân. Người lãnh đạo phải như vậy.

Thật ra mỗi duyên tổ chức trong cuộc đời của chúng ta đều là như vậy, đâu có đợi đến cái duyên phận này mà đối mặt đứng nhìn, đều phải ra tay đánh đập. Chúng tôi mới nói: “Các vị tức giận điều gì vậy, tôi đã làm điều gì không đúng phải không?. Họ thì tức giận muốn chết, chúng ta chẳng biết đã đắc tội với họ ở chỗ nào! Điều này thì chẳng quá mẫn cảm. Chủ nghĩa công lợi hiện nay chạy theo danh lợi đến cuối cùng thì mất hết lí trí. Dắt cả đứa con đến đồn cảnh sát: “Con của tôi làm sao lại như thế này, nó rất ngoan mà”. Đúng vậy! Mấy chữ này cảnh giác chúng ta. Người xưa vì sao có được trí huệ? Vì họ nhìn thấy rõ điều sắp xảy ra nên ngăn chặn ngay từ đầu. Hiện nay con người bị danh lợi làm mờ mắt, hậu tri hậu giác, đối với việc chăm sóc bản thân mình, chăm sóc những người chung quanh mình thì luôn luôn hạ thấp. Mỗi ngày chẳng biết bận rộn việc gì, cuối cùng thì thân thể, gia đình xảy ra tình huống rất nghiêm trọng. Sau đó thì họ ở đó nói:“Ôi trời ơi! Làm sao mà ông đối xử với tôi chẳng công bằng như vậy!”. Tội lại tăng thêm vì oán trời, trách người. Sau khi thật sự bình tĩnh lại, ông trời chẳng biết đã nhắc nhở bao nhiêu lần rồi. Các vị học trưởng có phước báu, ông trời thông qua Quần Thư Trị Yếu đã nhắc nhở mọi người mấy ngàn lần, mấy vạn lần, có đúng không? Đại Vũ lại nói: “Dư lâm triệu dân”. Ta lãnh đạo, đối mặt với ức vạn con dân, họ là quân lâm thiên hạ, nỗi lòng của họ như thế nào?

“Lẫm hồ nhược hủ tố chi ngự lục mã”. Chữ “lẫm hồ” này; “lẫm” nghĩa là cảnh giác, hoảng sợ, vô cùng thận trọng, lòng dạ bất an mà thống trị thiên hạ. “Nhược” nghĩa là như. Tâm trạng đó giống như cái gì? Ví như dùng một cái “hủ sách”, là sợi dây thừng khá mục nát, bắt sáu con ngựa kéo một chiếc xe, tốc độ có nhanh không? Sáu con ngựa chạy rất nhanh, sợi dây thừng thì sắp bị đứt, các vị xem thử tình trạng của chiếc xe đó như thế nào vậy? Nơm nớp lo sợ như sắp rơi xuống vực thẳm, như đi trên băng mỏng. Thận trọng như vậy nên chẳng xảy ra tình huống nghiêm trọng nào.

Cuối cùng là kết luận: “Vi nhân thượng giả”. Các vị là trong số những người làm vua, làm lãnh đạo, “nại hà phất kính”, làm sao mà có thể không tôn trọng thần dân. Cho nên điều quan trọng nhất của người lãnh đạo là phải có đức, bản thân mình phải thể hiện được được sự ái kính.

Một câu ở phía dưới chú giải trong “Hiếu Kinh”: “Năng kính tắc bất kiêu”. Có thể cung kính thì sẽ không ngạo mạn, sẽ chẳng bất kính đối với nhân dân. Cho nên “Tại thượng bất kiêu, tắc cao nhi bất nguy dã”. Đoạn này rất đặc sắc, là lời giáo huấn của Đại Vũ chuyển lại cho hậu thế. Đây là bảo vật mọi người nâng niu. Các vị thật sự trân trọng mang về nhà thì gia đình của các vị sẽ phồn thịnh, đoàn thể của các vị cũng sẽ phồn thịnh.

“Kỳ nhị viết”, câu này là do chúng tôi chọn lựa ra. “Huấn hữu chi”, đây là chỉ Đại Vũ.

Lời giáo huấn của Hoàng tổ: “Nội tác sắc hoang, ngoại tác cầm hoang”. Nghĩa là đã mê loạn, say đắm trong dục vọng.

“Cam tửu thị âm, tuấn vũ điêu tường, hữu nhất vu thử”. Chỉ cần phạm vào một dục vọng nào, thị hiếu, “vị hoặc phất vong”, sáu việc được đề cập ở phía trước, nếu có một điều sẽ bị mất nước. Các vị chú ý xem sáu điều này, mỗi một vị vua bị mất nước không chỉ phạm một điều mà phạm cả toàn bộ sáu điều.

Sáu việc nếu phạm sẽ mất nước

Chúng ta xem, điều thứ nhất: “Nội tác sắc hoang, tham đồ sắc dục”.

Tổ tiên dạy chúng ta tiết dục, dục vọng phải có sự tiết chế, không nên phóng túng. Nếu như các Hoàng đế thiên tử chẳng biết tiết chế, chẳng khống chế được chuyện nữ sắc nơi hậu cung, cuối cùng thì bị mất nước; sức khỏe đã bị suy sụp, thọ mạng bình quân của hoàng đế hình như chỉ khoảng bốn mươi - năm mươi tuổi mà thôi. Mọi người nghĩ xem, phước báu của hoàng đế có lớn hay không? Lớn nhưng mà không hưởng được, kết quả là đoản mạng. Điều này có liên quan đến việc háo sắc. Thời đại này rất nguy hiểm, sát đạo dâm vọng của truyền hình rất nhiều, cho nên trẻ em hiện nay ngay từ nhỏ đã bị ảnh hưởng cái xấu rồi, biết phóng túng với những dục vọng. Hễ phóng túng dục vọng thì thân tâm đều bị tổn hại. Hiện nay rất ít thấy người nam có thể sống hết tuổi thọ và chết an nhiên. Họ làm cho sức khỏe hao mòn. Các quý cô phụ nữ xin đừng cười, các cô cũng phải biết, như vậy mới biết yêu thương một nửa của mình, biết được đạo lý làm sao để chăm sóc tốt cho một nửa của mình.

Thứ hai là “Ngoại tác cầm hoang”, nghĩa là họ thích săn bắn, vui chơi.

Thứ ba là “Cam tửu”, thích uống rượu vô cùng, hễ uống thì chẳng thể dừng được.

Thứ tư là “Thị âm”, thường xuyên muốn nghe âm nhạc hoa lệ hay lã lướt, vừa uống rượu vừa thưởng thức những điệu ca múa này, vui quên đường về. Hàng ngày chỉ là tiêu phí thời gian trong dục vọng, họ đâu còn chí khí.

Thứ năm là “Tuấn vũ”, chỉ muốn ở trong phòng ốc xa hoa.

Thứ sáu là “Điêu tường”, trên tường đều phải khắc rồng vẽ phụng, phải vẽ hình cho thật đẹp. Rất là phù phiếm.

Sáu điểm này, “hữu nhất vu thử”, không có điều nào mà không mất nước.

Mọi người chú ý xem, hiện nay thanh niên lập chí ở chỗ nào? Nếu tôi có tiền thì tôi phải làm gì? Phải ăn chơi, phải sung sướng một tí, đều phạm những điều này. Vì vậy, nếu không có những đạo đức này, không có Kinh điển chỉ dẫn thì con cái của chúng ta sa vào trong những dục vọng này, không có cách nào thoát ra. Các vị xem, hiện nay có bao nhiêu thanh thiếu niên buông thả dục vọng? Cha mẹ không có cách nào để chỉnh đốn. Hiện nay tình trạng phá thai vô cùng nghiêm trọng, cho nên việc ngăn chặn ngay từ ban đầu quan trọng vô cùng. Sự giáo dục về nhân quả, giáo dục về tiết chế dục vọng, thậm chí là từ thai giáo, ngay từ lúc bé đều phải dưỡng chánh khí cho các cháu. Chánh khí có đủ thì tà khí chẳng thể xâm nhập, giống với đạo lý miễn dịch của cơ thể.

Các vị xem, các cháu ngay từ nhỏ đã xem trọng việc hưởng lạc dục vọng, sự mê hoặc dụ dỗ vừa xuất hiện thì các cháu khống chế bản thân mình không được. Cho nên, từ lúc nhỏ phải luyện tập vững vàng định lực. Từ lúc nhỏ thì sự vui chơi nào, món ăn ngon nào cũng phải tránh né, không nên tranh giành cho mình. Cho nên tư tưởng, quan niệm, giá trị quan một - hai thế hệ của chúng ta bị thiên lệch khá nghiêm trọng. Chúng ta vốn là yêu thương con cái, ngược lại không ngừng làm tăng trưởng dục vọng của chúng, cuối cùng là chẳng thỏa mãn được nên chúng oán trách chúng ta.

“Học quý lập chí”, trước tiên là nên lập chí lớn. Đối với gia đình thì phải biết làm cho rạng rỡ tổ tông, đối với xã hội phải có trách nhiệm thì họ mới chẳng bị sa vào trong những dục vọng đó. Các vị nói xem, một người có trách nhiệm thì chẳng ngừng nỗ lực, chẳng ngừng nâng cao bản thân mình, thời gian còn không có đủ nữa thì họ làm gì có thời gian để ăn chơi, đúng không? Các vị xem, chúng ta hiện nay ngay cả việc đọc “Quần Thư Trị Yếu” còn không có đủ thời gian. Các vị hình như không có phản ứng gì, các vị vẫn còn phải đi mua sắm phải không? Cho nên, khổ nạn đều là do không nghe lời người già mà ra.

“Kỳ tam viết, duy bỉ đào đường, hữu thử kí phương, kim thất quyết đạo, loạn kỳ kỷ cương, nãi để diệt vong”. Điều này đã nói đến. Từ câu nói này chúng tôi lại cảm nhận được điểm đặc biệt của dân tộc chúng ta là đặc biệt xem trọng lịch sử. Đây là đời nhà Hạ. Cái đạo lý nói ra là nói ai? Vua Nghiêu. Cho nên, không chỉ có Khổng Tử noi gương của vua Nghiêu vua Thuấn, mà lời giáo huấn của Đại Vũ dành cho hậu thế của ông đều là lấy những vị cổ Thánh tiên Vương này làm gương, nên gọi là đạo chính thống, truyền thừa lại một mạch chẳng bị gián đoạn. Điều này nói đến vua Nghiêu, Đường Nghiêu, ông đã có một nơi tên là Ký Châu để ông hành đại đạo. Toàn thể chư hầu, người dân gọi ông là thiên tử, chính là ở chỗ này. Mà các vị hiện tại “kim thất quyết đạo”, là chỉ Thái Khang đã mất quyết đạo, “loạn kỳ kỷ cương”, không có tuân theo vua Nghiêu, không có tuân theo những quy củ, kỷ cương của tổ tiên, nguyên lý, nguyên tắc trị quốc. “Nãi để diệt vong”, chữ “để” này nghĩa là dẫn đến; cuối cùng chiêu cảm đến sự diệt vong.

Kỳ tứ viết, minh minh ngã tổ, vạn bang chi quân, hữu điển hữu tắc, di quyết tử tôn, hoang tùy quyết tự, phú tông tuyệt tự”. Hai chữ “minh minh” này miêu tả tổ tiên là Đại Vũ vô cùng sáng suốt như bậc thánh, hơn nữa, ông là quốc quân thiên tử của nhiều nước. Ông là “hữu điển hữu tắc”. Những quy luật trị quốc, những sách vở xưa để lại cho chúng ta (“di” nghĩa là lưu lại), mà các vị chẳng tuân thủ, Thái Khang, đã xao lãng, làm trái ngược lại, tạo thành “phú tông tuyệt tự”, đã phá hủy thái miếu của tổ tông. “Tuyệt tự” là chẳng thể truyền thừa lại cho đời sau. Bởi vì quốc gia đã bị Hậu Nghệ cướp mất rồi.

“Kỳ ngũ viết”, hai chữ “ô hô” này cùng với hai chữ than ôi tương thông với nhau. “Ô hô hạt quy”, chúng ta nên hướng về đâu, quốc gia thì chẳng còn nữa.

“Dư hoài chi bi”, trong tâm chúng ta vừa nghĩ đến điều này thì vô cùng đau xót.

“Vạn thế thù dư”, người dân, thậm chí là thế hệ sau sẽ oán trách chúng ta.

“Dư tương trù y”. Chữ “y” này là nương tựa vào. Lúc bấy giờ quốc gia chẳng còn nữa, chúng ta phải nương tựa vào ai, sau này làm sao khôi phục quốc gia?

“Uất đào hồ dư tâm”. Chữ “uất” này cùng với chữ “uất” của uất muộn là giống nhau, trong tâm vô cùng âu sầu, phiền muộn.

“Nhan hậu hữu nựu ni”. Phía sau hai chữ “nựu ni” có giải thích, nghĩa là trong tâm rất là xấu hổ, xấu hổ với chánh nhân hiền sĩ. Là do lúc bấy giờ cả quốc gia phải trở thành như vậy, gặp phải những vị chánh nhân hiền sĩ thì chẳng dám ngước mặt nhìn, rất xấu hổ.

“Phất thận quyết đức”, bởi vì không cẩn thận nên bạn hoại đức hạnh của bản thân mình.

“Tuy hối khả truy”, lúc bấy giờ có hối hận cũng chẳng kịp.

Đây là “Ngũ Tử Chi Ca”.

Thái Khang đã mất nước, những người em trai của ông cũng đành phải chịu. Nghĩ đến lời giáo huấn của Đại Vũ, đã viết thành “Ngũ Tử Chi Ca”. Đây là câu thứ nhất nói đến. Năm câu này có thể làm mất nước, đảm bảo là sẽ bị tan nhà mất mạng. Cho nên, bản thân chúng ta trước tiên phải lấy làm giới, nếu có một dục vọng nào thì nhanh chóng hạ công phu từ bỏ ngay.

“Vật cách nhi hậu tri chí, chi chí nhi hậu ý thành, ý thành nhi hậu tâm chánh”. Con người ai cũng có tâm dục vọng cần phải chấn chỉnh. Đây là việc bất khả thi. Khi đã bị dục vọng khống chế rồi thì tâm làm sao mà chánh, ý làm sao mà thành? Không thể được, thân thì càng không thể tu sửa được.

QUẦN THƯ TRỊ YẾU 360 tập 8

Cho nên ngày nay muốn gia đình có được lợi ích, người khác được lợi ích, nhất định là phải bắt đầu từ cái căn bản này, chính là loại bỏ tập tánh xấu của bản thân mình.

Thưa các vị học trưởng, trong giai đoạn chúng ta học tập văn hóa truyền thống, bản thân chúng ta có loại tập tánh xấu nào thì hãy loại bỏ đi. Các vị có hay không? Các vị không thể vô tội mà nhìn tôi. Mọi người chú ý, chẳng phải các vị mỗi ngày đọc Kinh thì được tiến bộ sao? Vậy mà một tập quán xấu cũng chẳng bỏ được. Chẳng thể loại bỏ cái này gọi là đảo đi đảo lại chỗ cũ, thậm chí là bị thụt lùi. Hơn nữa, còn làm gương xấu, mọi người nhìn chúng ta nói một đống nhân nghĩa đạo đức, kết quả là tập tánh vẫn còn một đống lớn, có hại cho đại chúng. Mọi người vừa thấy thì nghĩ: “Cái văn hóa truyền thống đó chẳng nên học, học thì cũng giống như mấy người đó”. Vì vậy, mọi người hiện nay là đệ tử của Thánh Hiền, cái logo đó có treo lên chưa? In ra rồi, bôi xóa cả cuộc đời cũng không hết. Với quyết tâm vượt lên phía trước, có ai học theo không? “Ây da! Nếu sớm biết thì chẳng nên học, mọi người đều nhìn vào ta”, các vị có ý niệm này không? “Có”. Ai có vậy? Là bình thường, rất bình thường. Vì sao vậy? Tập khí nghiêm trọng của con người gồm có những điều gì? Không có tự tin, không có kiên nhẫn, không có nghị lực, không có quyết tâm, không có tâm dài lâu. Những điều này người thông thường đều có, cho nên những ý niệm này khởi lên cũng chẳng nên trách. Nó khởi lên thì phải làm sao? Mở “Đệ Tử Quy” ra, quan trọng nhất là phải đọc một lần câu cuối cùng. “Vật tự bạo, vật tự khí, thánh dữ hiền, khả thuần chí”. Còn phải đọc những điều nào nữa? “Thân sở hiếu, lực vi cụ”, đúng không? “Đức hữu thương, di thân tu”. Còn nữa không? “Kiến nhân thiện, tức tư tề”, “vật úy nan”, phải không? Chánh khí lập tức nổi lên, tà khí chẳng thể đi vào được. Sự lùi bước này chính là tà khí. Phải đề khởi chánh niệm, đề khởi Kinh điển thì mới đúng. Cho nên, trước tiên bản thân mình phải điều phục được dục vọng.

Con người hễ điều phục được dục vọng thì thân tâm khinh an, càng lúc càng tự tại, sau đó thì nụ cười càng lúc càng sáng lạn. Sau đó thì mọi người xung quanh bắt đầu điều tra: “Điều gì đã xảy ra với anh ấy vậy? Sao mà anh ấy dạo này hình như không có chau mày, mỗi ngày trôi qua hình như rất dư dật, còn ta thì cảm thấy hiện nay chẳng biết đang bận rộn chuyện gì, rất trống rỗng, làm sao mà họ được vui sướng như vậy?”, liền đi đều tra. Các vị làm một tấm gương rất tốt cho mọi người. Đây là một nhân duyên tốt. Hơn nữa, khi chúng ta xem người khác, thậm chí là các cháu nhỏ chìm đắm vào những dục vọng, chúng ta không chỉ không nên trách móc họ mà phải thương xót cho họ. Đây là lỗi lầm của người lớn chúng ta đã không truyền cho chúng tư tưởng giá trị quan đúng đắng. Xã hội là một cái chảo lớn ô nhiễm thì đâu có đạo lý chẳng bị chìm đắm vào chứ? Cho nên, không chỉ không nên trách móc, mà là cha mẹ, là bậc trưởng bối, trước tiên nên phản tỉnh, nhanh chóng nghĩ cách để khuyết điểm của mình không gây ra ảnh hưởng. Phải có niềm tin: “Nhân chi sơ tánh bổn thiện”. Họ hiện giờ gặp phải duyên dụ dỗ mê hoặc cho nên họ mới bị chìm đắm. Các vị có được bầu không khí gia đình tốt, trí tuệ tốt để dẫn dắt họ, từ từ lôi kéo họ trở lại. Rất nhiều cháu nhỏ chẳng mong muốn phóng túng trong những dục vọng này, nó không có ý nghĩa gì, rất trống rỗng, nhưng chúng chẳng biết được phương hướng của cuộc sống ở đâu. Chúng ta thì đã hiểu được. Chúng tôi có cơ hội nói chuyện với những đứa trẻ ở trong tiệm internet suốt mấy hôm chẳng về nhà, húng nói: “Con không muốn ở đây đâu, nhưng mà trong gia đình của con một chút êm ấm cũng không có, con cũng chẳng muốn trở về nhà”. Các vị xem, gia đình quan trọng lắm! Một đứa trẻ trưởng thành, phát triển nhân cách, nền móng trong gia đình. Điều này tôi hiểu rất sâu.

Lúc hai tuổi, tôi sống ở Thành phố Cao Hùng. Thành phố Cao Hùng được xem là một thành phố lớn, có rất nhiều tiệm trò chơi điện tử. Tan học về nhà, tôi đều phải đi ngang những chỗ này, nhưng tôi chẳng muốn vào đó, tôi chỉ muốn về nhà uống canh đậu đỏ, bởi vì trong gia đình rất êm ấm, việc gì cũng có thể nói với mẹ. Nếu như tôi ở trường làm điều gì sai, về nhà luôn càu nhàu. Sở dĩ con người kỳ thực vẫn là “mãn hữu lương tâm”, làm sai điều gì, trong tâm chẳng thoải mái. Sau đó, nếu như chẳng nói với mẹ thì buổi tối ngủ không ngon, nói xong thì trong lòng mới yên ổn, chẳng có giấu giếm mẹ về bản thân mình. Khi tôi học đến trung học thì vẫn là như vậy, đương nhiên hiện nay cũng là như vậy. Tôi nhớ lúc học trung học có làm sai một việc, vẫn phải kể cho mẹ, nếu không thì tôi có cảm giác hình như mẹ chẳng được thanh thản. Đây là thiên tánh vốn có của trẻ con, chúng chẳng muốn giấu giếm cha mẹ điều gì. Nhưng những điều trong tâm hễ nói ra là cha mẹ chẳng quan tâm, thậm chí còn la mắng chúng, sau này chúng chẳng dám nói nữa. Khoảng cách giữa con cái và cha mẹ dần dần được sanh ra như vậy. Thiên tánh của trẻ con có cả thiên tánh của người mẹ, lúc nào mà chẳng thấy, nó có thể duy trì cả cuộc đời.

Các vị xem, Đạo Trác đã sáu mươi mấy tuổi rồi, vừa mở cửa là kêu to: “Mẹ ơi. Đó là người hạnh phúc nhất. Thiên tánh cả cuộc đời chẳng mất. Tiến thêm một bước là lấy một phần phụ tử hữu thân mà yêu thương hết thảy mọi người. Nhân cách như vậy thì đối với xã hội có sự cống hiến rất lớn. Người làm cha làm mẹ, làm thầy cô của người khác thì càng phải nhanh chóng đoạn trừ, nếu không thì sẽ đoạn huệ mạng của người khác, gọi là làm mất cơ hội của người khác.

Một vị thầy giáo mỗi ngày hút thuốc để học trò nhìn thấy, thì học trò sẽ nói: “Thầy hút thuốc thì tại sao em không hút được chứ?. Thầy giáo “truyền đạo, thọ nghiệp, giải hoặc”, trước tiên là đem đạo biểu diễn cho học trò xem.

Tiếp theo, người lãnh đạo của đơn vị cùng với đồng nghiệp có duyên phải là một người có tập quán rất tốt. Tập quán của các vị sẽ ảnh hưởng đến cấp dưới của các vị, là các vị đang tích âm đức. Giả như cấp dưới mới hai - ba tháng thì đã nhiễm tập quán xấu vốn có của chúng ta, đó là tạo tội lỗi rồi.

Có một chủ xí nghiệp tôi rất khâm phục. Ông nói: “Chúng tôi mỗi năm nộp thuế cho nhà nước có phải là cống hiến cho quốc gia không? Nhân viên cấp dưới của chúng tôi, những nhân viên trẻ tuổi, sau khi đến công ty của chúng tôi vốn là chẳng biết uống rượu, giờ đã biết uống rượu; vốn là chẳng biết chìm đắm trong bài bạc, giờ thì đã biết đánh bạc rồi, đã nhiễm nhiều tập khí như vậy. Chúng tôi vẫn nói bản thân mình cống hiến cho quốc gia là dối mình gạt người, làm cho những nhân viên này hư hỏng, còn làm hại đến gia đình của họ”. Điều này phải lấy tâm của người làm cha mẹ để làm lãnh đạo, rất đáng quý! Vì vậy, hiện nay rất nhiều chủ xí nghiệp học văn hóa truyền thống, thật sự là dân chi phụ mẫu, là người cha mẹ tốt của nhân viên của họ, nhanh chóng đem những Kinh điển giáo dục đúng đắn nhất để cho nhân viên được học. Hơn nữa, chúng ta quan sát những xí nghiệp này, họ kinh doanh rất tốt.

Chúng tôi có nghe Chủ tịch Hội đồng Quản trị Hồ Tiểu Lâm, xí nghiệp của ông rất tốt, còn có nhiều xí nghiệp rất tốt. Chúng tôi thường liên hệ, có cơ hội là họ đến để chia sẻ với mọi người. Xí nghiệp rất thực tế, sau khi học thì có hiệu quả và lợi ích, công việc càng làm càng tốt. Tôi nói, nếu mời những ông chủ xí nghiệp này hiện thân thuyết pháp, các vị không có phản ứng gì à? Các vị phải phát ý niệm, người ta có cảm ứng mới đến. Các vị chẳng tỏ thái độ gì, cuối cùng là tôi mời. Thời đại này hiện đại, các vị phải để người ta tin văn hóa truyền thống cũng chẳng phải dễ. Họ phải xem gương tốt thì họ mới tin. Chúng tôi dạy học ở trường, giảng cho chủ xí nghiệp nửa ngày: “Ây da, điều này ở trong giới giáo dục của các vị thì có thể được, ở trong giới xí nghiệp của chúng tôi thì không được”, tôi không thể giảng tiếp được nữa. Nhưng có những tấm gương tốt nổi lên, họ liền tin tưởng thì họ chịu học. Cho nên, các ngành các nghề, mỗi một vai đều phải có gương tốt thì toàn bộ niềm tin của con người sẽ được hình thành.

Nghỉ hè, chúng ta sẽ mời vài vị đã thực hiện vô cùng tốt lòng thương dân yêu nước, có cả nữ cao thủ hiến máu ở Đại Lục. Hiến máu mà trở thành cao thủ, hiến máu nhiều nhất mà vẫn khỏe mạnh. “Tích thiện chi gia tất hữu dư khánh”, con của cô ấy sau này tìm được người bạn đời rất tốt. Để cho cô ấy đến hiện thân thuyết pháp. “Tích thiện chi gia tất hữu dư khánh”. Thật sự chúng tôi rất xúc động khi xem cô Lưu này, tính cách của cô vô cùng tốt, “phản phác quy chân, xích tử chi tâm”, người rất dịu dàng, có tâm thương yêu. Vẫn chưa quyết định à? Các vị phải cố gắng phát ra ý niệm, đến lúc đó không mời được thì xin đừng trách tôi.

Chúng ta tiếp theo xem câu thứ hai trong “Sử Ký Bổn Ký”. Sử ký là bổn ký, gồm những bộ phận như biểu, thư, thế gia, liệt truyện. “Bổn ký” toàn là nói những chuyện của hoàng đế. Chuyện này ở trang 272 nói về lịch sử của triều đại nhà Chu. Ở hàng thứ nhất, chúng ta trích ra câu chuyện của Chu Lệ Vương.

“Lệ Vương tức vị”, lên ngôi rồi, “háo lợi cận Vinh Di Công”. Các vị xem câu nói này. “Háo lợi” là bản thân ông háo lợi, mới chiêu cảm được quan quân háo lợi “Vinh Di Công” này. Lúc đó có một vị trung thần tên là Nhuế Lương Phu. “Gián viết”: “Nhuế Lương Phu khuyến gián Chu Lệ Vương mà nói rằng: “Vương thất kỳ tướng ti hồ”. Vương thất sắp bị suy bại phải không? Chúng ta xem câu nói này rất xúc động. Thưa các vị học trưởng, các vị xem câu nói này thì thể hội được điều gì? Các vị ở trong trong đơn vị đã có nói với chủ quản của các vị chưa: “Công ty của chúng ta sắp phá sản phải không?”. Không được rồi, nói xong thì anh sẽ bị đuổi việc. Trung thần thì rất chánh trực, đại công vô tư, họ chẳng bận tâm bản thân mình còn làm việc hay không, họ chỉ bận tâm cho sự an nguy của quốc gia. Có cảm nhận được chánh khí của trung thần hay không?

“Mộ hiền đương mộ kỳ tâm”. Mọi người không chỉ xem những chữ này, nhân cách của người lưu danh trong lịch sử, các vị đã học được chưa; tinh thần của họ, các vị tiếp nhận được chưa? “Mộ hiền đương mộ kỳ tâm”.

Chúng ta ôn tập một chút về cõi lòng của Đại Vũ. “Dân duy bang bổn, bổn cố bang ninh”. Ở trong một đoàn thể, công nhân viên là nền tảng quan trọng nhất, có họ thì mới thành tựu được sự nghiệp, cho nên phải tôn trọng, cảm ơn họ. “Oán khỉ tại minh, bất kiến thị đồ”. Rất nhiều dấu hiệu báo đến phải nhanh chóng đi xử lý. “Dư lâm triệu dân, lẫm hồ nhược hủ sách chi ngự lục mã”. Các vị phải vừa học vừa ghi vào trong tâm, các vị không nên về nhà học thuộc từng chữ một. Phải dùng tâm, các vị thật sự phải nối được thời quang tụy đạo. “Triết nhân nhựt dĩ viễn, điển hình tại túc tích, phong thềm triển thư độc, cổ đạo chiếu nhan sắc”. Các vị đã từng được đạo lý truyền thống chiếu qua chưa? Có hay không tinh thần của bậc Thánh Hiền từ đây chẳng thể tách rời khỏi bạn?

Bởi vì Nhuế Lương Phu rất có chánh khí, chánh trực dũng cảm, đối với quân vương thì nói lời thẳng thắn.

“Phu vinh công hiếu chuyên lợi”. Vinh Di Công thích độc chiếm tài lợi, vật lợi, độc chiếm nhân dân, những tài lợi của quốc gia. “Nhi bất tri đại nan”, chẳng biết được chuyên lợi như vậy thì sau đó sẽ có đại nạn đến. Cổ nhân rất giỏi, vừa xem hành động này thì biết được tiếp sau đó sẽ xảy ra chuyện gì.

Trước đây chúng tôi có nêu lên vài trường hợp, Thương Trụ vương dùng đũa ngà voi ăn cơm, Cơ Tử nói quốc gia nguy nan. Vì sao vậy? Vì xa xỉ phung phí. Xin hỏi mọi người, đũa ngà voi thì kết hợp với loại chén nào? Chén giấy phải không? Chén bằng sừng tê giác. Chén bằng sừng tê giác thì kết hợp với những dụng cụ nào khi ăn? Dụng cụ làm bằng vàng, khai vàng mâm bạc, đúng không? Mâm vàng đựng thức ăn gì? Rau xanh, đậu hủ phải không? Là sơn hào hải vị. Ăn sơn hào hải vị thì mặc y phục gì? Đúng rồi, mặc các loại vải tơ lụa. Chỗ ở như thế nào? Mở rộng ra như vậy, xin hỏi tiền bạc từ đâu mà có? Dân chỉ dân cao. Cổ nhân rất bình tĩnh, nhìn biết trước sự việc, vô cùng nhạy bén đối với sự phát triển của toàn bộ sự vật. Bởi vì đọc Kinh điển mới có thể khai huệ nhãn, nếu không thì chúng ta thật sự là hậu tri hậu giác, thậm chí còn xảy ra khả năng ở đó đùn đẩy trách nhiệm.

Tiếp tục phân tích đến, ở đây chúng ta cũng trích ra một đoạn Kinh: “Phu lợi bách vật chi sở sanh dã, thiên địa chi sở tại dã, nhi hữu chuyên chi, kỳ hại đa hỹ”.

Chúng ta xem chữ “lợi” này; tài lợi, vật lợi từ đâu mà có? “Bách vật chi sở sanh dã”. Nó là vạn vật sản sinh ra, cuối cùng trở thành thương phẩm, trở thành thực phẩm, trở thành quần áo, trở thành những thứ linh tinh trong cuộc sống mà con người đều phải cần. Thật ra chúng ta đều phải lấy từ vạn vật, lấy từ thiên nhiên, nhưng mà các vị xem, hiện nay con người hưởng thụ ở bên ngoài, cướp đoạt chẳng kiêng nể gì, làm cho bộ mặt của đất mẹ toàn là những chuyện rắc rối. Các vị xem, hiện nay hễ mưa xuống thì núi lở, đất đá trôi, thật ra đều là do con người chúng ta cướp đoạt của thiên nhiên. Không có tâm cảm ơn, không có trân quý chúng, độc quyền, đều muốn thỏa mãn dục vọng của chính mình, cuối cùng thì tai nạn đã đến. Trong lời nói này đều có thể chứng minh tình trạng của xã hội hiện nay. Người xưa đối với sự cho tặng của thiên nhiên họ đều có sự tiết độ. Khi vạn vật đang sinh trưởng thì không được đốn chặt, không được đánh bắt, muốn chặt đốn thì phải đợi nó lớn lên. Đều có quy tắc, tuân theo sự tuần hoàn của thiên nhiên.

Các vị xem, hiện nay con người sử dụng những tài nguyên của thiên nhiên đều phải dùng đến kiệt quệ, cuối cùng thì sao? Đến đâu hay đến đó, dù sao thì hiện nay vẫn chưa sử dụng hết. Những ý nghĩ bạt mạng này chẳng biết cảm ơn, chẳng biết trân quý thì rất phiền phức. Cho nên, “bách vật chi sở sanh”. Chúng tôi nghe nói hiện nay trẻ em, ngay cả cơm ở đâu mà có chúng cũng chẳng biết. Các vị hỏi chúng: “Cơm này từ đâu mà có?”. “Do mẹ con mua”. Trong kinh nghiệm đời sống của chúng, chúng chưa nhìn thấy đồng ruộng, chúng chẳng biết cái gì là “cày đồng giữa buổi ban trưa, mồ hôi thánh thoát như mưa ruộng cày”. Những việc này thì nên cho trẻ em lĩnh hội, đi xem thực tế, thì chúng mới nhớ được, không nên dạy bằng kiến thức. Vì vậy, cha mẹ, thầy cô giáo phải nhạy bén, phần nào thì nhất định phải để cho trẻ con đi thể hội, để chúng cảm nhận. Đây là sự giáo dục để nhận thức, giáo dục để cảm nhận, chẳng phải là tri thức.

“Thiên địa chi sở tải dã”. Tất cả những tài lợi đều là do trời đất dưỡng dục sinh ra, uống nước nhớ nguồn.

“Nhi hữu chuyên chi, kỳ hại đa hĩ”. Nhưng mà những thứ tài lợi này, nếu các vị muốn độc chiếm chúng, đương nhiên sẽ dẫn đến rất nhiều tai họa. Nhìn thấu rồi, lợi ở trên thân của các vị, người dân đói sắp chết thì đâu có chuyện họ không đi tìm các vị để đòi. Vì vậy, vua bị mất nước, bản thân thường có tài sản quý giá rất nhiều. Sau khi nhân dân tạo phản, nhà vua vẫn chưa biết vấn đề là do đâu. Thật đáng thương!

Có một vị hoàng đế, người dân không có cơm ăn, không có thực phẩm để ăn, vị hoàng đế kêu họ ăn thịt đi. Các vị xem, chẳng trách phải bị lật đổ. Cho nên: “Kỳ hại đa hĩ”. Nhìn thấu rồi nhân dân sẽ phản.

Tiếp theo là khai phá không thương tiếc đối với thiên nhiên. Hiện nay, thiên nhiên phản kháng lại, bởi vì chúng ta đã khai phá rất nhiều nơi. Thí dụ như nói về phần mồ mả, các vị có sự tôn kính tổ tiên hay không? Khi đã khai thông rồi, đã bố trí mồ mã ổn thỏa rồi, các vị xem có nên khai phá hay không? Các vị phải tôn trọng, phải cung kính. Bây giờ thì chưa đúng, chỉ cần tôi được lợi, phần mộ tổ tiên của người ta tất cả đều cho người đào lên, vậy thì tổ tiên làm sao mà an tâm được chứ? Như vậy thì làm sao người ta chẳng oán chúng ta chứ? Bởi vì trong thế giới vô hình chẳng nhìn được những từ trường này, sự ảnh hưởng này. Con người phải có tính nhạy cảm. Cổ nhân rất hiểu đạo lý này.

Các vị xem, cổ nhân muốn sử dụng một cái thân cây thì cũng phải tôn trọng thần cây, phải đến chào hỏi với họ trước mấy hôm rồi mới đốn, mời họ chuyển đến trú ngụ ở thân cây khác. Chúng tôi có những người bạn sống ở Úc châu, họ thông báo trước ba hôm cho cái cây đó. Sau khi đốn cây thì nửa đêm nằm mộng, thần cây nói với anh: “Ba ngày ngắn quá, lần sau nên báo sớm hơn một  chút”. Mọi người phải nhạy bén, ba ngày là tập quán của người Hoa. Người Hoa tương đối cần cù, làm việc nhanh. Người ở địa phương khác cuộc sống tương đối nhàn nhã, các vị không nên đốn quá nhanh. Nhập gia tùy tục. Cho nên cái “kỳ hại đa hỹ” này rất có lý.

“Thiên địa bách vật, giai tương thủ yên, hà khả chuyên dã”. Những thứ tài lợi, vật chất có thể cho người trong thiên hạ, thậm chí cũng phải cho hết thảy vạn vật cùng nhau hưởng. Làm sao mà các vị có thể độc chiếm hết toàn bộ được? Như vậy người ta đâu thể nào bỏ qua cho các vị? Các vị làm cho người ta chẳng sống nổi thì người ta làm sao có thể khoan dung cho các vị được chứ? Các vị xem, hiện nay khai phá rất nhiều, làm cho những động vật nhỏ chẳng còn chỗ để nương thân. Chúng tôi cảm nhận được tất cả những động vật trên thế giới này, chỉ cần một loại động vật bị diệt vong thì những động vật khác sẽ mở hội ăn mừng bảy ngày bảy đêm chẳng ngủ nghỉ, rất vui. Xin hỏi mọi người, đó là động vật gì? “Là con người”. Làm sao các vị biết được? Thật vậy, các vị xem, nhân loại làm hại thiên nhiên, làm hại động vật, làm cho động vật hiện nay sắp lâm vào chỗ tuyệt chủng, chẳng biết còn được bao nhiêu, đều là do con người gây ra.

“Tam tài giả, thiên địa nhân”. Con người nên làm theo trời đất mà thương yêu vạn vật. Hiện nay vẫn là làm tổn hại vạn vật. Cho nên các vị xem, con người không có đức hiếu sinh, hiện nay chẳng dục chứng. Chứng bệnh hiếm muộn càng lúc càng nhiều, bởi vì chúng ta dùng thuốc trừ sâu đối xử với mạng sống. Thuốc trừ sâu được phun ra, cuối cùng là phun vào thân của ai? Con người đâu có thông minh nhiều, người tính chẳng bằng trời tính.

“Xuất hồ nhi giả, phảm hồ nhi giả”. Các vị sát hại vạn vật, cuối cùng thì sát khí đó quay trở lại trên thân ai? Trên thân của chính mình. Vì vậy, bệnh của người hiện nay là một đống kỳ hình quái dạng. Đó không phải là không có đạo lý, đều là do chính mình chiêu cảm đến.

Xin đưa thêm một thí dụ. Toàn bộ giới sinh vật, giới động vật giống như là một thân thể. Tế bào ung thư trên thân thể của ai liên tục ăn vào chỗ khác, phá hoại nguồn tài nguyên khác, ăn liên tục đến cuối cùng thì sống không nổi, cuối cùng thì tế bào ung thư cũng sống không được. Chúng ta cũng sắp sống hết nổi rồi. Cả thiên nhiên đều xuất hiện lời cảnh báo. Hiệu ứng nhà kính cũng phát triển rất nhanh. Cứ tiếp tục như vậy, trải qua năm năm, mười năm thì rất nhiều nơi sẽ bị chìm mất.

Đồng chí, bạn bè, anh chị em, chúng ta thật sự muốn dẫn đầu, muốn làm những việc tốt thì phải tôn trọng, phải yêu quý, phải tiết kiệm, phải cần kiệm, phải ra ngoài hoằng dương việc ăn chay. Nếu không thì thiên nhiên sẽ bị quá tải, chẳng có cách nào tiếp tục nữa. Phải tuyên dương “Thế kỷ mới ăn uống khỏe mạnh”. Không thể chỉ có thầy giáo Chu Vĩnh Sam hoằng dương. Mọi người biết được bao nhiêu thì phải tận lực mà hoằng dương. Có ai không? “Có!”. Tốt! Xin nhận tiểu đệ này một lạy.

Đáng được mọi người tôn trọng, luôn lo nghĩ cho thế hệ sau, vì thiên nhiên, vì toàn bộ quả địa cầu này mà lo nghĩ cho mọi người. Được rồi, tới lúc hãy nói đến điều này, quá xúc động cũng không nên. Mỗi người chúng ta đều phải thật tâm làm, chân tâm sẽ giao cảm với tâm của rất nhiều người. Tin tưởng có thể dùng lực cứu vớt tình thế rối rắm, xoay chuyển tình thế.

“Sở nộ thậm đa”. Chiêu cảm đến rất nhiều oán hận.

“Nhi bất bị đại nạn”. Nếu không chuẩn bị sẽ đối mặt với đại nạn.

“Dĩ thị giáo vương, vương kỳ năng cửu hồ”. Vinh Di Công luôn giúp cho nhà vua mưu cầu quyền lợi. “Vương kỳ năng cửu hồ”. Ngôi thiên tử này có thể ngồi được lâu hay không, quốc gia có thể phát triển tiếp nữa được không?

“Phu vương nhân giả”. Những câu nói ở đây vô cùng sâu sắc. Người là thiên tử, là quốc vương.

“Tương đạo lợi nhi bố chi thượng hạ giả dã”. Họ nên lấy hết những tài lợi này có thể đem đi phân bố, phân phát cho người dân, mỗi người dân an cư lạc nghiệp. Các vị chẳng thể phân phối, đến cuối cùng những người có quan hệ tốt với các vị có được tiền vượt trội hơn, sau đó thì sự chênh lệch về giàu nghèo rất lớn. Như vậy đều là sai lầm, lòng dân chẳng được yên ổn. Các ngành các nghề đều phải thương yêu, tôn trọng. Ngành nghề nào cũng là số một, phát triển tốt đẹp thì xã hội này mới an định.

Ông Tôn Trung Sơn có nói một câu rất hay: “Nhân năng tận kỳ tài, địa năng tận kỳ lợi, vật năng tận kỳ dụng, hóa năng sướng kỳ lưu”. Là vua thì phải làm những việc này. Con người phải tận hết tài năng, mặt đất phải tận hết lợi ích, vật dụng phải tận hết công năng, hàng hóa phải lưu thông rộng khắp.

“Sử thần nhân bách vật vô bất đắc cực”. Chữ “cực” này là ở giữa, vừa phải, nghĩa là làm cho thần minh bách vật, nhân dân đều có thể ổn định, an cư lạc nghiệp, có được cuộc sống ổn định. Họ làm được điều này, họ có thể “tương đạo lợi nhi bố chi thượng hạ giả dã”. Họ đã làm nghiêm túc như vậy, họ vẫn gìn giữ, cảnh giác tâm hoảng hốt sợ sệt.

“Do nhựt truật thích cụ oán chi lai”. “Do nhựt” nghĩa là mỗi ngày cảnh giác sự sợ hãi, rất sợ việc chiêu cảm sự oán hận của nhân dân nên họ đã làm nghiêm túc, họ vẫn cảnh giác sự sợ hãi, rất sợ bị oán giận. Hiện giờ đã có sự oán giận rồi, một việc chẳng thỏa đáng, rất phiền phức. Chúng ta xem, gần đây có một số quốc gia, nhân dân không còn tin tưởng quốc quân của họ nữa. Quốc quân không nên đợi đến lúc đó, bản thân vẫn chưa phản tỉnh. Việc sai lầm này tương đối lớn.

“Kim vương học chuyên lợi, kỳ khả hồ”. Lệ Vương, các vị xem, hiện nay học chiếm độc quyền những tài lợi. Việc này làm sao làm thông cho được.

“Thất phu chuyên lợi do vị chi đạo”. Người thông thường độc chiếm cái lợi này thì người ta nói họ là kẻ trộm. Các vị là quân vương, “vương nhi hành chi, kỳ quy tiên hỹ”, thái độ này của các vị, người dân chẳng chịu quy phục. “Tiên” nghĩa là ít, càng ngày càng ít người hướng về các vị. Cho nên có một câu cách ngôn nói: “Đạo chi sở tại, thiên hạ quy chi. Đức chi sở tại, thiên hạ quý chi. Nhân chi sở tại, thiên hạ ái chi. Nghĩa chi sở tại, thiên hạ úy chi”. Vô cùng kính phục nghĩa của tinh thần này. Người được lòng dân thì được thiên hạ, người mất lòng dân thì mất thiên hạ. Ba đời Hạ, Thương, Chu “chi đắc thiên hạ dã, dĩ nhân, kỳ thất thiên hạ dã, dĩ bất nhân”, hễ lệch khỏi nhân từ thì họ sẽ chẳng giữ được thiên hạ.

Tiếp tục nói đến: “Vinh Công hữu dụng, Chu tất bại”. Vinh Di công hữu dụng nghĩa là được trọng dụng, triều nhà Chu nhất định bại. Các vị xem, lời của trung thần nói đều là lời chân thành khuyên răn như đinh đóng cột.

“Vương bất thính”. Lệ Vương chẳng nghe lời khuyên của Vinh Di Công.

“Tốt dĩ Vinh Công vi khanh sĩ”. Cuối cùng vẫn là dụng Vinh Di Công làm quan. Từ ‘khanh” này được xem là trong số 100 vị quan cao nhất, Khanh đại phu, cho nên họ chủ trì chính sách công việc quốc gia.

“Dụng sự” nghĩa là để họ chủ trì chính sách công việc, vậy là càng thê thảm hơn. Lệ Vương càng hung hăng càn quấy.

“Vương hạnh bạo ngược xỉ ngạo, quốc nhân báng vương”. Con người cuối cùng là tự chọn lấy sự diệt vong, không phản tỉnh. Tạo ra những hành vi bạo ngược, xa xỉ, ngạo mạn, người dân chịu chẳng thấu thì bắt đầu có lời oán hận.

Kết quả, một vị trung thần khác khuyên. “Thiệu công gián viết”. Thiệu Mục Công khuyên ông: “Dân bất kham mệnh hĩ”. Người dân chịu chẳng thấu lệnh của chính phủ, chịu chẳng thấu sự quản lý của nhà vua. “Vương nộ, đắc vệ vu”. Ông không những không phản tỉnh mà còn nổi giận, sau đó tìm được một thầy phù thủy bảo vệ đất nước. “Sử giám báng giả”, đến giám sát những người phê bình ông.

Thưa các vị học trưởng, ông trời có bảo vệ Lệ Chu Vương không? Bảo vệ, nhắc nhở ông ấy bao nhiêu lần rồi? Các vị xem, những vị quan này cũng là ông trời đến để nhắc nhở ông ấy, ông ấy vẫn chưa hồi đầu. Thật ra, cuộc đời của chúng ta nếu như đi đến giai đoạn tương đối thê thảm, thật thà mà nói, chúng ta tĩnh lặng lại quá trình đã có rất nhiều người khuyên chúng ta, bản thân chúng ta không nghe. Con người có lúc gặp khốn khó, hoặc là lúc gặp phải những chuyện không tốt thông thường rất khó phản tỉnh, thật ra lúc đó cần phản tỉnh nhất mới có thể rút được kinh nghiệm xương máu, mới có thể tìm được cách giải quyết vấn đề. Không chỉ là giám sát, “dĩ cáo tắc sát chi”, thầy phù thủy này nói, ai phê bình nhà vua thì Lệ Vương giết người đó.

“Kỳ báng tiên hỹ”. Người hủy báng, người phê bình ít dần đi.

“Chư hầu bất triều”. Thiên tử như vậy thì ai còn đến triều để cống nạp.

“Vương ích nghiêm”. Lệ Vương càng tăng thêm sự nghiêm khắc.

“Quốc nhân mạc cảm ngôn”. Người dân chẳng dám nói.

“Đạo lộ dĩ mục”. Chữ “dĩ mục” này phía sau nói: “Dĩ mục tương miến nhi dĩ”. Chữ “tương miến” này nghĩa là chẳng nói chuyện, sau khi ánh mắt liếc nhìn qua là hiểu được ý. Có thể là sau khi nhìn sơ qua một chút, đợi thời cơ đến một chỗ nào đó để tập hợp, phải nêu cao việc nghĩa. “Vương hỷ”, Lệ Vương quá khoa trương, ông rất vui mừng. “Cáo Thiệu Công viết”, nói với Thiệu công: “Ngô năng nhị báng hỹ”. Ta có thể phòng chống việc phê bình này.

“Nãi bất cảm ngôn”. Các vị xem, người dân chẳng dám nói.

“Thiệu Công viết”. Thiệu Công nói với nhà vua: “Thị Chương chi dã”. Các vị chỉ là chặn nó lại, chẳng phải là cách giải quyết.

“Phòng dân chi khẩu, thậm ư phòng thủy”. Đề phòng miệng của người dân thì lợi hại hơn là phòng nước lũ. Các vị nên biết đạo lý bên trong đó.

“Thủy ủng nhi hội, thương nhân tất đa”. Chặn dòng nước lại, chẳng khai thông được, cuối cùng thì vỡ đê. Người dân bị thiệt hại chắc chắn rất nhiều, các vị ngăn cấm miệng của người dân cũng giống như vậy, “dân diệc như chi”.

“Thị cố vi thủy giả, quyết chi sử đạo”. Dùng cách khai thông giống như Đại Vũ trị thủy, không nên ngăn chặn nước lại.

“Vi nhân giả, tuyên chi sử ngôn”. Phải để cho tiếng nói từ đáy lòng người dân được phát ra để điều chỉnh chính sách của mình, mới thật sự là việc làm ích nước lợi dân, mới có thể thu được lòng dân.

“Cố dân chi hữu khẩu, do thổ chi hữu sơn xuyên dã, tài ư thị hồ xuất”. Nhân dân có ý kiến là điều rất tự nhiên, cũng giống như đại địa có núi sông vậy.

“Tài dụng ư thị hồ xuất”. Xuất ra từ nơi đó.

“Do kỳ hữu nguyên thấp diễn ốc dã”. “Nguyên thấp” là những chỗ đồng bằng ẩm thấp. “Diễn ốc” là sự tương đối bằng phẳng, đất đai màu mỡ.

“Y thực ư thị hồ sanh”. Thật ra đây là sự ví von.

“Năng sanh tài dụng, năng sanh y thực”, là tự nhiên sanh ra. Ngày nay, giả như họ có thể nghe tiếng nói từ đáy lòng của người dân, thuận theo lòng dân, yêu quý người dân, thì cả quốc gia sẽ giàu mạnh trở lại. Nếu các vị chẳng thuận theo điều tự nhiên này, vẫn là ngăn chặn họ lại, thậm chí là giết hại những người đã nói lên nội tâm của họ.

“Khẩu chi tuyên ngôn dã, thiện bại ư thị hồ hưng”. Họ đã nói ra rõ ràng những chỗ các vị đã làm tốt và chưa được tốt.

“Phu dân lự chi tâm nhi tuyên chi khẩu”. Những điều mà người dân suy nghĩ ở trong tâm, họ cùng có ý kiến để biểu đạt ra bên ngoài, tiết lộ ra bên ngoài.

“Thành nhi hành chi”. Các vị làm cho họ hiểu được, cố gắng mà làm, mà sửa chữa, thì quốc gia có được sự trợ giúp.

“Nhược ủng kỳ khẩu, kỳ dư năng kỉ hà”. Miệng của họ đều bị ngăn chặn, lòng người sẽ không hướng về các vị, chỉ còn vài người chịu đi theo các vị.

“Vương bất thính”. Họ vẫn không nghe.

“Vu thị quốc mạc cảm xuất ngôn”. Chẳng ai dám nói ra.

“Tam niên”. Ba năm sau.

“Nãi tương dư bạn tập vương”. “Tương dư” là tập hợp lại với nhau để cải cách triệt để, chống đối vị vua hung bạo này. “Bạn tập vương” là chống lại nhà vua, tấn công nhà vua.

“Vương xuất bôn vu trệ”, vua chạy đến xứ Trệ. Chẳng chịu nghe lời khuyên gián, nhưng mà chạy thì chạy rất nhanh. Điều nên làm thì chẳng chịu làm, điều không nên làm thì học được rất nhanh. Ở đây cũng là nhắc nhở chúng ta phải tiết dục, phải ngừa dục, còn phải tiếp nhận lời khuyên can thì mới là một người lãnh đạo tốt.

Phía sau vẫn còn một câu, tôi đọc cho mọi người nghe. Tại sao phải đọc? Để cho mọi người vừa thấy thì: “Nhân tồn chánh cử”. Hễ vừa thay đổi vị vua kế tiếp thì quốc gia liền hoàn toàn khác đi.

Vị vua kế tiếp: “Tuyên vương tức vị, tu chánh, pháp văn võ thành khang di phong”. Chịu y theo lời giáo huấn, tấm gương của tổ tiên. “Chư hầu phục tông chu”, chư hầu lập tức quy thuận. Cũng là vua giống nhau, vừa thay đổi vị vua thì có sự thay đổi. Dân còn thì chính quyền được đề cử, đó là chân lý.

Tốt rồi! Hôm nay xin được giao lưu với mọi người đến chỗ này. Xin cám ơn mọi người!

A Di Đà Phật!

Chia sẻ học tập “Quần Thư Trị Yếu 360” (tập 7 và 8)

Giảng ngày 28 tháng 05 năm 2011 tại Trung tâm Giáo dục Văn hóa Trung Hoa Malaysia.

Người giảng: Thầy giáo Thái Lễ Húc

Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ, Mộ Tịnh Cư Sĩ, Phước Tịnh Cư Sĩ

 

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 52


Hôm nayHôm nay : 1200

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 184972

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 11427540

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?