Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Quần thư trị yếu 360

Quần Thư Trị Yếu 360 - Thầy Thái Lễ Húc giảng (Tập 5 - 6)

Thứ ba - 25/04/2017 22:16

TU THÂN - TỀ GIA - TRỊ QUỐC - BÌNH THIÊN HẠ

Kính thưa chư vị trưởng bối, chư vị đồng học, chư vị học trưởng, xin chào mọi người!

Hôm nay, lớp cổ văn chúng ta cùng nhau học “Quần Thư Trị Yếu” tiết thứ hai. Giao lưu cùng với mọi người, áp lực của tôi rất lớn. Tại sao vậy? Bởi vì “Thư đáo dụng thời phương hận thiểu”, “thiếu tiểu bất nỗ lực, lão đại đồ thương bi”. Trước đây ham chơi, không cố gắng học tập tích lũy, bây giờ thật sự là bấm bụng mà chia sẻ “Quần Thư Trị Yếu” với mọi người, cũng mong muốn bản thân mình cố gắng thâm nhập học tập “Quần Thư Trị Yếu”, cho nên mỗi một tiết học cũng xin chư vị tiền bối, học trưởng giúp đỡ chỉ dạy. Có chỗ nói không đúng, nói không thỏa đáng, xin mọi người chỉ ra chỗ sai.

Lần trước đã chia sẻ với mọi người đến chỗ Thừa tướng Ngụy Trưng viết phần lời tựa. Chúng ta tiếp tục phần cuối của đoạn văn tựa này. Lời văn nói: “Đản Hoàng Lãm biến lược, tùy phương loại tụ, danh mục hỗ hiển, thủ vĩ hào loạn, văn nghĩa đoạn tuyệt, tầm cứu vi nan”. Chỗ này nói đến thời đại Tam Quốc, thời nhà Ngụy đã biên soạn một bộ sách đặc biệt, hội tập sách vở xưa và đương thời để cho Hoàng đế nghiên cứu, biết rõ được cách trị quốc, nên sách được gọi là “Hoàng Lãm”.

“Biến lược”, chữ “biến” có nghĩa là mọi vấn đề đều có trong sách vở, cho nên việc hội tập rất là trân trọng.

“Tùy phương loại tụ”, chữ “loại tụ” này là đã được phân loại. Những quyển sách này đã được biên tập xong, hội tập xong.

“Danh mục hỗ hiển”. “Hỗ hiển” có nghĩa là danh mục của sách, những tình huống trùng lặp có những chỗ cần phải cải thiện, gọi là danh mục trùng lặp.

“Thủ vĩ hào loạn” là nội dung trước và sau khi biên soạn có thể có chút ít lộn xộn, tạo thành “văn nghĩa đoạn tuyệt”. Giống như toàn bộ Kinh văn, lịch sử đều được đọc lại, nghĩa văn và nội dung của nó không được nối liền xuyên suốt. “Đoạn tuyệt” chính là bị ùn tắc, tắc nghẽn. Những tình huống này thì nghĩa của câu văn bị cắt đoạn không được xuyên suốt.

“Tầm cứu vi nan” có nghĩa là Kinh văn, lịch sử phải được truy tìm tận nguồn gốc. Để thông đạt được nội dung, lý lẽ thì tương đối khó khăn, cho nên việc biên tập quyển “Quần Thư Trị Yếu” cũng là lấy “Hoàng Lãm”, điều tốt học tập, những chỗ chưa thỏa đáng đính chính thêm vào, lấy những điều tốt hơn để biên soạn thành một Bộ Bảo Điển Trị Quốc. Cho nên “Kim chi sở soạn”, ngày nay việc biên soạn bộ “Quần Thư Trị Yếu” này, “dị hồ tiên tác”, cùng với “Hoàng Lãm” có sự khác nhau, lấy cái hay, loại cái dở.

“Tổng lập tân danh”. Chữ “tổng lập” này là hội tập những đoạn ngắn tinh hoa trong cả bộ Quần Thư. “Tân danh” là tên mới. Liều mình lấy tên mới, nhưng “các toàn cựu thể”, tuy là đã hội tập những tinh hoa của quyển Quần Thư này rồi nhưng phải giữ nguyên thể lệ của quyển sách gốc để biên soạn, hoàn toàn không thay đổi thể lệ của quyển sách gốc. Mục đích chủ yếu càng không có sự sửa đổi quyển sách gốc, hy vọng có thể “dục lệnh kiến bổn chi mạt nguyên thủy yếu chung”. Giống như lúc đang xem bộ sách này, cổ nhân cầu học đặc biệt “cường điệu vụ bổn, quân tử vụ bổn, bổn lập nhi đạo sanh”. Xem Kinh, xem sử, những quyển sách xưa này hoàn toàn không phải để tiêu khiển, mà là để nâng cao trí huệ cho bản thân mình, nâng cao tri thức đời người. Đặc biệt, mỗi khi xem một đoạn Kinh văn đều có thể hiểu được đạo lý căn bản ở trong đó.

“Kiến bổn tri mạt” là xem nội dung của bản hội tập thì sẽ biết được gốc ngọn của đạo lý. Hơn nữa, “nguyên thủy yếu chung”, là so sánh với lịch sử, đem lịch sử từ đầu đến cuối trình bày rõ ràng đầu đuôi ngọn ngành. Không chỉ trình bày rõ ràng mà sau đó còn giải thích những câu chuyện lịch sử này để làm gương cho chúng ta.

Tiếp theo là: “Bính khí bỉ xuân hoa, thái từ thu thực”. Đây là một thí dụ đóa hoa tàn đi thì để lại quả, chính là trong số sách nhiều như vậy,  những điều tương đối không quan trọng thì lượt bỏ, chỉ để lại những điều nổi bật. “Tu tề trị bình” là nội dung của những học thức này. Mọi người thấy, bộ sách này là sự chắt lọc tinh hoa, tâm huyết của cổ nhân để lại cho chúng ta, vì vậy chúng ta nên xem với thái độ trân quý.

Thưa chư vị học trưởng! Giả như trước khi chúng ta biết được việc biên soạn bộ Quần Thư này có hơn một vạn quyển được chỉnh lý sàng lọc, nếu để cho các vị lao vào một vạn quyển sách này thì các vị sẽ như thế nào? Liệu các vị có bơi trở về được không? Hiện giờ các vị hãy yên tâm, chỉ có sáu mươi lăm quyển với 500 ngàn chữ, toàn là tinh hoa. Cho nên, chúng ta thấu hiểu được sự tận tâm suy xét của bậc Hiền Nhân, tâm cảm ơn, tâm cung kính của chúng ta liền sanh khởi. Nên đọc mỗi một chữ thật dụng tâm chuyên chú, giống như có cảm ứng vậy, thần giao cổ nhân, có thể hiểu sâu sắc nghĩa lý trong đó.

Lần trước chúng tôi có chia sẻ với các vị, lợi ích của việc học tập là do tự bản thân chúng ta quyết định, “một phần thành kính được một phần lợi ích, mười phần thành kính được mười phần lợi ích, trăm phần thành kính được trăm phần lợi ích, ngàn phần thành kính được ngàn phần lợi ích, vạn phần thành kính được vạn phần lợi ích”. Thưa các vị! Đoạn văn các vị vừa đọc đó là tri thức hay là học vấn? Nếu xem nó chỉ là văn tự thì hời hợt đọc qua, còn trong lúc đọc đoạn văn này với thái độ thành kính của chính mình, thì với mỗi câu các vị sẽ không ngừng được nâng đến điểm cao nhất. Thời gian trong tuần này, trước khi lật sách ra, việc đầu tiên có để lên trán đảnh lễ rồi sau đó mới mở sách ra hay không? Nếu có, vậy đã thật làm. Cảnh giới được nâng cao không có gì khác hơn là y giáo phụng hành. Các vị có nuôi dưỡng thói quen này hay không? Trước đây xem thì chưa hiểu, tuần này nhìn thấy thì hiểu, đó chính là tâm thành kính của các vị đã được cảm thông rồi.

Chúng ta đọc phần lời tựa này cũng có thể cảm nhận được việc biên soạn của bậc Thánh Hiền. Các Ngài tốn rất nhiều công sức mới biên soạn hoàn hảo. Cho nên nói đến: “Nhất thư chi nội, tuyển nhập đích mỗi nhất bổn thư”, nội dung sưu tập “nha giác vô di”. Đây là thí dụ có đầu có đuôi, toàn bộ kết cấu của nó rất hoàn chỉnh, không bị thiếu sót. “Nhất sự chi trung” là một câu chuyện trong lịch sử. “Vũ mao hàm tận” cũng là thí dụ đến cả chi tiết bé xíu cũng không bỏ sót, chính là sự toàn diện rất hoàn chỉnh. Y theo nguyên tắc như vậy để biên soạn bộ sách này. Ngụy Thừa tướng tin tưởng chắn chắn bộ sách này dụng chi đương kim, túc dĩ giám lãm tiền cổ”, là tiếp nhận, tiếp thu những nội dung này. “Dụng tại đương tiền” là dùng ở lúc hiện tại có thể “giám lãm tiền cổ”, tức là có thể lấy giáo dục của bậc Thánh Hiền ở trong lịch sử từ mấy ngàn năm trước làm gương để làm tốt hơn nhiệm vụ trước mắt của chúng ta, cho dù là tề gia hay là trị quốc, bình thiên hạ.

Con người nếu như trong việc xử sự đều lấy kinh nghiệm mấy ngàn năm lịch sử làm nền tảng thì làm việc rất là suôn sẻ. Từ đây suy luận ra, không biết mọi người có để ý cổ nhân khi gặp phải chuyện thì liền nghĩ đến thời Xuân Thu có câu chuyện gì có thể lấy ra làm tấm gương, thời nhà Hạ có câu chuyện gì có thể lấy ra làm tấm gương. Kính thưa các vị! Ngày nay chúng ta gặp phải chuyện thì trong đầu có nghĩ đến việc lấy thời đại nào làm tấm gương cho ta hay không? Hình như không nghĩ ra, là một mảng trống không, không bị phát cáu là hay lắm rồi ở đó mà còn lấy giai đoạn lịch sử nào ra làm tấm gương. Lúc này thì các vị đang ưu tư bất ổn định, trong đầu nhất định là bị rối loạn. Người xưa không chỉ có những tấm gương ở trong lịch sử, các Ngài rất có định lực, rất vững vàng, đó là do từ nhỏ đã được xây dựng nền tảng, nhất cử nhất động đều giữ lễ nghi phép tắc, tâm không tán loạn. Các vị nghĩ xem, giả như hiện nay thời gian không gian đảo ngược lại, để cho các vị lên ngôi Hoàng đế, bên dưới là văn võ bá quan, xin hỏi các vị ngồi trên cái ghế của nhà vua có được vững hay không?  Toàn bộ mọi người sẽ trừng mắt nhìn các vị: “Hoàng thượng!”. Lúc đó các vị phải có định lực, phải có sự can đảm và sự hiểu biết thì mới ngồi được. Bây giờ gọi các vị lên làm Hoàng hậu thì các vị có ngồi được hay không? Nếu chúng ta làm tỳ nữ thì có thể ngồi vững rồi. Các vị xem, một vị mẫu nghi thiên hạ thì cần phải có tâm lượng rất khoan dung độ lượng, định lực, trí tuệ. Nếu không, các vị nói sai một câu thì xong rồi, “Tả Sử Kí Ngôn” lập tức ghi chép chuyện của bạn truyền đi khắp nơi, đầu độc khắp thiên hạ, người dẫn đầu làm sai. Cho nên ngày xưa làm vua, làm Hoàng hậu là chuyện không dễ dàng, huống chi là Trưởng tôn Hoàng hậu thì càng phải vững vàng hơn trong những cơn tức giận của Đường Thái Tông, khéo léo khuyên can Hoàng đế để cho Hoàng đế tiếp nhận lời khuyên. Các vị xem, phải có kiến thức, có trí tuệ.

Đường Thái Tông rất yêu thích ngựa. Có một lần, con ngựa mà nhà vua yêu thích bị người nuôi ngựa làm chết. Nhà vua vô cùng nổi giận, lập tức hạ lệnh xử tử người này. Các vị là một vị quan ở bên cạnh nhà vua, ngay lúc đó thì phải làm sao? “Ai nói thì sẽ chết chung với người nuôi ngựa đó”, các vị có dám nói không? Chuyện này mà không có định lực, không có sự thông suốt về lịch sử, có lúc ứng phó với chuyện như vầy cũng bị lúng túng. Lúc đó Trưởng tôn Hoàng hậu liền kể một câu chuyện: “Thưa Hoàng thượng! Vào thời Xuân Thu, Tề Cảnh Công rất yêu thích ngựa. Con ngựa mà ông yêu thích bị người nuôi ngựa làm chết đi. Ông rất tức giận, nói phải xử tử hắn, ai cầu xin sẽ chết giống như hắn. Ngay lập tức, Thừa tướng Yến Tử nói: “Người này thật đáng chết, mang đao đến đây cho ta để ta chém, hắn thật đáng chết””. Các vị xem, Hoàng đế đang nóng giận như vậy, Thừa tướng Yến Tử nói: “Người này thật đáng chết, mang đao đến đây cho ta, hắn thật đáng chết”, ông làm theo ý của nhà vua, chẳng nghịch ý của nhà vua. Sau đó thì nói với người nuôi ngựa: “Ta nói cho ngươi biết, ngươi phạm ba tội lớn đáng chết. Thứ nhất, ngươi làm chết con ngựa yêu thương nhất của nhà vua, ngươi có đáng chết hay không? Thứ hai, nhà vua vì ngươi làm con ngựa chết mà phải giết nhà ngươi, làm cho cả quốc gia biết được nhà vua chỉ vì một con ngựa mà phải giết đi quân lính của Ngài. Làm cho cả quốc gia biết được nhà vua làm việc này, ngươi có đáng chết hay không? Hơn nữa, lại để cho toàn thể thiên hạ biết được nhà vua của chúng ta chỉ vì một con ngựa mà giết người, đây là tội lớn thứ ba”. Vừa nói xong, nhà vua nói: “Được rồi! Tha cho hắn đi!”.

Trưởng tôn Hoàng hậu lúc đó lập tức nghĩ ra câu chuyện của thời Xuân Thu. Đương nhiên cuối cùng Đường Thái Tông cũng nói: “Được rồi, được rồi!”. Các vị không nghịch với ý của nhà vua, nhưng cùng lúc dùng một câu chuyện lịch sử để khơi dậy chánh niệm của nhà vua, cơn tức giận của nhà vua sẽ không còn nữa. Cho nên các vị xem, hiện nay chúng ta muốn đi khuyên một người, có thể khéo léo kể một câu chuyện cho họ nghe để cho họ có thể tiếp nhận hay không. Điều này phải thấu triệt, chúng ta tích lũy kiến thức mới được. Vì vậy, muốn giúp một người không phải dễ, các vị phải bình tĩnh, các vị phải có trí tuệ, các vị phải có sự từng trải. Vì vậy, cổ nhân đọc Kinh điển đều thông đạt lý và sự. Đọc lịch sử, xem quá khứ đoán được tương lai, kiến thức vô cùng phong phú. Cho nên ở đây nói đến: “Dụng chi đương kim, túc dĩ giám lãm tiền cổ”.

Mọi người chúng ta sau khi học mấy tháng, hai bên có thể thảo luận với nhau. Thí dụ như tuần lễ này có thể đến sớm hai mươi phút, đem câu chuyện các vị gặp phải trong tuần này ra thảo luận với mọi người, sau đó nói: “Các vị xem câu chuyện này theo nội dung của “Quần Thư Trị Yếu” thì chỗ nào có thể bắt chước được rất tốt?. Mọi người cùng nhau thảo luận, cùng nhau nghiên cứu. Từ ánh mắt của các vị, tôi có cảm giác hình như các vị không tự tin có thể làm được. Học một việc gì thì trước tiên phải có niềm tin. Thật vậy! Mọi người dùng cái tâm như vầy mà thâm nhập, dùng tâm như vầy để thảo luận, thật sự là có thể làm được.

“Truyền chi lai diệp, khả dĩ di quyết tôn mưu, truyền chi tương lai”. Chữ “di” này chính là để lại cho đời con cháu, để vạch ra kế hoạch cho cuộc đời của họ, bởi vì họ có thể làm gương. Các vị Thánh Hiền này đã để lại những kinh nghiệm quý báu. Câu nói này phải thuộc lòng.

“Dụng chi đương kim, túc dĩ giám lãm tiền cổ, truyền chi lai diệp, khả dĩ di quyết tôn mưu”. Tiến thêm một bước nữa, “dẫn nhi thân chi”, đem những điều giáo huấn học được trong Kinh, Sử, Tử triển khai rộng ra trong mọi phương diện đối nhân xử thế, có thể “xúc loại nhi trưởng”, gọi là “xúc loại bàng thông”. Điều này cũng phù hợp với tinh thần của Khổng Tử, học một có thể biết được mười.

Hôm nay, chúng ta vừa bàn đến câu chuyện của một vị vua trị quốc, mà sự thật “dục trị kỳ quốc giả tiên tề kỳ gia”, cái lý này nhất định có thể dùng trong việc tề gia của chúng ta. “Dục tề kỳ gia giả tiên tu kỳ thân”, cũng có thể xem xét lại sự tu dưỡng của chính chúng ta để thể hội, để tiếp nhận, như vậy mới có thể “xúc loại nhi trưởng”. Có thể là vừa ngộ thì các vị có thể cảm thấy ngộ ra tất cả mọi phương diện của cuộc sống. Nền giáo dục Phương Đông của chúng ta đặc biệt xem trọng việc nâng cao tánh ngộ, chứ không phải là sự truyền bá kiến thức.

“Cái diệc ngôn chi giả vô tội, văn chi giả túc dĩ tự giới”. Câu nói này là tinh thần của “Thư Kinh”, bởi vì nội dung của “Thư Kinh” rất phong  phú, do sưu tầm ca dao của các quốc gia thời đó. Mà ca dao thì thường hay phản ánh tâm tư của người dân, thường hay nhắc nhở những người cầm quyền được gì và mất gì trong chính trị.

Chúng tôi trước đây nhớ hình như có xem bộ phim “Vườn Trường”, học sinh đều đặt biệt hiệu của giáo viên, có đúng không? Đương nhiên nhìn từ một góc độ sẽ cảm thấy học sinh như vậy là không tôn trọng thầy cô giáo, nhưng từ một góc độ khác, khi học sinh đặt biệt hiệu cũng chính là sự cảm nhận như thế nào của học trò đối với thầy cô giáo đều nói ra hết. Giả như chúng ta là giáo viên hướng dẫn, nghe được biệt hiệu học sinh đặt cho chúng ta thì có nên nổi giận hay không? Đây cũng là một cách bày tỏ tâm trạng (đương nhiên là phải từ từ dạy bảo các em tôn trọng thầy cô giáo), nhưng mà có lúc vì tình người, các vị không nên gấp gáp phê bình, áp đặt. Các em chưa chắc chịu tiếp nhận. Ngược lại, lúc này chúng ta có thể suy nghĩ lại, có thể điều chỉnh lại, có thể dùng đức hạnh để cảm hóa học sinh.

“Văn chi giả túc dĩ tự giới”, không chỉ là một lớp, thậm chí là cả một đoàn thể. Các vị là lãnh đạo của một đoàn thể, cấp dưới có những cách nhìn đối với các vị, họ cũng bày tỏ nỗi ưu tư, chúng ta phải nên rộng lượng khoan dung.

“Ngôn chi giả vô tội, văn chi giả túc giới”. Chúng ta ở cấp trên có cần chỉnh sửa chỗ này hay không? Chỉ vài người chịu nghe lời nói thật, chịu lắng nghe lời tâm sự của người khác. Trừ khi chúng ta có thể buông bỏ được sĩ diện, thật sự phải rất khoan dung mới có thể tiếp nhận lời khuyên của người khác, nếu không thì không thể nghe được những lời nói thật.

“Đức bất quảng bất năng sử nhân lai, lượng bất hoằng bất năng sử nhân an”. Những lời này thật ra, đối với chúng ta khi có phước báu trở thành người lãnh đạo của một đoàn thể, phải lấy điều này làm tấm gương. Luôn luôn đề cập đến, lãnh đạo của một đoàn thể là do nhân duyên tụ hội. Người trong cả đoàn thể đều có một phần tín nhiệm đối với chúng ta để có cái nhân duyên này. Chúng ta phải nên trân quý, cũng phải làm cho xứng với cái duyên này. Đức hạnh rộng lớn mới có thể cảm hóa mọi người đến với mình. Chúng tôi tiếp xúc với rất nhiều vị lãnh đạo đoàn thể mà gặp phải những tình huống nảy sinh trong đoàn thể thì nổi giận ngay lập tức. Cái đức này không rộng, sự khoan dung cũng quá nhỏ bé, không phù hợp với lời dạy bảo của cổ Thánh tiên Hiền. Cổ Thánh tiên Vương đã để lại cho những người lãnh đạo một lời dạy vô cùng quan trọng: “Vạn phương hữu tội, tội tại trẫm cung”. Bản thân của các Ngài là quốc vương, thiên tử, toàn bộ tội lỗi của người dân đều có phần trách nhiệm của các Ngài. Như vua Nghiêu, vua Thuấn, các Ngài cảm thấy nhân dân gặp trở ngại là do các Ngài chưa tận hết trách nhiệm dạy bảo. Đây chính là đức hạnh và cũng là lý trí. Trong đoàn thể có vấn đề, người lãnh đạo trước tiên là nổi giận, trách mắng. “Các tương trách, thiên phiên địa phúc”. Bản thân họ đã không còn lý trí thì làm sao khai mở trí tuệ cho người khác, việc này không thể nào. Hiện nay, đoàn thể không giữ được người thì người lãnh đạo phải suy nghĩ lại vấn đề nơi bản thân của mình. Vì sao vậy? Giữa người với người đều là sự chiêu cảm tự nhiên, không phải là sự cưỡng ép. Mọi người sống chung với chúng ta rất hoan hỷ tự nhiên sẽ chiêu cảm người khác đến. Họ cảm thấy ở trong đoàn thể của chúng ta được tăng thêm trí tuệ, rất vui vẻ, phát triển rất tốt thì họ rất vui vẻ chủ động kéo đến, không cần lôi kéo, không cần kêu gọi, đều là do cảm ứng. Đời người đều là do duyên giữa người với người, cũng không nằm ngoài hai chữ “cảm ứng”.

“Phương dĩ loại tụ, vật dĩ quần phân”. Chúng ta đều hiểu rõ đạo lý giao cảm này. Lúc chúng ta không giữ được người, một người lãnh đạo nhất định không nên trách mắng người khác. Lãnh đạo mà trách mắng người khác thì  phước báu, tâm tánh không ngừng bị giảm sút. Không còn phước báu thì không còn làm lãnh đạo nữa. Có phước mà bị mất đi thì rất oan uổng.

“Lượng bất hoằng bất năng sử nhân an”. Phải có lòng khoan dung mới có thể làm cho mọi người sống chung với các vị an tâm, an ổn, an lạc.

Chúng ta học được câu nói: “Ngôn chi giả vô tội, văn chi giả túc dĩ tự giới”. Thái Tông Hoàng đế rất tinh tế sâu sắc. Tinh thần của “Thư Kinh”, tiếng nói từ đáy lòng của người thân, của thần dân, các vị hãy cố gắng nghe để tu chỉnh bản thân mình. Hoàng đế Thái Tông không những nghe mà còn chủ động hướng dẫn quan quân đến khuyên Ngài: “Thiên cổ nhất đế”. Không đơn giản! Bản thân chúng ta từ thái độ của Thái Tông, chúng ta nói: “Xúc loại nhi trưởng”. Quay lại bản thân chúng ta, hiện giờ nếu có người thân, người bà con, người ở bên cạnh nói với các vị: “Tôi xin có ý kiến với anh”, thì trong lòng như thế nào? Tim đập phình phịch, tim có đập nhanh hơn bình thường không? Kỳ lạ thật, chỉ là kể với các vị một việc, đưa ra ý kiến thì tại sao tim của các vị lại đập nhanh hơn? Tim đập nhanh hơn chỉ là kết quả, xin hỏi nguyên nhân là do đâu? Khởi cái sĩ diện lên, cho nên tim mới đập nhanh hơn. Có khi nào vợ của các vị nói: “Em xin đề xuất ý kiến này”, thì ngay lập tức các vị mỉm cười rạng rỡ: “Được! Nói đi, nói nhanh đi!”. Có như vậy thì ta mới tiến bộ. Có ai được như vậy chưa? Xin nhận tiểu đệ một lạy. Vậy là sự tu dưỡng của các vị không hề đơn giản, tinh thần của Hoàng đế Thái Tông các vị học được rồi, Hoàng đế Thái Tông cũng là lấy vua Nghiêu, vua Thuấn làm tấm gương.

Phần sau quyển “Quần Thư Trị Yếu” cũng nói đến, vua Nghiêu, vua Thuấn ngay lúc đương thời, trước mặt bá quan văn võ cũng đều là như vậy. Các vị hiện nay cũng nên đem vấn đề của tôi nói ra ở đây, không nên đi ra khỏi cửa rồi mới nói như vậy, là “dĩ thiên hạ vi niệm”, nơm nớp lo sợ, sợ là bản thân mình làm sai. Thời đại của Thái Tông, quan quân khuyên can Ngài không bị áp lực, chủ động đề xuất ý kiến với vua.

Lần nọ, có một vị quan đề xuất một số ý kiến. Thái Tông gật gật đầu. Sau khi vị quan đó đi ra ngoài, có một vị cận thần ở bên cạnh nghe xong thì không chịu được, nói: “Thưa Hoàng thượng! Vừa rồi vị quan đó đưa ý kiến không đúng chút nào cả, sao Ngài không ngăn cấm ông ấy vậy?Ông ấy nói hoàn toàn không đúng gì, không phải là chỉ ra cái đúng cho Hoàng thượng”. Có những lúc người ta chỉ ra cái đúng của chúng ta, chúng ta không được vui, không dẹp được sĩ diện. Cho nên, mọi người muốn tu thân mà không bán hết sĩ diện thì thật sự tu không được. Chúng ta học “Quần Thư Trị Yếu”, trước tiên phải bán cái sĩ diện đi. Xin hỏi mọi người muốn bán bao nhiêu? Tôi sợ là tiền tôi mang theo không đủ mua. Thật sự nên nói là, ai chịu kéo cái sĩ diện của mình xuống, các vị nên cho họ tiền, các vị còn phải cảm ơn họ, mang ơn họ. Ngày nay, ngoài cha mẹ và sư trưởng ra, có ai chịu nói với chúng ta? Mọi người đều sợ bị đắc tội. Tội gì mà người ta làm cho các vị băn khoăn! Thật sự dám nói với chúng ta, đó là đạo nghĩa chi giao.

“Thiện tương khuyên, đức giai kiến”, “hữu trực, hữu lượng, hữu đa văn”, bạn bè như vậy là chánh trực. Đã nói nhiều như vậy, thật ra tôi cũng rất sĩ diện. Giảng đoạn này cũng là không ngừng nhắc nhở chính mình, lần sau thật sự khi nghe được lời khuyên của người khác có thể tim không đập nhanh nữa, thật sự là có thể tiếp nhận với vẻ mặt ôn hòa, nếu không thì lãng phí quá nhiều thời gian của mình, tâm tánh không chỉ không được nâng cao mà còn bị biến chất. Đời người đáng thương nhất là bị chính mình lừa dối chính mình, không có việc gì đáng thương hơn việc này. Vì vậy, mọi người luôn luôn phải khuyên chính mình, tự mình phải hiểu chính mình mới được.

Quan cận thần xung quanh không nhất định phải thể hội được tâm tình của Thái Tông, ông cũng đã biểu lộ ra ngoài: “Thưa Hoàng thượng! Hiện giờ hạ thần thấy chuyện bất bình không tha. Ông ấy nói không đúng”. Thái Tông liền giải bày: “Ông ấy nói có một chuyện đúng đối với ta thì nó có sự giúp đỡ rất lớn, cho dù là nói không đúng một chuyện nào cả, ta cũng phải chấp nhận. Giả như ta phản bác, vị quan này đi ra ngoài nói là “ta nói cái gì nhà vua cũng không được vui, còn mắng ta một trận”. Chuyện này sau khi truyền ra bên ngoài có thể ảnh hưởng đến việc can gián của bá quan văn võ”. Chuyện này truyền ra bên ngoài thì có thể trong lúc khuyên can quan quân sẽ rất do dự, sẽ lo âu, như vậy thì đối với cả quốc gia này không được lợi ích. Các vị xem, nhà vua nhìn sự việc ở chiều cao khác nhau, Ngài muốn quan quân hình thành thói quen khuyên can mà không có sự lo lắng.

“Văn chi giả túc dĩ tự giới, ngôn chi giả vô tội”. Không trách mắng những vị quan này, thật sự có thể tiếp nhận được lời dạy bảo trong “Quần Thư Trị Yếu”. Hơn nữa, câu nói: “Ngôn chi giả vô tội, văn chi giả túc dĩ tự giới” cũng là nhắc nhở chúng ta, toàn bộ “Quần Thư Trị Yếu” là nói để cho ta nghe, là để cho ta tự răn mình, nhất định không phải để theo dõi người khác, yêu cầu người khác, phê phán người khác, mà bản thân của chúng ta phải tự răn mình. Không chỉ “ngôn chi giả vô tội” mà chúng ta còn phải có lòng biết ơn, cảm ơn tất cả sự dạy bảo của Thánh Hiền. Tấm lòng như vậy, tin tưởng “thứ hoằng từ cửu đức, giản nhi dị tung”, từ nơi bản thân chúng ta mà học tập. Sau khi đã tiếp nhận rồi, chúng ta phải thực hiện “nhân năng hoằng đạo”. Chúng ta phải thực hiện hoằng dương triển khai tất cả những đức tính làm người xử sự trong Kinh điển. Chữ “cửu” này chúng ta đã quen thuộc, tam lục cửu vi đại. “Cửu đức” có thể chỉ ra rất nhiều đức tính quan trọng. Ngoài ra, trong những loại sách khác cũng có dùng chữ “cửu đức”, như là trong sách “Thượng Thư” cũng có.

“Cửu đức”, trước đây chúng tôi đã có giảng giải qua cho các vị “Gián Thái Tông Thập Tư Sớ”, trong đó phổ biến là những mỹ đức quan trọng. Sau khi học xong thì áp dụng, có thể triển khai rộng khắp. Đặc biệt là đời nhà Đường, Hoàng đế hạ lệnh, bá quan văn võ nếu như học tập, toàn thể mỹ đức được triển khai rộng ra, bởi vì có nhà vua dẫn đầu.

Vì vậy, chúng tôi cũng hy vọng “Quần Thư Trị Yếu” có thể có nhiều nhà chính trị cùng nhau đến học tập. Đương nhiên, nếu người thân, bạn bè xung quanh các vị tham gia việc chính trị, làm lãnh đạo, các vị có thể khéo léo giới thiệu cho họ bộ sách này. “Quân tử tín nhi hậu gián”. Nếu muốn cho người ta tin tưởng thì trước tiên bản thân mình phải làm cho tốt, để cho họ chấp nhận văn hóa truyền thống, có niềm tin. “Giản nhi dị tùng” là giản tiện, dễ dàng thực hiện được. Bởi vì bộ sách này là nắm chắc những vấn đề “tu - tề - trị - bình”. Bộ sách này cũng không phức tạp, có thể đơn giản nắm chắc những cương lĩnh này, sau đó có gắng mà thực hiện.

Cuối cùng là đề cập đến: “Quán bỉ bách vương, bất tật nhi tốc”. Chữ “quán” này là những điều răn dạy. “Bách vương” là chỉ những vị Thánh Hiền tiên vương trước đời nhà Đường, những lời răn dạy cổ đại, những lời giáo huấn và kinh nghiệm của đế vương trị quốc này. “Bất tật nhi tốc”. Mọi người xem văn ngôn văn này, mỗi một chữ đều có đạo vị. Chữ “tật” này là sự sai lầm, chính là mượn những tấm gương của các vị Thánh vương thời xưa để trị quốc, không được phạm quá nhiều lỗi lầm. “Bất tật”, “nhi tốc”; chữ “tốc” này chính là nhanh chóng dẫn dắt quốc gia được ổn định, giàu mạnh.

QUẦN THƯ TRỊ YẾU 360 Tập 6

Trước đây, giai đoạn đầu đời Trinh Quán đã biên soạn quyển sách này, mà “Trinh Quán Chi Trị” thực sự là trong vòng thời gian năm - ba năm thì cả quốc gia nhanh chóng giàu mạnh lên. Chúng ta hôm nay học đến bài văn tựa này, học đến “Quần Thư Trị Yếu” có thể rất rõ ràng thông suốt vì sao đời nhà Đường có thể ra quyển “Trinh Quán Chi Trị”, chính là vì lấy trí tuệ của những vị cổ Thánh tiên Vương làm gương.

Vì sao nói “Phước tại thụ giám”? Phước báu lớn nhất của một người ở chỗ nào? Là tiếp nhận sự khuyên can của Thánh Nhân, tiếp nhận sự khuyên can của người khác. Đứng trên vai của người khổng lồ thì nhìn được càng xa, ít đi qua những đoạn đường quanh co. Khổng Tử trở thành Thánh nhân, thái độ nghiên cứu học vấn quan trọng nhất chính là “thuật nhi bất tác”, “tổ thuật Nghiêu Thuấn, hiến chương văn võ”, hoàn toàn thành kính, thật lòng tiếp nhận lời giáo huấn của Thánh Hiền, nỗ lực thực hiện. Ngài đã trở thành bậc chí Thánh tiên Sư, “thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ”, tin tưởng lời giáo huấn của cổ Thánh tiên Hiền. Cho nên, người tin tưởng tổ tiên là người có phước báu nhất.

Các vị xem thời đại này của chúng ta, toàn bộ những vấn đề và nguy hiểm khó khăn nảy sinh trong gia đình và xã hội của tất cả người Hoa chỉ cần nói một câu là xong: “Không nghe lời người xưa, thiệt thòi ngay trước mắt”, “khí thường tắc yêu hưng”. Chúng ta lìa bỏ luân thường đạo đức, lìa bỏ cang thường. Những điều này thì tổ tiên nhấn mạnh nhất mới xảy ra những vấn đề này. Lúc đó, khi viết đoạn này là giai đoạn đầu của Trinh Quán, từ chỗ này chúng ta có thể nhìn thấy niềm tin của Ngụy Thừa tướng đối với lời giáo huấn của tổ tiên. Trong lời tựa đã nói trước: “Bất tật nhi tốc”, quả thật là Trinh Quán Chi Trị đã làm được. Hoàng đế đều dùng những đại thần có trí tuệ giống như vậy là phước của quốc gia.

“Sùng nguy nguy chi thạnh nghiệp, khai đãng đãng chi vương đạo”. “Nguy nguy” thật ra cũng là hình dung từ của cao quý, gây dựng cơ nghiệp cao quý, cũng là làm cho nhà Đường ổn định lại, có thể phát triển nền tảng lâu dài, cơ nghiệp cao quý của Thánh Hiền.

“Khai đãng đãng chi vương đạo”. Chữ “đãng đãng” này là rất rộng lớn, bằng với việc mở rộng, lấy đạo lý nhân nghĩa trị quốc rộng lớn mà trị thiên hạ. Trước đời nhà Đường mấy trăm năm, chiến tranh loạn lạc, người lãnh đạo không để người dân ở trong tâm nên mới tạo ra hậu quả như vậy. Cho nên, điều này đã thể hiện rõ ràng, lấy đạo lý nhân nghĩa trị thiên hạ thì mới được những quốc gia chung quanh. Các dân tộc gọi Đường Thái Tông là “Thiên Khả Hãn”, có nghĩa là người chủ chung của thiên hạ.

“Khả cửu khả đại chi công”. “Khả cửu khả đại” là bộ sách này. Cho nên theo bộ sách này mà có được Trinh Quán Chi Trị, hưng thịnh như có thể vạn đời không nhạt phai, công lao và thành tích tồn tại vạn đời không phai nhạt. Không chỉ công lao và thành tích của thời đại đó, mà toàn bộ sau đời nhà Đường, tôi tin là mỗi một thời đại hưng thịnh đều có đọc qua “Trinh Quán Chánh Yếu”.

“Trinh Quán Chánh Yếu” là do Ngô Căng viết. Ngô Căng đời nhà Đường, sau Trinh Quán thì sưu tập toàn bộ tài liệu của thời kỳ Trinh Quán để viết thành bộ sách đó. Thật sự là tinh thần của Trinh Quán trường tồn, hơn nữa vẫn có lợi ích về chính trị cho đời sau, vì vậy bộ sách này có thể được gọi là “Khả cửu khả đại chi công”.

Bính thiên địa chi Trinh Quán”. Chữ “bính” là (bộ pháp điển, thánh điển này) cùng tồn tại với đất trời. Bởi vì chữ “Trinh” có nghĩa là chánh, có nghĩa là đại; “quán” là đạo lý, cũng có thể là “triển thị cấp nhân khán”, nghĩa là dùng chánh đạo hiển thị cho mọi người xem. Thật ra là nói bộ sách này chính là một bộ Kinh điển rất hay, hơn nữa nó có thể là Kinh điển tồn tại cùng với trời đất. “Bính thiên địa chi Trinh Quán”, lúc đó lấy tên là Trinh Quán, lúc đó vẫn chưa có kết quả. Chúng ta xem, mỗi thời đại phải có chí khí, quyết chí mà làm thì sẽ thành tựu. Cho nên, một vị Hoàng đế khi lập niên hiệu cho chính mình, nhà vua rất thận trọng, bởi vì đó là mục tiêu của nhà vua, niên hiệu của nhà vua nên rất thận trọng.

Thưa chư vị học trưởng! Khi đặt tên cho con thì các vị có thận trọng không? Kỳ lạ, chuyện đặt niên hiệu và chuyện đặt tên cho con thì có liên quan gì chứ? Xin thưa với các vị, chúng tôi vừa nhìn thấy câu nói này của Ngụy Thừa tướng: “Dẫn nghi thân chi, xúc loại nhi trưởng, cử nhất phản tam”. Một đứa bé vào trong gia đình của các vị là một cái duyên, tên mà các vị chọn là mục tiêu cho cả cuộc đời của đứa bé, làm sao mà không thể thận trọng được chứ. Mấy câu này có thể cảnh giác cho cuộc đời của chúng ta.

“Nhật dụng nhật tân chi đức”. Tuân theo bộ Kinh điển này để tu dưỡng bản thân mình, đức hạnh sẽ tiến bộ từng ngày. Thật ra, đức hạnh con người nếu không tiến bộ mỗi ngày thì sẽ bị thoái (không tiến thì sẽ thoái). Trong “Đệ Tử Quy” có nói: “Quá năng cải, quy ư vô. Đức nhựt tiến, quá nhật thiểu. Năng thân nhân, vô hạn hảo”. Một ngày không thân cận với Thánh Hiền thì tập khí liền trổi dậy, hoặc là sẽ bị nhiễm rất nhiều tập khí không tốt. Chúng ta học tập “Quần Thư Trị Yếu” có một nguyên tắc, đó là một ngày không thể không xem.

Từ ánh mắt của mọi người, tôi cảm nhận được nội dung chúng tôi chia sẻ lần trước các vị đã quên cũng nhiều. Lần trước chúng tôi đặc biệt nói đến một điều. Có vị học trưởng nào sẽ nói: “Thưa thầy Thái! Hiện giờ cần nói điều gì, tôi nói được” không? Có ai không? Lẽ nào các vị để cho tôi hôm nay không ngủ được sao? Có ai nghĩ ra hiện giờ tôi muốn nói điểm quan trọng nào của bài học không? Tuy là hiện giờ tôi sắp muốn khóc nhưng phải nén lại. Lần trước chúng tôi nói đến: “Thủ bất thích quyển”. Đây là thành ngữ, là sự hiểu biết. Tiến thêm một bước, phải biến thành cuộc sống của chúng ta, phải trở thành hành vi cụ thể. Xin hỏi, mọi người hiện giờ trong mấy cái gói đó có quyển sách cầm tay hay không? “Vãng Tinh Tập” của Đại Sư Hoằng Nhất, “Cách Ngôn Biệt Lục”, có thời gian nên nhanh chóng huân tập, rất quan trọng. Mỗi một đạo lý phải nhanh chóng kết hợp với cuộc sống đời người, đây mới là thực học.

“Cổ nhân học vấn vô dị lực, thiếu tráng công phu lão thủy thành, chỉ thượng đắc lai chung giác thiển, tuyệt tri thử sự yếu cung hành”. Sau khi học mỗi một câu, “cung hành” chính là phải áp dụng, phải thực tiễn mới có lợi ích. Tự bản thân mình được lợi ích thì mới có thể mang lợi ích cho người khác, tự mình không được lợi ích thì làm sao giúp người khác có được lợi ích.

Cho nên, “thủ bất thích quyển”. Giả như tôi xem đoạn văn của “Quần Thư Trị Yếu”, cả đoạn có ba câu nói làm cho tôi đặc biệt ngộ sâu, liền viết ra trên một tờ giấy, bỏ vào trong túi, lấy ra xem liên tục mấy ngày để huân tập. Xem đi xem lại thì liền nhập tâm. Kiến thức, “Thư sơn hữu lộ cần vi kinh”, vẫn là phải nhờ vào sự cần cù mà hạ công phu.

“Tương kim kính dĩ trường huyền”. Các vị xem, Ngụy đại nhân đã hội tập trí tuệ của các vị đại thần, Ngài rất tin tưởng bộ sách này giống như gương sáng, hơn nữa là “trường huyền”. “Trường huyền” là vĩnh viễn treo lên trên cao. Cái gương có tác dụng gì? Chiếu sáng, chiếu sáng cho đời sau, để cho đời sau lấy đó làm gương.

Chúng tôi đọc đến đoạn này, nghĩ đến bộ sách này, hơn một ngàn năm nay trong xã hội người Hoa chúng ta đã bị mất đi, lưu truyền qua đến Nhật Bản. Tổ tiên từ bi, âm thầm phù hộ, vào thời nhà Thanh bộ sách này đã quay trở về. Sau đời nhà Thanh Trung Diệp, dần dần người đi học không còn làm tấm gương nữa, biết nói mà không cố gắng thực hiện, cho nên đã hình thành từ những năm cuối đời nhà Thanh cho đến hiện nay cả xã hội người Hoa phê phán văn hóa của chính mình, thậm chí còn cảm nhận rằng do văn hóa mà đã làm cho dân tộc chúng ta bị suy yếu. Điều này là quá bất công, quá sai lầm! Làm sao để chấn chỉnh? Không có gì khác “hiển chánh phá tà”, hoằng dương khắp nơi Kinh điển chánh tri chánh kiến, từ nơi hành vi của chính mình mà hoằng dương rộng ra. Nếu không thì miệng chúng ta nói Kinh điển mà hành vi thì không tương ưng, ngụy quân tử, lại đi theo vết xe đổ tình trạng của cuối đời nhà Thanh.

Thời đại này không phải dễ, toàn thể nền văn hóa đã bị gián đoạn gần 200 năm, cho nên thế hệ này của chúng ta thật sự gánh vác nhiệm vụ nặng nề. Việc này cần phải hai - ba thế hệ mới phục hưng lại toàn bộ nền văn hóa. Đặc biệt là thế hệ chúng ta sẽ tương đối vất vả. Vì sao vậy? Sự tích lũy của chúng ta có giới hạn, ngay cả việc nói cũng đã gặp khó khăn. Nói cũng bị khó khăn, vậy có nên nói hay không? Những vị vừa trả lời: “Nói” xin nán ở lại chỗ này một chút nhé. Các vị được xếp vào những người ưu tiên được lựa chọn. Người ta mạnh dạn đảm nhận phải không? Các vị xem, chúng tôi nói đến câu này thì nghẹn lại không thành lời. Gánh vác trách nhiệm là đã bắt đầu trưởng thành. Nhưng xin mời các vị học trưởng nói trước. Các vị học trưởng, có phải là các bạn nghĩ như vậy không? Bản thân các vị không nói trước đi mà bảo tôi nói, tôi cảm thấy giống như có một chút không hợp tình, cho nên những người bạn đồng nghiệp của chúng ta nên lên đây trước. Các vị vỗ tay là có ý gì? Xin báo với các vị, học tập Kinh điển từ đầu đến cuối phải ghi nhớ một câu nói: “Học vấn chi đạo vô tha, cầu kỳ phóng tâm nhi dĩ”, phải không? “Đạo dã giả, bất khả tu du li dã”. Đạo ở đâu? Ở trái tim này. Cho nên toàn bộ Kinh điển đều là giúp cho chúng ta nâng cao tâm cảnh giới này, làm cho tâm cảnh luôn luôn tương ưng với Kinh điển, tương ưng với chân thành - thanh tịnh - bình đẳng - chánh giác - từ bi, có phải như vậy không? Phải! Các vị vừa vỗ tay có tương ưng với chân thành - thanh tịnh - bình đẳng - chánh giác - từ bi, hay là tương ưng với việc vui sướng trên sự đau khổ của người khác?

Vừa rồi chúng tôi có nói đến một điểm quan trọng, một người đáng thương nhất là tự bán chính mình đi. Nhất ngôn nhất hạnh, nhất cử nhất động của chúng ta, tâm của chính mình là tâm gì, chính mình phải nên biết rõ, đây mới thật sự là đi trên đường tu. Vì vậy phải tu từ căn bản, tức là tu từ sự khởi tâm động niệm. “Quán tâm vi yếu”, quan trọng nhất là khéo quán cái tâm này, nhất định phải ở trong đạo, không nên ở trong sự mê hoặc điên đảo.

Được rồi, mọi người yên tâm, chúng tôi sẽ làm hài lòng các vị. Tôi sẽ mời các đồng nghiệp lên đây giảng vài tiết học. Đương nhiên tôi sẽ không rút thăm, tôi hy vọng họ tự động tự phát. Nhưng hy vọng họ sớm đến đây cùng giảng với tôi, như vậy thì áp lực trong tâm tôi sẽ tương đối nhẹ, nếu không thì tôi ở đây sẽ nghĩ: “Sao mà không có ai đến vậy”, đến lúc ngủ cũng không được, phải uống thuốc an thần. Sao mà tôi lại nói đến chỗ này?

Đối mặt với thời đại này, mỗi người không nên chùn bước. Sự truyền thừa văn hóa dân tộc của cả quốc gia đang ở trong nguy cơ tồn vong. “Thử thành nguy cấp tồn vong chi thu dã”. Tinh thần của Khổng Minh có hợp thành một thể với chúng ta hay chưa? Có cái trách nhiệm này, tôi tin rằng như có thần linh trợ giúp nên sự nâng cao cho bản thân mình rất nhanh. Chúng tôi vừa nói đến sự tích lũy cho bản thân mình vẫn chưa đủ dày, nhưng ở thời đại này, ngay cả người nói cũng là quá ít ỏi rồi. Lúc này, chúng ta nếu nắm vững một nguyên tắc: “Không biết thì không nói, biết mới nói”. Làm sao mà biết được? Là từ nơi làm việc, bản thân thật sự làm được thì mới nói. Ta biết được một chút thì tận tâm tận lực cúng dường một chút. Mọi người đều không nói, không chịu ra đảm đương gánh vác.

Chúng tôi cũng có nghĩ đến sự gánh vác của Phu tử. Phu tử nói đến: “Thi thư chi bất giảng, lễ nhạc chi bất tập, khu chi tội dã”. Lục Kinh này không hoằng dương rộng ra, Khổng Tử cũng không trách bất kỳ người nào, Ngài nói đó là lỗi lầm của chính Ngài. Chúng ta nên noi theo tinh thần này.

Chúng tôi lần này cùng học “Quần Thư Trị Yếu 360” với các vị, năm nay học 360 câu, sang năm lại học 360 câu. Chúng ta học từ cạn đến sâu, tuần tự tiến dần lên. Chuẩn bị chu đáo mới làm được tốt. Dự định học 3.600 câu trong mười năm. Sau mười năm, thật sự học xong “Quần Thư Trị Yếu”. Lúc này toàn bộ các học trưởng bắt đầu mở các cuộc họp: “Anh đi sang nước Anh được không? Anh đi sang Na Uy được không?”. Các vị đều phải nói tiếng Anh. Mười năm các vị hạ công phu, các vị có thể làm chuyên gia về “Quần Thư Trị Yếu”. Nếu như công phu sâu, “có công mài sắt có ngày nên kim”, mười năm các vị thật sự tích lũy, tôi tin là các vị đi cúng dường cho người dân ở một vùng, cúng dường khoảng mười mấy ngày cũng không có vấn đề gì, phải không? “Giáo học hựu tương trưởng”, các vị không ngừng được nâng cao, không ngừng thâm nhập. Hiện nay, 360 câu của năm thứ nhất gấp rút đẩy nhanh tốc độ xét duyệt. Bởi vì phải dịch xong tiếng Quan Thoại, cho nên hiện nay vẫn chưa phát cho mọi người, xin mọi người rộng lượng khoan dung. Nhưng trước mắt đã xác nhận các tập, chúng tôi sẽ dùng email gửi cho mọi người học trước.

SÁU CƯƠNG MỤC CỦA QUẦN THƯ TRỊ YẾU

Chúng tôi xin nói trước, chúng tôi biên tập 360 câu này là dựa vào cương lĩnh nào? Bởi vì lý lẽ của 360 câu thiên lệch không giống nhau, chúng tôi tập hợp 360 câu này thành sáu cương mục chủ yếu. Là sáu cương mục nào?

  • Thứ nhất là “Quân đạo”. Là vua thì phải làm như thế nào, tuân theo những đạo lý nào.
  • Thứ hai là “thần thuật”, là một vị quan thì phải làm sao tận hết bổn phận.
  • Thứ ba là “quý đức”,
  • Thứ tư là “vi chánh”,
  • Thứ năm là “kính thận”
  • Và thứ sáu là “minh biện”.
  • Thứ nhất là “Quân đạo”

Trong cương thứ nhất này còn có hạng mục.

Mục thứ nhất “tu thân”.

Mọi người vừa xem đến hai chữ “tu thân” này thì có nghĩ đến câu nói nào không? “Tự thiên tử dĩ chí ư thứ nhân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bổn”. Trong “tu thân” chúng tôi tạm thời xếp thành mấy điểm. Mấy điểm này chờ chút nữa sẽ nói đến. “Tu thân” là “đôn thân”, tu thân tề gia. “Kỳ gia bất khả giáo, nhi năng giáo nhân giả, vô chi, cố quân tử bất xuất gia, nhi thành giáo ư quốc”, vì vậy tu thân trước tiên cũng phải tề gia. Giống như chúng ta hoằng dương văn hóa vậy, trong nhà của mình thì rối loạn lung tung mà đi ra ngoài hoằng pháp sẽ làm trò cười cho người ta.

Trong “Trung Dung” cũng có một phần triết học vi chứng rất sâu sắc, thấu triệt. Phần này chúng tôi cũng có tuyển chọn, sau này sẽ chia sẻ chi tiết với các vị. Trong đó đề cập đến “Phàm vi thiên hạ quốc gia hữu cửu Kinh”, là chín loại cương lĩnh, nguyên tắc quan trọng. Thứ nhất là “tu thân dã”.

Thứ hai là “tôn hiền dã”, tôn trọng người hiền đức. Trí huệ của các Ngài có thể dẫn dắt toàn thể quốc gia vào sự ổn định. Điều này vô cùng quan trọng. Rất nhiều vị Thủ tướng hoặc Tổng thống vừa nhận chức, trước tiên là tuyển cố vấn chính sách cho quốc gia. Vị cố vấn này phải có kinh nghiệm và trí tuệ, có thể đưa ra những ý kiến vô cùng quý báo cho quốc gia. Trong “quân đạo”, chúng ta cũng có phần “tôn hiền” này.

“Đôn thân”, còn có “phản thân”. “Phản thân” cũng là “vi quân giả đích tu dưỡng đích quan kiện sở tại”. Mọi người nhìn thấy chữ “phản thân” thì có nghĩ đến câu nói nào hay không? “Phản cầu chư kỳ thân”, “hạnh hữu bất đắc, phản cầu chư kỉ”.

Tiếp theo là “nạp gián”. Mọi người không nên chép, tuần này chúng tôi sẽ phát cho các vị. Chép cũng được, cũng tốt, tăng thêm một lần ấn tượng, sự sự vô ngại.

Tiếp theo, “đỗ xàm tà”. Không chỉ là tiếp nhận lời can gián trong lúc nghe để lấy ý kiến, mà còn phải đoán ra được đâu là những lời nói của gian thần, không để họ bị làm ảnh hưởng.

Tiếp theo là “thẩm đoạn”. Một vị vua, mỗi một quyết sách có sự ảnh hưởng rất lớn đối với quốc gia, nên nhất định phải phán đoán rất kỹ càng và chuẩn xác. Cho nên có một câu tục ngữ: “Quyết sách sai lầm thì nghiêm trọng hơn cả tham ô”. Các vị xem, rất nhiều quyết sách sai lầm của công thần làm được phân nửa thì làm lại từ đầu. Sự tổn phí về nhân lực, vật lực, tài lực thật là đáng sợ. Có những quốc gia khi thực hiện một số quy hoạch đều nghĩ đến năm mươi năm, 100 năm sau. Suy nghĩ như vậy đáng cho chúng ta noi theo. Nhiều công trình xây dựng đều phải có tầm nhìn xa. Phần “tu thân” ở trong mục này chúng ta lại triển khai ra các cương mục nhỏ là “giới tham”, “cần kiệm”, “trừng phẫn”. Kỳ thực, “giới tham” chính là “trất dục”, “thiên thiện”, “cải quá”. Có nghĩ đến lời dạy bảo của tổ tiên từ bốn ngàn năm trăm năm trước hay không, trong đó chính là nhắc nhở chúng ta trừng phẫn, trất dục, thiên thiện, cải quá”. Hôm nay chúng ta sẽ đi vào phần “tu thân” này, chia sẻ với mọi người về “giới tham”, “cần kiệm”, những tôn chỉ quan trọng này.

  • Thứ hai là “thần thuật”, “vi thần giả”.

Trước tiên, hạng mục trong bộ phận này bao gồm “lập tiết”, phải có tiết khí, phải có tiết tháo. Tiết tháo của quan quân là trụ cột của cả quốc gia. Cương thường chính là bắt đầu làm từ nơi quan quân. Đại thần vô tiết thì quốc gia này sẽ nhanh chóng bị sụp đổ, khi quan tham ô thì quốc gia này đang trong cơn nguy khốn.

“Lễ nghĩa liêm sĩ, quốc chi tứ duy”. Ai đại diện cho “lễ - nghĩa - liêm - sĩ”? Là sỹ đại phu, họ là người hướng dẫn phong khí của toàn xã hội, họ phải làm gương, cho nên “lập tiết”.

Tiếp theo là “tận trung”, tận trung chí thủ. Trong bổn phận của họ còn có “khuyến gián”.

Tiếp theo là “cử hiền”. Một người làm quan, thậm chí là một người trong đoàn thể, trong một đơn vị, sự cống hiến lớn nhất cho đơn vị là bồi dưỡng nhân tài, giới thiệu nhân tài, đây là sự cống hiến lớn nhất. “Nhân tồn, chánh tài năng cử”, có nhân tài mới có thể tiếp tục sự việc được. Giả như thế hệ này đã làm, thế hệ kế tiếp thì không ai làm, vậy đã bị gián đoạn rồi, không phải là công lao đổ xuống biển rồi sao? Tất cả những nỗ lực cuối cùng trở thành con số không. Nhân tài là việc quan trọng nhất.

Ngày xưa nhà vua biết được, vừa lên ngôi thì việc đầu tiên là lập thái tử. Hơn nữa, trong khi bồi dưỡng thái tử thì cùng lúc bồi dưỡng hết tất cả con cái của các đại thần; mời thầy giáo có tri thức nhất, có đạo đức nhất trong toàn quốc đến dạy cho cả nhóm trẻ con, nghĩa là toàn cả thành viên nòng cốt của thế hệ sau đều được giáo dục tốt. Xây dựng nền móng vững chắc, suy nghĩ rất xa. Hiện nay, nền chính trị dân chủ rất khó thực hiện điều này. Giả như họ chỉ nghĩ đến số phiếu được bầu chọn thì suy nghĩ bao xa?

Tôn Trung Sơn Tiên sinh đã nhìn thấy vấn đề của nền chính trị dân chủ, cho nên đương thời ông đã trù tính, dùng một đảng để thu nạp nhân tài toàn quốc, vì quốc gia phục vụ, tinh thần phục vụ. Đương nhiên điều quan trọng nhất là không ngừng bồi dưỡng một nhóm cán bộ, làm cho nhân tài càng lúc càng nhiều. Bắt đầu từ thời đại của Hán Vũ Đế, tiêu chuẩn để tuyển chọn nhân tài là hai chữ “hiếu - liêm”. “Hiếu” chính là nền tảng làm người, “liêm” chính là không tham ô. Hai chữ này là đại căn đại bổn của việc làm người. Có trí huệ! Cho nên, chính đảng chính trị có thể dùng trí tuệ của văn hóa Trung Hoa. Sau này gia nhập đảng phải phù hợp với hai chữ này, “hiếu liêm” mới có thể gia nhập đảng, không phải miệng nói quá hay thì được gia nhập đảng. Trong lúc nói chuyện thì mọi người ở phía dưới kích động: “Người này được”, người đó được gọi là “nói lời ngon tiếng ngọt”. Cho nên, hiện nay tiêu chuẩn tuyển chọn đã bị thiên lệch, chính khách rất nhiều, chính trị gia rất ít. Việc này cùng với tiêu chuẩn có liên quan. Tiêu chuẩn bị sai lầm thì phương hướng đề xướng không đúng, đương nhiên có xuất hiện nhân tài hay không?

  • Thứ ba là “Quý đức”

 “Quý đức”, “đức giả bổn dã, tài giả mạc dã”. Trong “quý đức”, chúng tôi đã chỉnh lý một số hạng mục: “Thượng đạo” (sùng thượng đạo đức, tôn tuân đạo đức), “hiếu đ” (hiếu đễ dã giả, kỳ vi nhân chi bổn dư”), “nhân nghĩa”, “thành tín”, “chánh kỷ”, “độ lượng”, “khiêm hư” (mãn chiêu tồn, khiêm thọ ích”), “cẩn thận’, “giao hữu”, “học vấn”, còn có “hữu hằng”. Đây là những hạng mục “quý đức” được liệt kê ra.

  • Thứ tư là “Vi chánh”

“Vi chánh” là đã có tu thân, đã có đức hạnh, tiến thêm một bước là cần phương pháp tốt để thực hiện. Cho nên, Mạnh Tử có một câu nói rất quan trọng: “Đồ thiện bất túc dĩ vi chánh, đồ pháp bất năng dĩ tự hành”. Câu nói này cũng là nhắc nhở chúng ta học tập văn hóa truyền thống thì những Kinh điển này dạy bảo rất hay. Nhưng chẳng có đại diện, chẳng cần phối hợp nhiều cách làm việc và kinh nghiệm làm việc với nhau thì chúng ta cảm thấy học Kinh điển rồi mà không làm được việc gì cả, cuối cùng học Kinh điển để trở nên cống cao ngã mạn, không chịu học tập theo chuyên gia. Ông Hàn Dũ nói với chúng ta: “Văn đạo hữu tiên hậu, thuật nghiệp hữu chuyên công”. Chúng ta không thể là một đơn vị học tập văn hóa truyền thống mà tình trạng hành chánh rối tung mù mịt, mọi người vừa nhìn thấy thì sẽ nghĩ: “Chẳng bằng chúng tôi mà chúng tôi phải học theo họ”. Cho nên có tâm thái tốt, nguyện lực tốt là rất hay, nhưng nhanh chóng học tập những phương pháp quan trọng, hệ thống quan trọng, tổ chức hoạt động như thế nào là cần thiết. Các vị chỉ có thủ thiện, các vị chỉ có một thiện tâm, thiện nguyện thì vẫn chưa thể làm tốt việc chính trị. Làm người, làm việc đều phải có đủ, không thể chỉ có việc làm người mà thôi. Cho nên “vi chánh” nghĩa là làm sao làm tốt phương pháp chính trị cụ thể. Phương pháp thì không thể rời xa thái độ của con người, tâm nhân ái của con người. Tâm nhân ái cũng cần có cách để thực hiện. Người thật sự có tâm thì chắc chắn sẽ không ngừng muốn cầu toàn, luôn học những phương pháp tốt hơn.

Rất nhiều phụ huynh thường hay nói: “Tôi rất muốn dạy tốt con cái, nhưng tôi không biết cách”. Lời nói này tôi không tin, đây là chưa có phát tâm chân thật. Tâm chân thật chắc chắn sẽ có cảm ứng, tối thiểu thì tổ tiên của các vị nhất định sẽ bảo hộ các vị. Hôm nào đó các vị đến nhà sách chắc chắn mua được quyển “Đệ Tử Quy”. Thật vậy, tôi đã gặp việc thật như vậy rồi.

Có một lần tôi đi taxi, người tài xế taxi đã nói: “Những người ở trong Quốc hội có học vị cao như vậy mà đã làm những việc không hay. Đức hạnh quan trọng vô cùng, học vị cao không có tác dụng, cho nên tôi liền nghĩ, giáo dục con cái rất là quan trọng. Ngày hôm đó tôi đến tiệm sách để mua sách. Tôi mua được một quyển sách khá hay, tên là “Đệ Tử Quy”. Tôi mừng quýnh lên, anh ấy mua được quyển “Đệ Tử Quy”. Các vị nói xem, trong tiệm nhiều sách như vậy, anh mua đúng quyển “Đệ Tử Quy”. Đúng ngay hôm chở tôi đi, tôi nhanh chóng cung cấp cho anh ấy một số địa chỉ trang web. Các vị xem, thành tâm sẽ có cảm ứng. Tôi liền nhanh chóng chia sẻ cho anh ấy địa chỉ trang web của Sư trưởng. Đây là việc thật không phải giả, thiện tâm có thể cảm ứng. Nhưng giả như chỉ có phương pháp hay, thí dụ như nói “Chu lễ” có những chế độ chính trị tốt nhưng chế độ đó có thể tự phát triển được không? Nó cũng phải cần người có đức hạnh để thực hiện mới được. “Nhân tồn chánh cử, nhân vong chánh tức. “Chu lễ” là hiến pháp tốt nhất của toàn thế giới, nhưng nếu không có người tốt để quán triệt tinh thần đó thì nó vẫn nằm yên trong thư viện quốc gia. Đúng không vậy? Cho nên, chúng ta đã học rồi thì sau này phải thật sự nâng cao đức hạnh, áp dụng ngay trong đơn vị của mình, làm một tấm gương tốt cho người thế gian, để cho họ tin tưởng. Đây là “quý đức”. Vừa nói đến “vi chánh” thì có nhắc với các vị, trong “vi chánh” có đề cập đến “vụ bổn”. Phải tìm ra nguồn gốc. Nguồn gốc của “chánh” ở đâu? “Tri nhân”, “thiện nhiệm”, “nhiệm sử”. Dùng người nên căn cứ năng lực của người đó mà phân công công việc.

Tiếp theo, “vi chánh” phải “chí công”, phải hiểu được “giáo hóa”, “kiến quốc quân dân, giáo học vi tiên”. Còn có giáo hóa “lễ nhạc”, “ái dân”, “dân sinh”, “pháp cổ”, mọi việc đều lấy kinh nghiệm của cổ nhân làm gương. “Cương kí”, phải nắm cho vững. “Thường phạt”, “pháp luật”, “thận võ”, dùng vũ lực là chuyện đại sự của quốc gia, phải hết sức thận trọng. Còn có “tướng binh”, làm tướng thì phải nên làm như thế nào.

  • Thứ năm là “Kính thận”

Trong “kính thận” thì có “vi tiệm”, phải phòng ngừa trước khi nó xảy ra, có “phong tục”. Con người đều phải chịu ảnh hưởng của phong tục. Phong tục tốt được hình thành thì tất cả người dân đều được lợi ích, hình thành phong tục xấu có thể là chôn vùi hai - ba thế hệ.

Tiếp theo là “trị loạn”, “giám giới”, “ưng sự”, “thận thủy chung”, “dưỡng sinh”. Những điều này đều hàm chứa sự cung kính trong thái độ cẩn thận.

  • Cuối cùng là “Minh biện”

Minh biện “tà chánh”, minh biện “nhân tình”, minh biện “tài đức”, minh biện “bằng đảng”, còn phải phân biệt rất nhiều sự việc vậy nữa, minh biện “nhân quả”.

Đây là phần chúng tôi biên tập cương lĩnh mục lục của “Quần Thư Trị Yếu 360”, xin chia sẻ để mọi người tham khảo. Giả như trong quá trình các vị đọc, cảm thấy câu nào quá hay nhất định phải nói với chủ nhiệm của lớp chúng ta nhé. Các vị chọn câu này chính là “Quần Thư Trị Yếu 360” của năm tới. Công trình này chúng ta cùng nhau hoàn thành, được chứ? “Đời người xưa nay ai chẳng chết, hãy để lòng son chiếu sử xanh”, dùng trí huệ của các vị có thể lợi ích đến đời sau.

Tốt rồi! Buổi học này xin chia sẻ với mọi người đến đây. Xin cám ơn mọi người!

A Di Đà Phật!

Chia sẻ học tập “Quần Thư Trị Yếu 360” (tập 5 và 6)

Giảng ngày 28 tháng 05 năm 2011 tại Trung tâm Giáo dục Văn hóa Trung Hoa Malaysia.

Người giảng: Thầy giáo Thái Lễ Húc

Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ, Mộ Tịnh Cư Sĩ, Phước Tịnh Cư Sĩ

 

 

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 18


Hôm nayHôm nay : 6051

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 286446

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9410932

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?