Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Quần thư trị yếu 360

Quần Thư Trị Yếu 360 - Thầy Thái Lễ Húc giảng (Tập 37 - 38)

Thứ ba - 03/10/2017 11:57

TU THÂN - TỀ GIA - TRỊ QUỐC - BÌNH THIÊN HẠ

Các vị học trưởng, xin chào mọi người!

Quyển sách “Quần Thư Trị Yếu 360” này của chúng ta gần đây đã giảng đến phần “quân đạo”, tiết học trước đã giảng về “phản thân”.

Chúng ta học về “quân đạo” tức nói đến những người làm vua, những vị làm lãnh đạo nên tuân theo những tiêu chuẩn luân lý đạo đức, làm thế nào để có thể đem vai trò lãnh đạo này diễn cho tốt. Mỗi một quốc gia đều có quốc vương, có lãnh đạo. Mỗi một gia đình cũng có lãnh đạo, đó chính là cha mẹ. Điều này trong phần “Gia Nhân Quẻ” thuộc “Kinh Dịch” có nhắc đến câu: Trong nhà có nghiêm quân, cũng có vị lãnh đạo vô cùng uy nghiêm. Phụ mẫu chi vị dã, cha mẹ là vua trong nhà, là lãnh đạo trong nhà. Vị được gọi là “quân” này đương nhiên phải lấy thân làm phép tắc để xây dựng gia phong. Đồng thời, “nghiêm quân” sẽ có sự uy nghiêm của đạo đức. Khi con trẻ phạm sai lầm thì có thể kịp thời dạy dỗ, đưa ra lời giáo huấn, đây chính là bổn phận mà một vị lãnh đạo của gia đình phải nên làm được. Chúng ta dạy học trong trường, vị lãnh đạo của cả trường là hiệu trưởng. Trong một lớp, thì thầy cô giáo chính là “quân”, là lãnh đạo. Do đó, “quân - thân - sư” không thể tách rời, đều có vai trò và tinh thần của người lãnh đạo. Vì vậy, chúng ta học tập thì có thể thể hội được tinh thần của những đạo lý trong văn hóa Trung Hoa, từ một có thể suy ra ba. Trên thực tế, “quân đạo” này là một nguyên tắc chỉ đạo vô cùng tốt đối với việc thể hiện vai trò của mỗi người trong gia đình và đoàn thể. Điều chúng ta học là làm thế nào có thể nâng cao sự tu dưỡng của người lãnh đạo.

Chúng ta làm cấp dưới, khi nghe đến những đạo lý trong phần “quân đạo” này, chúng ta không được nghe xong rồi thì đem những đạo lý này yêu cầu lãnh đạo của chính mình, chỉ trích lãnh đạo của chính mình. Có tâm như vậy thì tâm sẽ bị thiên lệch. Ngược lại, chúng ta nên nghĩ đến việc giúp đỡ các lãnh đạo. Nếu chúng ta đi chỉ trích và yêu cầu họ, chúng ta có thể sẽ gặt được kết quả trái với mong muốn. Do đó, học tập Kinh điển không phải học xong rồi đi chỉ trích người khác, mà quan trọng là dùng mỗi câu Kinh để phán xét lại chính mình. Đây mới là tinh thần “phản thân”. Ngày nay tôi làm lãnh đạo, tôi đã y theo những đạo lý này để thực hành chưa? Ngày nay tôi là thuộc cấp, hiểu biết rõ ràng lãnh đạo của tôi chưa y chiếu theo Kinh điển để làm việc nhưng tôi nhất định không chỉ trích, không phê bình. Mà chúng ta làm cấp dưới của người cần phải thiện xảo, cần phải nhẹ nhàng đem những đạo lý này nhắc nhở các vị lãnh đạo. Chúng ta nên tin chắc rằng bản tính con người vốn thiện. Có những đạo lý tốt đẹp này nhắc nhở, quan niệm của họ sẽ chuyển trở lại, chánh niệm sẽ phát khởi, thì vấn đề có thể được giải quyết. Vì vậy, chúng ta bất kể đang diễn vai trò nào cũng đều cần chính mình đoan chánh trước. Người khác có đúng hay không lúc này không phải là điều quan trọng nhất, mà trước tiên chính mình phải làm đúng.

Chỗ không đúng của lãnh đạo, tôi là cấp dưới thì nên làm thế nào để cho đúng?

Trong “Hiếu Kinh” có dạy: Tiến tư tận trung, thoái tư bổ quá. Các lãnh đạo có gì không đúng, làm cách nào để họ có thể tiếp nhận? Dùng phương tiện thiện xảo, dùng phương pháp thấu hiểu nhân tình để khiến họ tiếp thu, không phản bác. Quân thần như vậy, quan hệ ngũ luân đều là như vậy.

Còn nhớ có lần, chúng tôi làm giảng tòa đại chuyên về hạnh phúc nhân sinh, các vị học sinh cũng hết sức hiếu học, khả năng tiếp thu đều rất tốt. Họ hiểu được rằng, phận làm con thì phải cha mẹ thích, dốc lòng làm”, cần phải đông phải ấm, hạ phải mát, hiểu những đạo lý về dưỡng thân cha mẹ, dưỡng tâm cha mẹ. Họ còn nghĩ đến trong gia đình tam đại đồng đường của chính họ, bà nội phải ở trong căn phòng nhỏ, còn cha mẹ và cả họ nữa thì được ở nhà lớn, phòng lớn. Họ hiểu ra rồi thì cảm thấy bất hiếu đối với bà nội, cho nên họ đã đem phòng của mình dọn trống, nhường phòng cho bà nội ngủ. Bà nội vốn dĩ ở tại một căn phòng rất nhỏ ở bên hông nhà, có thể nói rất là thô sơ, họ đã nhường căn phòng của chính mình cho bà, còn bản thân thì ngủ trên ghế sô-pha ở phòng khách. Cha mẹ họ thấy làm như vậy không thỏa đáng, nhưng họ không bao giờ lấy những đạo lý đó ra để trách cứ cha mẹ, mà yêu cầu chính bản thân mình bắt đầu làm trước. Họ không những đã nhường phòng cho bà nội mà những ngày sau đó, đối với sinh hoạt của bà nội còn tận tâm tận lực quan tâm, lo lắng. Không lâu sau, cha mẹ của họ sau khi nhìn thấy rồi bị họ làm cho cảm động, cũng thay đổi thái độ đối với bà nội, hiểu được cần phải tận hiếu. Vì vậy, trong gia đình, cha mẹ của họ là “quân”, họ là “thần”, họ là con cái. Do đó, đối với bề trên cần phải cảm hóa, dùng phương tiện khéo léo để cảm hóa. Đối với người ngang hàng thì dùng khuyên can để cảm hóa, dùng lời lẽ mà khuyên can. Đối với người nhỏ hơn thì cần giáo hóa, giáo dục họ, nắm bắt mỗi một cơ hội để hướng dẫn. Do đó, vị học viên này mặc dù tuổi tác chỉ mấy mươi, nhưng đối với sự thấu hiểu nhân tình khá là uyển chuyển. Đây là ví dụ về quan hệ cha con.

Trong quan hệ vợ chồng thì vợ hết lòng tôn trọng chồng.

Vào thời nhà Chu, có một vị vua lấy lại được ngôi, tên Chu Tuyên Vương. Trong thời của ông, tình hình chính trị tương đối xuống dốc. Nhưng có một ngày nọ, buổi sáng ông ngủ dậy tương đối muộn (gọi là Yến khởi), vì thế nên lúc lên triều làm mất rất nhiều thời gian. Lúc đó, hoàng hậu của ông họ Khương (Khương Hậu) là con gái của vua nước Tề. Người phụ nữ này cũng xuất thân từ nơi danh giá. Kỳ thực, mỗi người chúng ta trong xã hội này đều là người đại diện cho gia đình, gia tộc của chính mình.

Có câu rằng: “Đức tổn thương, cha mẹ tủi”.  Chúng ta làm việc xấu, người khác sẽ nói chúng ta không có gia giáo, điều này là mình làm cha mẹ xấu hổ, làm xấu gia tộc. Khi chúng ta ra nước ngoài, nếu như hành vi của chúng ta không cẩn trọng thì có thể làm mất thể diện cho chính đất nước mình. Vì thế, đức hạnh của con người có thể nâng cao, không có gì khác ngoài việc người đó thời thời giữ tâm xấu hổ, thì có thể nâng cao được. Không thể để cha mẹ xấu hổ, làm mất mặt tổ tiên, đương nhiên cũng không nên làm mất thể diện của chính mình, bêu xấu bản thân. Người con gái khi xuất giá cũng phải như vậy, lấy chồng rồi thì phải giúp chồng dạy con, hiếu thuận cha mẹ chồng, thì mọi người trong xã hội nhất định sẽ ngợi khen cha mẹ của cô ấy biết dạy con gái. Vì thế, nếu hành vi của chúng ta tốt có thể khiến cho cha mẹ cảm thấy vui lòng.

Vị Khương hậu này đại diện cho vua nước Tề, đại biểu cho đất nước Tề. Bà vốn được mang danh là hiền đức, đồng thời hành vi hết sức cẩn trọng. “Điều phi lễ không xem, lời phi lễ không nói”. Những điều này vào thời đại của bà, các bé gái từ nhỏ đã được nhận nền giáo dục hết sức nghiêm khắc cẩn trọng. Ngày hôm đó, thấy Chu Tuyên Vương thức dậy muộn, chuyện này tương đương với việc lơ là việc nước, Tuyên Vương đã làm sai. Khi Khương Hậu nhìn thấy, bà ấy đã khuyên thế nào? Bà lấy cây trâm cài tóc của mình (vốn là vật trang sức cố định cài trên tóc), hoa tai và những đồ trang sức đeo tay sang trọng đều tháo xuống hết, rồi cúi đầu đứng tại đường đi, biểu thị lòng sám hối, xấu hổ sâu sắc. Sau đó, nhờ bảo mẫu đi bẩm báo lại với Tuyên Vương: Bởi vì bà đã làm không tốt nên mới khiến cho Tuyên Vương thức dậy muộn. Bổn phận của người làm vợ làm chưa tốt, nên mới gây ra kết quả như vậy. Vì vậy, khi chồng có lỗi lầm, bà đã đầu tiên phản tỉnh lại chính mình. Kết quả, Tuyên Vương sau khi nghe xong vừa kính vừa sợ, lập tức đi trả lời hoàng hậu: “Đây chính là lỗi của quả nhân, không thể trách ái khanh được”. Khương hậu cởi bỏ hết trang sức trên đầu vốn là để Tuyên Vương trị tội, thậm chí bãi bỏ luôn địa vị hoàng hậu của bà. Tuyên Vương cảm phục đức hạnh của vợ mình. Có sự nhắc nhở của vợ, ông đã lập tức xét lại mình và khôi phục lại địa vị của Khương Hậu. Ví dụ này đã khiến chúng ta thể hội được rằng, kỳ thực khi nhắc nhở chồng, nhắc nhở người lãnh đạo đều cần có phương pháp hết sức khéo léo, cũng không được chỉ trích, và cũng không được yêu cầu họ.

Lần trước chúng ta có nói đến “phản thân”. Mời mọi người lật sang phần “Quản Tử”. Lần trước chúng ta đã nói đến đoạn: “Quân vương hiền minh có sai sót liền kiểm điểm chính mình, như vậy sẽ biết cảnh tỉnh bản thân mà lo tu đức”, phản cầu chư kỷ. Có hành vi thiện lành thì quy công cho bá tánh; khi có điều gì tốt, việc gì hay đều ghi công cho thần dân. Thái độ xử thế này hết sức quan trọng, tương đương với việc có điều gì tốt thì dành phần cho người khác, tuyệt không tranh công. Một khi có lỗi, thì người làm vua trước tiên cần xét lại chính mình, bản thân mình đã làm điều gì không đúng nên mới gây ra kết quả như vậy? Như cổ Thánh tiên Hiền có dạy: Dân chúng mắc lỗi, nguyên nhân là tại một mình ta”, “trẫm cung hữu tội, vô dĩ vạn phương”. Mọi người đều đọc được nghĩa là lần trước mình đã học thuộc rồi. “Dân chúng các phương có tội, đều do ta không làm gương tốt”. Chúng ta nhìn thấy thái độ của mỗi một người đều là mỗi nhân mà chiêu cảm ra mỗi quả. Ví dụ, yêu người là nhân, thường được người yêu mến là quả. Kính người là nhân, được người thường yêu là quả. Do đó, bất kỳ sự việc gì trong trời đất đều không tách rời khỏi hai chữ “nhân quả” này. Khi một người lãnh đạo phạm lỗi, ông ta phản tỉnh lại chính mình, đó chính là thái độ của ông ta. Cái nhân này sẽ chiêu cảm đến kết quả gì? “Hữu quá nhi phản chi thân tắc thân cụ”. Người mà luôn luôn phản tỉnh, thì người đó có thể biểu hiện ra sự tu dưỡng tâm cẩn thận, cẩn trọng, dè dặt. Thời thời phản tỉnh chính mình thì có thể thành tựu được học vấn. “Hữu thiện nhi quy chi ư dân tắc dân hỷ”, công lao và việc tốt đều quy là công trạng của bá tánh, thì người dân sẽ cảm thấy mình được công nhận, mình được thấu hiểu, lực hướng tâm của cả đoàn thể và quốc gia càng được lớn mạnh. “Vãng hỷ dân”, là quy công lao về cho nhân dân, nhân dân liền hoan hỷ, bằng lòng vì quốc gia, vì đoàn thể mà làm việc. “Lai cụ thân”, là gặp phải việc gì cũng phản tỉnh chính mình, thái độ của bản thân mà cẩn thận thì sự tu dưỡng sẽ không ngừng được nâng cao. “Thử minh vương chi sở dĩ trị dân dã”, vua anh minh sở dĩ có thể trị vì quốc gia tốt là vì ông ta có sự tu dưỡng như vậy.

Chúng ta xem đoạn tiếp theo, nói đến vua Kiệt, vua Trụ không có thái độ này: “Kim phu Kiệt Trụ tắc bất nhiên”. Đương nhiên chúng ta biết Kiệt Trụ là bạo chúa. Hành vi của bạo chúa cũng bắt nguồn từ thái độ tu dưỡng thiên lệch của ông ta. Vì vậy, khi xem xét lại thì thấy các thái độ này không như nhau, kết quả đương nhiên là hoàn toàn không giống nhau. “Hữu thiện tắc phản chi ư thân”, nghĩa là có thiện hạnh hay công lao gì đều cảm thấy là công lao của chính mình, là do chính mình làm ra. Việc tốt mà quy hết về công lao của mình thì tăng trưởng ngạo mạn. Ham thích công trạng thì đức hạnh liền suy thoái. “Hữu quá tắc quy chi ư dân”, nghĩa là khi có lỗi thì đều đùn đẩy, chỉ trích, đem những lỗi lầm trút hết cho thần tử, nhân dân. Vậy kết quả của cách làm này là gì? “Hữu quá nhi quy chi ư dân tắc dân nộ”, lâu ngày dài tháng, nhân dân sẽ oán than, cảm thấy sao có thể vô lý như vậy, quá quắt như vậy, đã sai mà không chịu thừa nhận lại còn trách người khác. “Hữu thiện nhi phản chi ư thân tắc thân kiêu”, nghĩa là việc tốt thì cho là của mình, ngày càng kiêu ngạo, tự mãn. “Vãng nộ dân, lai kiêu thân”, tức lỗi lầm thì đều đẩy cho nhân dân, dần dần cả nước đều chứa đầy oán giận. Những việc tốt đều dành cho chính mình, sự kiêu ngạo ngày càng nghiêm trọng hơn. “Thử kỳ sở dĩ thất thân dã khả vô thận hồ”, ý câu này là vì sao đạo đức của người ấy bị suy đồi, đến sau cùng sẽ khiến cho dân chúng oán ghét, thậm chí dân chúng còn tạo phản lật đổ ông ta. Cái này đều là thất đức, thậm chí là mất nước. Do đó, người nắm quyền có thể dùng thái độ không cẩn thận mà giải quyết vấn đề không? Đây đều là những câu mà lần trước chúng ta đã nói đến.

Một lần nữa, chúng ta dùng phản diện để đánh giá kết quả của người ấy. Trong “Đệ Tử Quy” có một câu rất quan trọng, chúng ta khi lập thân xử thế nhất định cần phải nhắc đến câu này: “Thấy người tốt, nên sửa mình”. Khi ta nhìn thấy một vị minh quân tốt thì muốn học theo. Ở trong đoàn thể, chúng ta cũng nên có thái độ phản tỉnh chính mình, nhường công lao cho người khác. Đối với ví dụ tương phản là Kiệt Trụ, chúng ta phải “thấy người xấu, tự kiểm điểm. Có thì sửa, không cảnh giác”.

Tiếp theo, chúng ta xem câu cuối cùng phần “phản thân”. Chỗ này rất may đã nêu ra ví dụ về chính diện và phản diện. Chúng ta nhìn vào dòng số 7, có phần “Truyện Viết”. Chữ “Truyện” này là chỉ “Tả Truyện”, trong đó có câu:

Kinh văn: “Hạ Vũ, Thương Thang có lỗi lầm thì oán trách chính mình, đất nước của họ nhờ vậy mà hưng thịnh giàu có. Hạ Kiệt, Thương Trụ có lỗi lầm thì trách tội kẻ khác, đất nước của họ do đó mà nhanh chóng diệt vong. Từ đó có thể thấy, điều căn bản khiến đất nước yên ổn dài lâu là nằm ở bản thân của chính quân vương. Chiêm Hà viết, vị văn thân trị nhi quốc loạn giả dã, nhược chiêm giả, khả vị tri trị bản h.

Câu phía sau này rất hay. Phần này nói một cách cụ thể các ví dụ về các vị vua anh minh và các vị vua vong quốc trong lịch sử. “Vũ” - Hạ Vũ và “Thang” - Thương Thang đều là các vị vua khai quốc, họ đều là các vua có trách nhiệm, gặp sự việc gì trước tiên đều phản tỉnh lại lỗi lầm của chính mình, vì thế mà sự nghiệp của họ, thành tích của họ đều “hưng dã bột yên”, hưng vượng rất nhanh chóng và mạnh mẽ. Điều này chúng ta có thể nhìn thấy. Ví như Thang Vương, vào thời đó vua Hạ Kiệt đã trị vì quốc gia một cách hết sức hỗn loạn. Vua Thang vì thương dân mà diệt kẻ hung bạo, đã lật đổ Hạ Kiệt, trong một thời gian rất ngắn đã thống trị được nước nhà. Vì sao vậy? Bởi vì dân chúng đã một thời gian dài sống khổ sở dưới chính quyền tàn bạo, lòng dân luôn mong ngóng quốc gia mau chóng được an định, sống những ngày tháng tốt lành. Vua Thang vừa thương dân, vừa có thể phản tỉnh chính mình. Ông yêu dân thì dân chúng cũng yêu ông, ông phản tỉnh lại chính mình thì dân chúng cũng biết tự mình phản tỉnh lại, vì vậy mà cả đất nước đều hưng thịnh rất nhanh. Còn Hạ Kiệt, Thương Trụ đều đi trách tội người khác, nên vì thế mà diệt vong. Chữ “hốt” này chính là “nhanh chóng”, diệt vong rất nhanh. Đặc biệt, sau khi vua Hạ Kiệt giết đại trung thần Quan Long Phùng rồi, hai năm sau thì diệt vong. Trung thần là rường cột của nước nhà, ông vua không chỉ không nghe theo mà còn đem giết đi, vì vậy “quốc gia sắp sửa diệt vong nhất định là có yêu nghiệt”, hành vi này của ông ta là hành vi của loài yêu nghiệt, nên nhanh chóng bị diệt vong. “Do thị ngôn chi”, từ đó có thể nói, “trưởng dân trị quốc, chi bổn tại thân”, có thể khiến cho nhân dân trong cả nước sống những ngày tháng tốt đẹp, xã hội an định, nhân dân an hòa, gốc rễ chủ yếu là do sự tu dưỡng bản thân của quân vương.

Do đó, trong Kinh điển có nói đến “Chiêm Hà” - một vị đại thần của nước Sở. Ông ấy có một câu nói rất có ý nghĩa. “Vị văn”, có nghĩa là trước giờ chưa nghe qua. “Thân trị nhi quốc loạn giả dã”, chưa bao giờ nghe qua việc một vị vua rất đức hạnh mà đất nước của ông ấy bị loạn lạc. Do đó, thật sự chân thật tu thân thì có thể tề gia, tề gia được rồi thì có thể trị quốc. Vì vậy, “quân tử nhất định phải chuyên tâm dốc sức vào cái căn bản. Căn bản được kiến lập rồi, đạo đức sẽ theo đó mà sinh”. Cái gốc này đã cắm được thật sâu rồi thì không có lý nào mà cái cây lại mọc không tốt được. Do đó, “Chiêm Hà” có thể nói là đã hiểu rõ việc trị quốc căn bản là ở tu thân, ông ấy đã thể hội được rất sâu sắc. Câu sau cùng trong phần “phản thân” này là vậy.

TÔN HIỀN

Chúng ta tiếp tục xem phía sau “quân đạo” là “tôn hiền”. Trong quyển thứ 9, trang 1.140: “Tôn hiền”. Câu này trong phần “Thuyết Uyển”, chúng ta đã cùng nhau học. Trong câu có nhắc đến:

Kinh văn: “Không có đất nước nào an định mãi mãi, cũng không có thần dân nào phục tùng mãi mãi. Có được người hiền thì an định hưng thịnh, đánh mất người hiền thì diệt vong. Từ xưa tới nay không đâu không như vậy”.

Người xưa đã nói đến rất nhiều đạo lý làm người quan trọng, cả thảy đều hết sức cương quyết, hết sức khẳng định. Vì vậy mà từ xưa đến nay, có được người hiền đức, quốc gia đều an định hưng thịnh, mất người hiền thì sẽ dẫn đến diệt vong, nguy hiểm. Trước giờ chưa có trường hợp nào không phải như vậy. Do đó, không có đất nước nào an định mãi mãi, cũng không có thần dân nào phục tùng mãi mãi, điều quan trọng nhất là có người hiền đức cai trị và yêu thương dân chúng. Vì vậy, trong việc cai trị toàn bộ đất nước, điều khiến chúng ta sâu sắc thể hội thì trong sách “Trung Dung” có nói: Có người chính trị giỏi thì các chính trị trong sách đó thi hành ra, không có người giỏi thì cái chính trị ấy mất đi. Về mặt lý, chúng ta đã thể hội được, đã hiểu rõ.

Trong lịch sử, chúng ta thấy mỗi một triều đại đều có vị vua làm nước nhà hưng thịnh, cũng có ông vua làm đất nước diệt vong. Họ đều là thiên tử như nhau, nhưng vì sao kết quả lại không như nhau? Vẫn là do sự hiền đức của chính vị vua đó. Thất đức thì sẽ thất bại. Ví dụ triều nhà Thương, Thương Thang là người hiền đức, ông còn dùng Y Doãn làm Tể tướng, đây chính là “có người hiền thì đất nước được an định”. Đến thời vua Trụ, ông ta không dùng người hiền đức, đây là “không có người hiền thì đất nước sẽ diệt vong”. Chỗ này nói về mỗi triều đại thì như vậy. Thậm chí, khi cả đời vua trọng dụng người hiền đức nên đất nước của ông lúc đó rất hưng thịnh, tuy nhiên đến những năm cuối đời hoặc khi người hiền đức này không còn nữa, ông ấy trọng dụng nịnh thần, thì e rằng ông ấy có thể rơi vào cảnh “chết mà không có đất chôn”. Cho nên, có hay không có người hiền đức phò tá quả thật là việc quan trọng.

Chúng ta xem đến trang 1.140, dòng thứ 2. Ở đây nêu ra một ví dụ có thật trong lịch sử về “Tề Hoàn Công và Quản Trọng”.

Tề Hoàn Công phong cho Quản Trọng làm Tể tướng “thâu tóm chư hầu, thống nhất thiên hạ”. Câu chuyện này đối với dân tộc Hoa Hạ chúng ta hết sức quan trọng. Nếu không có Quản Trọng phò tá Tề Hoàn Công, thì nền văn hóa Trung Nguyên của chúng ta có thể đã bị người Man Di tiêu diệt rồi. Lúc đó, vì có thể đoàn kết nên mới chống lại được những cuộc xâm lược này. Vì thế, Khổng Tử đối với sự kiện này hết sức tán thán, cảm tạ công lao cống hiến của Quản Trọng. Tề Hoàn Công trở thành bá chủ thiên hạ, kiến lập sự nghiệp. “Thất Quản Trọng”, khi Quản Trọng mất rồi, ông tin dùng Thụ Điêu, Dịch Nha, và Khai Phương. Những tên nịnh thần này đã khiến ông “chết không có chỗ chôn, thiên hạ chê cười”. Kỳ thực, Tề Hoàn Công vốn dĩ không dùng những người như vậy, bởi vì Quản Trọng lúc sanh tiền đã cảnh cáo nhắc nhở ông những người này có vấn đề. Lúc đó, Tề Hoàn Công còn cảm thấy những người này rất tốt, Quản Trọng phân tích giúp cho ông hiểu rõ.

Thụ Điêu vì để thân cận, ở bên cạnh chăm sóc Tề Hoàn Công nên đã tự hoạn làm thái giám. Tề Hoàn Công cảm thấy: “Khanh xem, ông ấy vì ta mà hy sinh quá lớn!. Quản Trọng nói: “Con người đều yêu quý thân thể của chính mình, ngay cả thân thể của mình mà ông ta không yêu tiếc, vậy ông ta nhất định có mục tiêu lớn khác”. Còn Dịch Nha là một đầu bếp nấu nướng khéo léo, ông ta hỏi Tề Hoàn Công đã ăn qua thịt con nít chưa? Kết quả, khi Tề Hoàn Công nói chưa ăn qua, thì ông ta liền đem con của mình làm thịt dâng Tề Hoàn Công ăn. Tề Hoàn Công cảm thấy “ông ấy đối với ta còn tốt hơn đối với con của chính mình”. Quản Trọng liền nhắc nhở: “Con người ai mà không yêu thương con của chính mình? Ông ta ngay cả con đẻ của mình còn không thương, vậy lòng yêu thương của ông ấy đối với bệ hạ là có mục đích, có ý đồ, tâm này không chân thật”. Người không biết yêu thương người thân của mình mà yêu thương người khác gọi là bội đức. Do đó, nếu không dựa vào Kinh điển để phán đoán, con người ta có lúc sẽ vì cảm tình, vì sự yêu ghét của bản thân mà dễ dàng phán đoán sai về người khác. Còn Khai Phương, y vốn một vị vương tôn công tử của một nước sau này sẽ làm hoàng đế, vậy mà y không chịu ở đất nước của mình mà muốn đến thân cận Tề Hoàn Công. Ngay cả khi cha mẹ y qua đời, y cũng không về nước để chịu tang, nên Tề Hoàn Công cảm thấy “người này đối với ta còn tốt hơn đối với cha mẹ hắn”. Nhưng Quản Trọng đã khuyên ông là: “Làm gì có việc không thương yêu cha mẹ mình mà đi thương yêu kẻ khác chứ?”. Vì nghe những câu nói này nên Hoàn Công đã xa lánh những tên nịnh thần đó. Nhưng sau khi Quản Trọng qua đời, Tề Hoàn Công lại tin dùng bọn người này. Vì vậy có câu: “Muốn bình thiên hạ phải bắt đầu từ việc thấu suốt nguyên lý sự vật”. Nếu không loại trừ những dục vọng này thì sau cùng sẽ ngăn không nổi sự dụ hoặc. Bởi vì những người này làm cho Hoàn Công vui vẻ, cho ông ấy ăn ngon, hưởng thụ thật tốt, nên ông không kháng nổi sức cám dỗ, sau cùng đã bị những tên nịnh thần này hại chết. Trước khi chết, Tề Hoàn Công cảm thán là không có mặt mũi nào để đi gặp Quản Trọng. Bởi vì Quản Trọng đã nhắc nhở ông từ rất sớm, vậy mà ông vẫn mắc phải sai lầm này.

Ở đây có nói đến câu: “Chết không đất chôn”. Trong “Sử Ký” có viết Hoàn Công chết được sáu mươi bảy ngày mới bị người phát hiện, bởi vì xác đã sanh ra dòi bọ nên mới có người phát hiện. Trong đây có nói đến câu: “Cả một đời người”, cả đời của Tề Hoàn Công, “vinh nhục câu thí yên, tại sở nhậm dã”. Vinh quang và nỗi nhục lớn nhất của ông ta đều xuất hiện ngay trong một đời của ông ấy. Vì sao mà có sự khác biệt lớn đến như vậy? Chính là vì cách dùng người của ông ta mà gây ra kết quả như vậy. Khi dùng Quản Trọng, ông ta có thể thâu tóm chư hầu, thống nhất thiên hạ. Khi dùng bọn Dịch Nha, Thụ Điêu và Khai Phương thì gặp kết quả chết không có đất chôn thây. Vì vậy, từ trong lịch sử chúng ta có thể thể hội một cách sâu sắc hơn những lời răn dạy này.

Trong Luận Ngữ cũng có nhắc đến câu: “Không cần làm gì mà trị yên được thiên hạ, chỉ có vua Thuấn phải không? Vua Thuấn chỉ giữ trang nghiêm đoan chánh, ngồi ngoảnh mặt về hướng nam”, có làm gì đâu. Đại Thuấn rất biết cách trị vì đất nước, ông biết lấy mình làm gương, đồng thời quan trọng là ở chỗ ông biết thâu dùng rất nhiều người hiền đức. Mỗi một vị trí quan trọng trong đất nước, ví dụ nói đến việc dùng Đại Vũ để trị thủy, dùng ông Tắc để kiến thiết ngành nông nghiệp, dùng ông Tiết phụ trách giáo dục, đều biết cách dùng người rất tốt. Đây chính là “có người hiền thì quốc gia an định”.

QUẦN THƯ TRỊ YẾU 360 Tập 38

Chúng ta xem câu tiếp theo, câu số 39. Sách xưa có nói, câu này trong quyển số 5, trang 642. Chúng ta hãy xem, phía trên có nhắc đến, trang 641. Phần sau cùng có một câu: “Thiên địa hiệp khí nhi vạn vật sanh”, sự vận hành của trời và đất nếu hết sức hòa hợp thì vạn vật sẽ được sinh trưởng. “Quân thần hợp đức nhi thứ chính thành”, vua tôi đồng tâm thì việc trị vì đất nước và nhân dân đều tốt đẹp. Vì vậy, “ngũ đế chi thế phi giai trí”, vào thời Ngũ Đế, không phải tất cả các vị đại thần đều có trí huệ. “Tam quý chi mạt phi giai ngu”. Từ “tam quý” này nói về ba triều đại Hạ - Thương - Chu. Vào thời kỳ cuối của ba triều đại này không phải tất cả các quan đại thần đều ngu muội, mà quan trọng là ở chỗ nào? “Dụng dữ bất dụng, tri dữ bất tri”, người hiền thì vua có trọng dụng không, vua có nhận ra người ấy không? Người không tốt thì vua có thể nhận rõ không, có thể không dùng ông ta không? Vấn đề quan trọng nằm ở chỗ này. Vì vậy, sách xưa trong Thượng thư có viết rằng: “Có một quân vương siêu phàm thì chắc chắn có thể trọng dụng những đại thần siêu phàm”. Từ “bất thế” có nghĩa là ông ấy là người rất siêu phàm, là một vị vua muốn lập công lao. Là vị vua siêu phàm thì ông ấy sẽ trọng dụng những vị đại thần siêu phàm. Nếu “trọng dụng những đại thần siêu phàm”, những vị quan siêu phàm thoát tục thì “chắc chắn có thể xây dựng những công trình siêu phàm”, nhất định sẽ có thể kiến lập sự nghiệp vô cùng vĩ đại. Đây là vấn đề có liên quan đến luật nhân quả. Một vị vua tốt như vậy thì mới có thể “phương dĩ loại chúng”, chiêu cảm đến những vị quan siêu phàm. Những vị quan này sẽ vì quốc gia mà dốc sức, vua tôi một lòng, kiến lập sự nghiệp vĩ đại.

Chúng ta nghĩ đến việc Thái Tông Hoàng đế khi xem đến đoạn này rồi, vì ông là người có chí khí, nên nhất định ông sẽ biết cách đặt kỳ vọng cho bản thân mà trở thành một vị vua siêu phàm, sáng lập nên sự nghiệp siêu phàm. Kỳ thực, vào đầu những năm Trinh Quán, giữa vua tôi cũng đã từng có một đoạn đối thoại như vầy.

Trong lúc vua tôi hai bên đang thảo luận sự việc. Từ đời Ngụy, Tấn, Nam bắc triều, Tùy, thời gian loạn lạc thật là dài. Hiện giờ nhà Đường đã được thành lập, quả thật rất khó để nhanh chóng có được thái bình và an định trong thiên hạ, bởi vì họ cảm thấy sự loạn lạc kéo dài quá lâu. Tuy nhiên, lúc đó Ngụy Trưng lại không có cách nhìn như vầy. Ông nói rằng: “Người mà rơi vào cảnh nguy nan, khốn đốn trong một thời gian dài, thì người đó lúc nào cũng lo lắng đến sự nguy vong của đất nước”, vì vậy mà lòng người đó lúc nào cũng hy vọng quốc gia có thể an bình thịnh trị. Người mà có cái tâm như vậy rất dễ dàng tiếp nhận sự chỉ dạy, người dân vì thế mà dễ giáo hóa. Cho nên, sau cuộc đại loạn vẫn có thể dễ dàng giáo hóa. Điều này giống như việc một người bị đói nhiều ngày, bạn đem cho người đó cái gì ăn, người đó đều cảm thấy rất là ngon.

Thái Tông cũng có nói: “Người hiền trị nước được trăm năm, sau đó sẽ có thể chuyển biến được phong khí tàn bạo của đất nước, sẽ khiến lòng người lương thiện dần, sau cùng cũng bỏ luôn các hình phạt. Điều này cần phải mất cả trăm năm. Hiện giờ, sau khi trải qua thời loạn lạc mà muốn nhanh chóng thịnh trị ngay thì dường như là việc khó có thể làm được”. Ngụy Trưng nghe vậy thì nói: “Người hiền này là chỉ các người hiền nói chung trong thiên hạ, chứ không bao gồm các vị Thánh triết”.

Đoạn này mọi người cần hiểu rõ, đây là lời nhắc nhở cho Thái Tông Hoàng Đế: “Bệ hạ không phải là bá tánh bình dân, Ngài là Thánh triết nhân, nên ngài không phải mất thời gian lâu như vậy”. Bởi vì, “Thánh triết nhân có thể giáo hóa đất nước, khiến cho trên dưới một lòng, đồng tâm đồng đức, nên việc khôi phục cai trị toàn bộ đất nước chỉ cần một năm là có thể đạt được hiệu quả, ba năm thì có thể cai trị được hết sức thành công”. Ngụy Trưng nói: Ba năm thì tương đối hơi dài. Đương nhiên vào lúc đó mới qua thời loạn lạc, không những Thái Tông nghe xong ngay lập tức không thể tin tưởng được, mà Phong Đức Di và các vị đại thần khác cũng đều kiên quyết phản đối ý kiến này. Bởi vì họ cảm thấy sau thời Hạ - Thương - Chu thì lòng người đã trở nên khá xấu, không còn chân thật nữa. Đồng thời, vào đời nhà Tần lại dùng pháp luật mà trị nước, nóng lòng muốn thịnh trị nhưng không có biện pháp tốt. Còn Ngụy Trưng thì lại nói cần phải nhanh chóng trị cho thật tốt, cách suy nghĩ và làm việc này có khả năng tạo ra sự hỗn loạn khác cho quốc gia. Ngụy Trưng khi đối diện với một tình huống như vậy, ông đã hết sức điềm tĩnh. Một vị đại thần có thể xoay chuyển được chính sách của cả quốc gia hay không, nếu không có định lực, không có trí huệ thì sẽ làm không được.

Chúng ta hãy suy nghĩ, giả như chúng ta nói đến đây mà hoàng đế lại không tin tưởng, rồi tất cả các vị quan khác cũng đều phản đối, thì chúng ta có thể nói ra lời được không? Vì vậy, chúng ta khi đối mặt với thời điểm nào, tình huống nào cũng đều cần phải hết sức điềm tĩnh. Ngụy Trưng ngay lúc đó đã đem lịch sử từ thời Tam hoàng - Ngũ đế kể lại: “Vua Hoàng Đế và vua Xi Vưu đã đánh nhau hơn bảy mươi lần, xã hội quốc gia thời đó rất là loạn lạc, nhưng sau khi thắng trận rồi lại trị vì đất nước rất tốt, rất nhanh có được thái bình, bao gồm luôn việc vua Thương Thang dẹp loạn thời nhà Hạ, cũng có thể rất nhanh mà an định thiên hạ. Vua Trụ vô đạo, nhưng khi vua Vũ chiếm lại đất nước cũng rất nhanh chóng lên ngôi và khiến đất nước thái bình. Kể những câu chuyện lịch sử như vậy, các vị đại thần khác nghe rồi cũng không thể phản bác được. Đương nhiên, sau cùng thì điều quan trọng nhất vẫn là Thái Tông có chịu áp dụng hay không, tin hay không tin? Thái Tông đã tiếp nhận lời đề nghị của Đại thần Ngụy Trưng, ông còn áp dụng đạo lý của tiên vương để tận tâm tận lực trị vì quốc gia. Vì vậy, Thái Tông cũng không phải là người tầm thường, ông rất siêng năng, không biết mệt mỏi, chỉ trong vài năm mà toàn bộ triều Đường đều hết sức khang ninh, đồng thời quân xâm lược Đột Quyết cũng bị đánh bại. Lúc bấy giờ, Thái Tông quả thật đã không dễ dàng gì khiến cho bốn biển an vui, thậm chí các quốc gia khác cũng đánh giá cao thành tích của ông, gọi ông là “Thiên Khả Hãn”.

Ông lại không quy công lao về mình để tự mãn, mà đối trước quần thần nói (thái độ này thật khó có được, luôn biết uống nước nhớ nguồn): “Những năm đầu Trinh Quán, mọi người đều nói lúc này không thể thực hiện được đạo làm vua, đạo làm thánh vương, chỉ có Ngụy Trưng ra sức khuyên trẫm. Sau khi trẫm nghe lời khuyên của ông ấy, chỉ trong thời gian mấy năm mà đất nước đã được an định rồi, các dân tộc xa xôi đều đến triều cống, đồng thời bọn Đột Quyết, vốn là đến xâm lược Trung Nguyên, hiện giờ ngay cả tộc trưởng của họ cũng vội vàng quay về quy phục Đường triều. Tất cả công lao này đều là do trí huệ của Ngụy Trưng, sự kiên trì của Ngụy Trưng”. Ông nói xong rồi, sau đó còn nhìn Ngụy Trưng một cái.

Chúng ta xem xong đoạn lịch sử này đều có thể cảm nhận được tình nghĩa vua tôi giữa Đường Thái Tông và Ngụy Đại nhân.

Thái Tông nhìn Ngụy Trưng rồi nói: “Viên ngọc mặc dù tự nó vốn có khí chất rất tốt, nhưng viên ngọc quý đó hiện đang nằm bên trong đá, nếu không có người thợ giỏi đục đẽo lấy nó ra, thì nó so với viên đá cũng không có gì khác biệt”. Bởi vì ngọc bất trác, bất thành khí, gặp được thợ giỏi rồi thì nó mới trở thành bảo bối truyền đến vạn đời sau được. Đây là cách nói ẩn dụ. Thái Tông hết sức khiêm tốn, ông nói: “Trẫm tuy không phải là viên ngọc quý, nhưng do vì được công người mài dũa, chính là nhờ những lời kiến nghị và khuyên can rất hay của Ngụy Trưng. Thái Tông còn nói: “Lao công ước trẫm dĩ nhân nghĩa”, nghĩa là đã phiền Ngụy đại nhân thường xuyên dùng nhân nghĩa đạo đức để đốc thúc, sách tấn trẫm, mới khiến trẫm có thể đạt được thành tựu như ngày nay. Vì vậy, chữ “công” ở đây là cách tôn xưng dành cho Ngụy đại nhân, chính là người thợ đẽo ngọc giỏi cả đời của vua. Một vị hoàng đế mà có thể khen ngợi thần tử của mình như vậy, cảm ơn thần tử của mình, quả thật không dễ có. Vì vậy, câu chuyện này khiến chúng ta hiểu Thái Tông chính là “trọng dụng những đại thần siêu phàm thì nhất định có thể xây dựng những công trình siêu phàm”, đồng thời cũng khiến chúng ta cảm nhận rằng Thái Tông rất tôn trọng những vị đại thần có đức hạnh, thậm chí dùng thái độ tôn trọng đức hạnh của người khác để học hỏi từ họ.

Trong toàn bộ nền văn minh của Trung Hoa, có hai triều đại có thể đại biểu cho dân tộc người Hoa trên toàn thế giới, đó là Hán và Đường. Chúng ta đều là người Hán, có văn hóa của người Hán, đi đến khắp nơi trên thế giới như các nước Âu Mỹ, đều có thể thấy các đường phố của người thời Đường.

Vừa rồi, chúng ta đã nêu ra một ví dụ về thời Đường. Còn nhà Hán là do Lưu Bang thành lập, rất có ý nghĩa. Tôi cũng ngay đây xin lưu ý với các bạn một việc, các bạn đang học tập và đang hoằng dương Văn hóa Trung Hoa mang họ Lưu và họ Lý đặc biệt nhiều. Mọi người có thể để ý, hiện giờ đặc biệt là những vị đang giảng dạy ở Trung Quốc đại lục mang họ Lưu và họ Lý rất nhiều. Các vị xem, trước đây không lâu đã có cô tên Lưu Tô, trong trường Trung ương Đảng còn có Giáo sư Lưu Dư Lị. Lần trước chúng tôi còn có mời đến Giám đốc Lưu Phương nữa. Những người họ Lưu đặc biệt nhiều. Những vị giáo viên họ Lý cũng đông, vì triều Đường là do nhà Lý thành lập, triều Hán là do người họ Lưu thành lập. Do đó, đời người rất có ý nghĩa, dường như đều là những việc mà trong mạng của bạn phải làm, nên bạn hãy nên thành thực mà mau đi làm. Mệnh trời khó tránh.

Có một lần, tôi về đến Đài Loan. Chúng tôi tổ chức khóa học. Vị quản lý trưởng của tổ chức cơ kim “Giáo dục chí thiện” ở Đài Loan là cô giáo Trần Thụy Châu. Trong khóa học đó, chúng tôi đều có đảnh lễ Khổng Lão Phu Tử, hành lễ tam quỳ cửu khấu. Kết quả, khi chúng tôi cùng cô giáo Trần Thụy Châu  lễ bái Khổng Tử xong, cô giáo Trần có nói với tôi: “Cả cuộc đời này của chúng ta nhất định phải làm sự nghiệp hoằng dương văn hóa”. Tôi nghe xong rồi thì thỉnh giáo cô ấy, vì sao vậy? Cô nói, hôm nay lúc chúng ta cùng nhau lễ bái Khổng Tử thì cô ấy có một thể ngộ rằng, Khổng Tử thời đó gặp kiếp nạn lớn nhất là bị tuyệt lương ở Trần Thái, bảy ngày không có gì để ăn, tất cả đệ tử đều bị đói đến nỗi đi không nổi, bò cũng không nổi. Cô ấy nói bởi vì cô ấy họ Trần, còn tôi họ Thái, “bị tuyệt lương ở Trần Thái”, cho nên chúng tôi đều có tội cả, cả đời này phải chuộc cái tội “Trần Thái” này. Tôi nghe xong cũng cảm thấy có lý.

Trong “Liễu Phàm Tứ Huấn” có câu: “Xa thì phải hoằng dương đức hạnh của tổ tiên, gần thì phải nghĩ cách chuộc lỗi lầm cho cha mẹ”. Dân tộc Trung Hoa của chúng ta đều có trách nhiệm hoằng dương đức hạnh của cổ Thánh tiên Hiền. “Gần thì phải nghĩ cách chuộc lỗi lầm cho cha mẹ”. Nước Trần và nước Thái đều được xem là tổ tiên của chúng tôi, hồi xưa đã làm khó cho Ngài Khổng Tử, đây chính là tội, không sai được, nên cần phải chuộc lại cái lỗi này.

Vừa rồi chúng ta có nói đến việc triều Hán là do người họ Lưu thành lập. Chúng ta nghĩ đến việc thời xưa Lưu Bang nhà Hán đã tương tranh với nước Sở trong một thời gian dài, cuối cùng đã thống nhất đất nước. Lưu Bang đối diện với các đại thần hỏi là: “Vì sao mà cuối cùng ông ấy có thể thống nhất thiên hạ mà Hạng Vũ lại thất bại?. Ông hy vọng tất cả đại thần hãy thẳng thắn nói ra, không nên úy kỵ điều gì cả. Kết quả các đại thần nói: “Thưa hoàng thượng, hoàng thượng vẫn có lúc hơi kiêu mạn và hủy nhục người khác, còn Hạng Vũ thì có đầy lòng nhân, yêu thương nhân dân, nhưng điều rất đặc biệt ở Hoàng Thượng là người biết chia sẻ lợi ích với thiên hạ. Một vị quan lập công, Ngài liền lập tức khen thưởng, vị quan nào có thể đánh thắng và chiếm lĩnh được địa phương nào thì Ngài liền đem đất chỗ đó cấp cho vị ấy, mà Ngài không giữ làm của riêng, có lợi cùng chia với người. Còn Hạng Vũ thì ghen ghét người hiền, đố kỵ người tài, tâm tật đố quá lớn, những người có công lao ông ta lại đố kỵ, mưu hại. Đối với người hiền đức thì ông ta lại có tâm nghi ngờ, với người đánh trận có công ông ta không hề luận công cấp thưởng, đem vùng đất đó chiếm thành của mình, không hề cấp cho vị tướng đó. Đây chính là nguyên nhân khiến Hạng Vũ mất cả thiên hạ”.

Sự phân tích này khiến cho chúng ta xét nghĩ đến việc về mặt biểu hiện thì Hạng Vũ cũng có yêu thương nhân dân, nếu không thì ông ta cũng không muốn lật đổ chính quyền tàn bạo của nước Tần. Điểm bắt đầu của ông vẫn là tốt, nhưng vì sao sau đó lại đố kỵ những vị đại thần có năng lực, có đức hạnh? Căn nguyên của vấn đề nằm ở chỗ sự tu dưỡng của ông. Do đó, sách “Đại học” có nói với chúng ta: “Người xưa muốn làm sáng tỏ đức sáng trong thiên hạ, cuối cùng cũng quy về chỗ nghiên cứu đến tận cùng nguyên lý của sự vật. Nghiên cứu đến tận cùng nguyên lý của sự vật thì mới có thể có được sự hiểu biết. Có được sự hiểu biết thì ý niệm mới chân thành. Ý niệm chân thành thì cái tâm mới ngay ngắn”. Con người mà không dẹp bỏ tâm ngạo mạn, không bỏ tâm đố kỵ thì tâm người đó không thể nào hòa hợp với lòng người được, cuối cùng có thể sẽ bị người khác làm phản và xa lánh.

Sau khi nghe xong những lời phân tích của các quan, Lưu Bang nói: “Các người chỉ biết một mà không biết hai, còn có một nguyên nhân quan trọng hơn nữa là vì ta đã tin dùng những đại thần rất có đức hạnh”. Vì vậy có câu: “Trọng dụng những đại thần siêu phàm”. Lưu Bang nói tiếp, ông ấy đã dùng Trương Lương, bởi vì Trương Lương có trí huệ. Ông ấy có thể ngồi trong doanh trại mà trù tính chiến lược, đem lại chiến thắng ở nơi cách xa ngàn dặm. Những quyết định chiến lược quan trọng nếu như được thiết lập sai thì có thể khiến cho hàng vạn người phải thương vong không biết chừng. Ở đây ông tin dùng Trương Lương. Ông còn tin dùng Tiêu Hà. Tiêu Hà có thể quản lý tốt quốc gia, an định lòng dân, là một lực lượng hậu phương tốt nhất. Trong toàn bộ các trận đánh, làm cách nào để vận chuyển quân lương, việc này Tiêu Hà làm không sai một chỗ nào, làm được rất tốt. Nếu như toàn bộ dịch vụ hậu cần cung cấp cho quân đội không thể làm tốt, quân đội dù mạnh đến mấy cũng đánh không thắng nổi. Còn có Hàn Tín đánh trận là thắng, bị đánh nhưng chưa từng thua. Ba người này đều là những nhân vật kiệt xuất, Lưu Bang đều trọng dụng. Còn Hạng Vũ thì có một đại thần rất giỏi là Phạm Tăng nhưng ông ta lại không nghe theo lời khuyên của Phạm Tăng, đây là nguyên nhân thất bại của Hạng Vũ. Triều nhà Hán sở dĩ hưng vượng như vậy đều là do biết dùng những “đại thần siêu phàm”, nên đã lập nên những “chiến công siêu phàm”.

Chúng ta xem câu tiếp theo, trong quyển số 2, trang 172. Câu này xuất phát từ “Lễ Ký”, chúng ta cùng đọc Kinh văn một lần:

Kinh văn: “Khổng Tử nói: “Vua đối với đại thần không thể không cung kính, bởi vì họ là tấm gương của dân chúng. Đối với cận thần không thể không thận trọng tuyển lựa, bởi vì họ là tấm gương cho dân chúng noi theo”.

Chúng ta xem, trong câu này nói đến việc vua đối với đại thần của quốc gia không thể không cung kính, bởi vì họ đều là hình mẫu của đất nước. Chúng ta nhìn thấy nhân dân trong các thời đại đều rất kính trọng các đại thần của quốc gia, thường xuyên nghe ngóng về tình hình của các vị đại thần này. Một phần là do nếu những đại thần này được trọng dụng thì nhân dân mới được an tâm, mặt khác là vì họ xem những đại thần này là tấm gương để học hỏi về mặt đức hạnh.

Chúng ta hãy xem triều Tống, quốc gia dân quyền, triều đại dân quyền. Lúc đó có Vương Đán, Vương Tăng, Phạm Trọng Yêm Tiên sinh, Tư Mã Quang Tiên sinh. Nhân dân hết sức quan tâm đến những vị này, học hỏi theo họ. Các vị đại thần này sẽ xoay chuyển phong khí tốt đẹp cho toàn thể xã hội, nên nếu như quan lại mà vô đức thì sẽ tạo thành phong khí không tốt.

Các vị thấy triều Thanh, vua Càn Long trọng dụng tham quan Hòa Thân đã khiến cho toàn thể triều đình, thậm chí toàn xã hội bị ảnh hưởng rất lớn, rất xấu. Hòa Thân đã tham ô rất nhiều tiền như vậy. Một khi khởi tâm tham, muốn trừ bỏ thì không dễ chút nào. Thực hiện việc giáo hóa lòng người và phong khí xã hội thật không dễ dàng, nhưng nếu muốn hủy diệt thì lại rất nhanh chóng. Đây nói về triều nhà Thanh, bao gồm luôn Nghiêm Tung của triều Minh, đây cũng là một đại gian thần. Dùng những tên gian thần như vậy thì toàn bộ phong khí của xã hội sẽ không tốt đẹp, đất nước dù có hưng thịnh cũng khó chồng thêm khó. Vì vậy, phải cung kính các đại thần, vì họ là hình mẫu của quốc gia.

“Nhĩ thần bất khả dĩ bất thận”; chữ “nhĩ” này nghĩa là “cận”. Khi dùng tất cả những vị cận thần thì không thể không thận trọng tuyển dụng. Một là khi tuyển chọn phải lựa người có đức hạnh, khi dùng những vị cận thần như vậy cũng phải cẩn thận đối đãi với họ. Một mặt phải cung kính họ, mặt khác cũng cần thường xuyên nhắc nhở họ. Cận thần cũng có khi thay mặt vua làm việc, đại diện cho hoàng đế và quốc gia, không thể làm cáo mượn oai hùm, ra oai diễu võ. Điều này khiến cho phong khí của triều đình và phong khí của xã hội bị ảnh hưởng không tốt. Giống như trong rất nhiều triều đại đã xảy ra việc lộng quyền thiên tử ra lệnh cho chư hầu, đây là một hiện tượng vô cùng nghiêm trọng. Vì vậy, khi dùng các cận thần không thể không tuyển chọn cẩn thận, cũng không thể không cẩn thận nhắc nhở và dạy dỗ bọn họ, bởi vì họ là “tấm gương cho dân chúng noi theo”.

Ở phía dưới có phần chú thích nhỏ giảng về “dân chi đạo”, họ đều là những tấm gương cho dân chúng phục tùng và noi theo, có ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ phong khí. Dùng cận thần cần phải hết sức cẩn trọng, bởi vì cận thần gần gũi với quân vương hoàng đế nhất, thường giảng cho hoàng đế nghe về luân lý đạo đức, luôn luôn nhắc cho hoàng đế nhớ về những nỗi khổ của dân chúng, thì hoàng đế mới có thể dùng đức hạnh mà xử lý việc triều chính. Tuy nhiên, nếu như các vị cận thần này không có đức, thường xuyên bợ đỡ nịnh nọt, thậm chí còn bàn chuyện thị phi, hãm hại trung thần thì càng nguy to.

Vào thời Chiến Quốc, Tề Uy Vương không hề đơn giản, ông ấy rất thận trọng trong việc phán đoán xem các quan lại có trung thành hay không. Nghe người bên cạnh nói cũng không thể phán đoán được có trung thành hay không. Vì vậy, chúng ta phán đoán người khác cũng như vậy, không thể nói người này đối với tôi rất tốt thì tôi liền nói anh ta là người tốt, người khác nói anh ta không tốt thì chúng ta liền lập tức tin ngay. Khổng Tử có giảng trong “Luận Ngữ”: “Người bị người khác ghét, ta cũng phải xem sự thể là thế nào. Người được người khác thích, ta cũng phải xem sự thể là thế nào”. Tất cả mọi người đều ghét bỏ người đó thì ta cũng không thể lập tức nói anh ta không tốt, mà cần phải quan sát. Những người đã mắng anh ấy có phải chăng là vì mong chiếm lợi mà không đạt được nên đã đi mắng người này không?

Vào thời đại ngày nay, người dân không hiểu luân lý đạo đức, trong đoàn thể xã hội người muốn làm người tốt, muốn chân chánh làm lợi ích cho đoàn thể sẽ gặp rất nhiều trở ngại, bị rất nhiều người mắng. Lúc này thì bạn không thể tin người khác rồi nói người đó không tốt. Trong thời đại này, làm việc tốt rất khó nhưng làm việc xấu thì rất dễ. Các bạn xem, hiện nay mà muốn làm một số ngành nghề, mở các điểm ăn chơi xấu thì bạn sẽ rất nhanh chóng có cơ hội để làm. Nhưng bây giờ muốn đi thúc đẩy luân lý đạo đức thì có rất nhiều người sẽ bắt đầu phản đối: “Đó đều là những thứ cũ rích của trước đây, không còn hợp thời nữa”. Tình huống này khá là ngược ngạo. Các bạn nói, chúng tôi làm trong ngành giáo dục là tốt rồi, trí huệ 5.000 năm, kinh nghiệm 5.000 năm, phương pháp 5.000 năm, hiệu quả 5.000 năm của tổ tiên mà người Hoa chúng ta lại không học. Tất cả những trường sư phạm đã học qua “Lễ Ký” và “Học Ký” chưa? Đó là nền triết học giáo dục tinh túy của tổ tông. Ngược lại, mặt trăng nước ngoài hình như tròn hơn mặt trăng trong nước, hiện giờ ta đã sử dụng rất nhiều viên chức trong ngành giáo dục từng học ở Mỹ và Âu Châu. Mọi người phải hiểu là không phải cứ đi du học thì đều hay.

Chúng ta hãy lắng lòng quan sát thế hệ sau này của Âu Mỹ, tỷ lệ thanh thiếu niên phạm pháp cao như vậy, giáo dục của họ cũng không thành công, chúng ta không thể mù quáng tin theo. Dân tộc chúng ta đời đời đều có Thánh Hiền, chúng ta hãy xem triều Thanh đã có bao nhiêu Thánh Hiền? Trong hơn một trăm năm nay, chúng ta đã không dùng đến những trí huệ và phương pháp này của tổ tiên nên không có người tài chân thật. Vì vậy, muốn đóng băng toàn bộ những rối loạn trong xã hội thì phải bắt đầu từ việc khôi phục lòng tự tin dân tộc. Có lòng tín rồi mới có thể học được. Học rồi mới có trí huệ để giải quyết những vấn đề này. Do đó, năng lực phán đoán rất quan trọng. Năng lực phán đoán của một vị vua còn quan trọng hơn, vì sao vậy? Ông ấy là vua một nước, tất cả mọi người đều do ông ấy cai quản. Nếu như các quan muốn được lợi ích, đi tâng bốc nịnh nọt hoàng đế, thì những lời của họ nói không thể xem là chân chánh được. Vì vậy, địa vị càng cao thì khả năng phán đoán phải càng sâu sắc.

Một lần, Tề Uy Vương cho triệu kiến quan đại phu Tắc Mặc (một đặc khu hành chính của nước Tề tên Tắc Mặc). Sau khi ông cho triệu kiến quan đại phu Tắc Mặc vào thì nói với ông ấy: “Rất nhiều người bên cạnh trẫm đều nói những lời không tốt về khanh, nói khanh quản lý không tốt. Tuy nhiên, người mà trẫm phái riêng đến Tắc Mặc điều tra thì lại thấy rằng việc đồng áng thủy lợi khanh đã làm rất tốt, đời sống của nhân dân được an định, ấm no. Mặc dù bọn họ nói xấu khanh, nhưng trên thực tế khanh đối với nhân dân vô cùng có trách nhiệm”, nên ngay lập tức phong cho ông ấy bổng lộc rất lớn.

Sau này, hoàng đế cũng triệu kiến một quan đại phu A Địa. Sau khi triệu kiến quan đại phu A Địa này, Tề Uy Vương nói với ông ấy rằng: “Không ít người bên cạnh trẫm đều nói những lời tốt đẹp về khanh, nhưng trẫm cũng không lập tức tin ngay. Khi trẫm phái người đến A Địa điều tra, thấy khanh lơ là việc quản lý, dùng thời gian và tiền bạc đến mua chuộc người ở bên cạnh trẫm, nhằm nói những điều tốt về khanh, nịnh bợ trẫm, do đó khanh đã không tận hết bổn phận của mình”. Kết quả đã phán vị đại phu này tội chết. Sau đó, ngay cả những người ở bên cạnh vua nhận tiền của người khác, chuyên môn nói lời tốt lành về người đó cũng nhanh chóng bị đem đi xử phạt. Chẳng mấy chốc, chính khí trong triều đình đã khôi phục trở lại, mọi người đều không dám nịnh hót, bợ đỡ, nhận hối lộ như vậy nữa, mà nhanh chóng ổn định trở lại, làm tròn bổn phận, vì nước vì dân.

Một vị vua có thể nhận xét một cách sáng suốt kẻ gian tà và người hiền đức như vậy là hết sức quan trọng đối với việc dùng người của ông ấy. Cho nên, “đối với cận thần không thể không thận trọng tuyển lựa”. Nếu như người ở bên cạnh mình đều biết nhận hối lộ để đi nói thay cho người khác, thì sự phán đoán của quân vương sẽ bị sai lệch.

Còn có một vị quan tên Bàng Thông, ông làm quan cho Ngụy Vương. Ông cảm nhận người làm vua rất dễ dàng bị ý kiến của những người ở bên cạnh ảnh hưởng. Ông ấy có nhiệm vụ đưa Thái tử nước Ngụy đến nước Triệu làm con tin. Ông ta sợ trong thời gian đó có rất nhiều người hủy báng mình, sau này vua nước Ngụy có thể sẽ không còn tin dùng ông nữa. Vị quan này rất có thiện ý nhắc nhở vua, đã kể cho vua nghe một câu chuyện. Bàng Thông nói: “Thưa bệ hạ, giả như hôm nay có người từ trong chợ trở về nói với Ngài rằng trên đường có hổ, Ngài có tin hay không?. Ngụy Vương nói: “Ta không tin”. “Sau đó lại có người đi chợ về nói với Ngài trên đường có hổ, bệ hạ có tin không?. Ngụy Vương nói: “Ta cũng hơi nghi ngờ”. “Vậy nếu có người thứ ba nói với bệ hạ rằng trên đường thật có con hổ”. Ngụy Vương nói: “Vậy thì chắc ta sẽ tin”. Sau đó, Bàng Thông nói: “Thưa bệ hạ, hiện giờ thần phải đến một nơi là nước Triệu, cách cái chợ đó không biết xa đến chừng nào. Sau này có thể người nói xấu thần còn vượt hơn con số ba người đó, có thể không chỉ có ba người. Ba người nói thì thành ra có hổ rồi, vậy lần này thần đi xa một chuyến, nhất định những người nói xấu thần nhiều như vậy thì bệ hạ chắc sẽ không còn tin tưởng thần nữa”. Ngụy vương nghe đến đây thì gật đầu: “Ta hiểu ý của khanh rồi, ta biết ta nên ứng phó như thế nào, nên làm sao rồi”. Sau đó, nhân duyên của Thái tử ở nước Triệu làm con tin kết thúc, thái tử trở về, nhưng cũng từ đó trở đi Ngụy vương không còn triệu kiến Bàng Thông nữa.

Các vị xem, Ngụy vương lúc đó đã hứa với Bàng Thông rằng ông ta sẽ chú ý, sẽ không bị những lời sàm ngôn làm ảnh hưởng. Nói là nói như vậy, nhưng khi nghe được quá nhiều lời phê bình, sàm tấu, bản thân Ngụy vương cuối cùng cũng bị ảnh hưởng. Câu chuyện này nhắc nhở chúng ta, những lời sàm ngôn rất lợi hại. Sàm ngôn không chỉ nói đến trong mối quan hệ vua tôi nghe lời sàm tấu, mà trong quan hệ cha con, quan hệ vợ chồng, quan hệ anh em cũng đều bị ảnh hưởng rất lớn. Cho nên tục ngữ có câu: “Cẩn thận chớ nghe nói sàm, nghe rồi ắt gặp tai ương”, tai họa sẽ đến. Lời sàm ngôn này có thể giết người không thấy máu, có thể phá hoại toàn bộ mối quan hệ nhân luân. Vua không nghe lời sàm tấu, thì thần tử mới có thể tránh được tai ương; cha con, vợ chồng mới có thể bảo toàn như xưa.

Vậy thì nghe lời sàm tấu là kết quả, nguyên nhân thì ở đâu? Ngụy vương cũng biết là không nên nghe, nhưng tại vì sao ông ta vẫn nghe? Vì vậy, có câu nói: “Sàm bất tự lai, nhân nghi nhi lai”. Lời sàm ngôn không tự nó đến, mà do trong tâm chúng ta có hoài nghi, nên chiêu cảm nó đến. “Gián bất tự nhập, thừa khích nhi nhập”, lời nói ly gián cũng không thể tự nó phá hoại gia đình, sự việc, mà là nó thừa cơ lọt vào. Bởi vì giữa hai người có một vài khoảng cách, có một vài hiểu lầm, nên lời ly gián mới dễ dàng lọt vào. Vì vậy, Thánh Hiền dạy phải xem xét lại chính mình, vấn đề không phải nằm ở những lời nói của những kẻ ly gián, mà quan trọng là vì sự nghi ngờ trong lòng của chúng ta quá lớn, còn nảy sinh thành kiến với người bên cạnh, tạo thành khoảng cách, như vậy mới có chỗ hở để những lời sàm ngôn này lọt vào.

Nói đến đây, chúng ta liền nghĩ đến trong sách giáo dục đạo đức có kể về một người em chăm sóc anh của mình. Kết quả người anh trai không hề cảm kích, uống rượu say còn đánh cả anh ấy. Hàng xóm nhìn thấy đều chịu không nổi, đều phê bình anh trai của anh ấy, đến mắng người anh trai, nhưng người em trai này đã nói với mọi người: “Mọi người đừng ly gián anh em chúng tôi, không được mắng anh tôi, anh của tôi rất tốt”. Tình cảm anh em họ không hề bị một tí ảnh hưởng nào. Những lời phê bình này không lọt vào được, thì mối quan hệ ngũ luân cha con, anh em, vợ chồng mới có thể tin tưởng lẫn nhau, và không có những tình huống gây ly gián xuất hiện.

Được rồi, tiết học này xin chia sẻ với mọi người đến đây! Cám ơn mọi người!

A Di Đà Phật!

Chia sẻ học tập “Quần Thư Trị Yếu 360” (tập 37 và 38)

Giảng ngày 28 tháng 05 năm 2011 tại Trung tâm Giáo dục Văn hóa Trung Hoa Malaysia.

Người giảng: Thầy giáo Thái Lễ Húc

Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ, Mộ Tịnh Cư Sĩ, Phước Tịnh Cư Sĩ

 

 

 

 

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 56


Hôm nayHôm nay : 10048

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 209610

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 10867653

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?