Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Quần thư trị yếu 360

Quần Thư Trị Yếu 360 - Thầy Thái Lễ Húc giảng (Tập 31 - 32)

Thứ bảy - 23/09/2017 10:29

TU THÂN - TỀ GIA - TRỊ QUỐC - BÌNH THIÊN HẠ

Các vị học trưởng, các vị đồng nghiệp, xin chào mọi người!

Chúng ta xem tiếp theo phần “minh vương tam cụ”. Xem điều lo âu tiếp theo là tam viết văn thiên hạ chi chí ngôn nhi khủng bất năng hành”. Nghe được ý kiến tốt nhất của người trong thiên hạ có thể làm lợi ích cho quốc gia, nhân dân. Sau khi nghe xong, lo sợ chính mình lãng phí kiến nghị tốt như vậy, chính mình chưa có thực hành, cho nên cái này là tấm lòng yêu dân, cũng là đối với những người có nhân duyên ở bên cạnh có thể trân trọng, có thể cảm kích. Đây cũng là tiếc duyên.

Chúng ta bình tĩnh suy nghĩ trong quá trình của cuộc sống, những lời mà quý nhân nói với chúng ta, chúng ta có còn nhớ hay không vậy? Giả như nhớ không được vài câu thì đã có lỗi với những quý nhân đã yêu thương dặn dò chúng ta. Cho nên có thể tri duyên, tiếc duyên thật không dễ. Càng có thể tri ân, cảm ân thì càng đáng quý hơn. Thái Tông Hoàng đế ở điểm này rất đáng quý, ông rất trân trọng đối với sự khuyên can của người khác, vả lại thường hay có những đơn thỉnh cầu giống như mười trọng điểm mà Ngụy Trưng đã khuyên. Ngụy Trưng thường hay dùng số “mười” để viên mãn, không phải chỉ “Gián Thái Tông Thập Tư Sớ”, mà còn có mười điều như “Tiệm Bất Khắc Chung Sớ” để nhắc nhở Thái Tông Hoàng đế vào năm Trinh Quán thứ 13.

Mười điều nhắc nhở Thái Tông Hoàng đế đó là: “Có mười phương diện thiên tử ngài đã không còn giống như trước nữa, không thể giữ gìn tốt được tâm thái, thậm chí là sa đọa biến chất 180 độ”. Đây là nhắc nhở ông. Thái Tông Hoàng đế xem xong mười điều “Tiệm Bất Khắc Chung” này hồi âm lại cho Ngụy Trưng: “Trẫm nếu như không y theo mà làm thì ta làm gì còn mặt mũi mà nhìn khanh”. Những lời này rất đáng quý. Ông là thiên tử, nhưng ông lại có được thái độ như vậy, rất tôn trọng những giáo huấn, những nhắc nhở của Ngụy Trưng đối với ông, dùng thái độ xem như là người thầy, người bạn để đối đãi Ngụy Trưng. Sau đó đem bài văn này dán ở trên bức bình phong trong căn phòng của ông, thường hay nhìn thấy và thường hay nhắc nhở chính mình. Phải luôn nhìn thấy thì ấn tượng mới sâu được. Nói thật ra, Thái Tông Hoàng đế là người tự mình biết mình.

Có lúc cũng cảm thấy những giáo huấn này rất tốt, nhưng gặp phải sự tình thì không đề khởi được. Làm sao để có thể không ngừng đề khởi còn phải thông qua sự trường kỳ huân tu, liên tục đọc Kinh, liên tục nghe Kinh đến nhập tâm. Tùy lúc, tùy chỗ đều có thể đề khởi sự quán chiếu chính mình, câu Kinh này chân thật thọ dụng, chân thật nội hóa được. Học vấn quý ở biến hóa khí chất. Một câu giáo huấn đó vừa nhập tâm thì sẽ không thể tách rời khỏi linh hồn của bạn.

Ở đây nói đến năm đầu tiên Trinh Quán, Thái Tông nói với các đại thần: “Ta từ nhỏ đã rất thích việc bắn cung tên, vả lại cũng cảm thấy đạo lý của cung tên thật kỳ diệu, ta có lẽ là rất rõ ràng về nó. Gần đây nhất, ta được một cây thập chi cung tốt, sau đó ta đã đem cây thập chi cung này đưa cho một người thợ chuyên làm cung tên xem thử”. Kết quả người thợ này nói: “Thưa hoàng thượng, cây thập chi cung này của hoàng thượng không tốt”. Ông giật mình, hỏi vì sao vậy? Người thợ làm cung này nói: “Gỗ dùng để làm ra cây cung này có cái lõi bên trong không thẳng, cho nên thứ tự của vân gỗ đều méo mó, đây không phải là cây cung tốt”. Bởi vì vân gỗ bị lệch rồi cho nên việc bắn tên đi sẽ không thật sự chuẩn xác. Đường Thái Tông nghe xong thì cảm ngộ như thế nào vậy? Ông nói: “Ta từ nhỏ đã giương cung, nam chinh bắc phạt, bình định thiên hạ, cảm thấy mình rất giỏi về cung, nhưng kỳ thực cũng chưa hiểu biết gì. Vả lại, thứ mà ta cảm thấy mình rõ nhất lại không hiểu gì cả. Ta làm Hoàng đế chưa bao lâu, căn bản là sự hiểu biết đối với việc trị vì thiên hạ rất là nông cạn. Cho nên ta hiểu về việc trị vì thiên hạ này chắc là sẽ không bằng việc hiểu đối với cung tên. Nhưng trên thực tế, cung tên đã không phải là hiểu rồi, thì việc trị vì thiên hạ này vẫn là còn kém rất xa”. Cho nên ông đã hạ lệnh trong kinh thành từ quan ngũ phẩm trở lên luân phiên sống ở trong Trung Thư tỉnh, mỗi buổi tối điều những viên quan này đến để nắm tình hình chính trị ở trong cả kinh thành. Vừa nắm tình hình, vừa tu sửa, vừa thâm nhập đạo lý Kinh giáo của việc trị quốc. Nhất định phải nắm rõ điều lợi và hại cho bá tánh, phải nắm rõ hiệu quả của việc giáo hóa chính trị như thế nào. Cho nên Thái Tông hoàng đế rất chăm chỉ, mỗi ngày đều tìm hiểu dân tình, ông chân thật là muốn làm tốt công việc chính trị. Đương nhiên, điều rất quan trọng là khi những vị quan từ hàng ngũ phẩm trở lên này đến, ông đều đem ghế ra cung cung kính kính ban cho họ ngồi “để được nghe lời của người trong thiên hạ”. Những ngôn luận quan trọng nhất trong thiên hạ là những gì? Tìm hiểu nỗi khổ của người dân, việc này là quan trọng nhất. Đối với ông mà nói, ông cần phải thật rõ ràng minh bạch mới có thể tiến thêm một bước là làm tốt các phương sách chính trị, lợi ích cho muôn dân.

Chúng ta vừa mới đọc đoạn này, bên cạnh cũng có một câu chuyện, không biết mọi người đã xem chưa? Câu này chưa nói xong mà các vị đã gấp lại, tôi nghĩ chắc các vị đã ghi nó vào trong tâm rồi phải không? “Đạo dã giả, bất khả tu du ly dã”.

Chúng ta xem đến “Minh chủ giả hữu tam cụ”: Nhất viết xứ tôn vị nhi khủng bất văn kì quá, nhị viết đắc ý nhi khủng kiêu, tam viết văn thiên hạ chi chí ngôn nhi khủng bất năng hành. Có được thái độ như vậy thì đạo đức học vấn nhất định sẽ tăng trưởng. Chúng ta từ tự thân mà phản tỉnh. Ta hôm nay ở vị trí nào, nhất định không mưu cầu danh văn lợi dưỡng, nhất định phải đôn luân tận phận, làm một tấm gương tốt trong ngành nghề của mình ở vị trí này, gọi là xứ tôn vị nhi khủng bất văn kì quá”, đắc ý mà sợ kiêu ngạo. Ở trên chức vị của công việc phải toàn tâm toàn lực, đương nhiên cũng sẽ đạt được rất nhiều sự công nhận, tán thán, nhưng mà không kiêu ngạo, vì sao vậy? Là việc nên làm. “Không cầu có công, chỉ mong không có tội”. Trong nhân duyên công việc, trong cuộc sống của chúng ta nhất định sẽ gặp được rất nhiều quý nhân, chúng ta cũng phải trân trọng sự nhắc nhở và giáo huấn của họ, không nên xem thường. Hoặc là giáo huấn của Kinh điển, chúng ta áp dụng vào trong công việc, xử thế đối người. Văn thiên hạ chi chí ngôn nhi khủng bất năng hành. Chúng ta lấy cái tâm cảnh này để lĩnh hội sự giáo huấn của sư trưởng. Mỗi một câu đều như người nghèo được vàng, trân quý, như uống nước cam lồ, cũng như trời hạn gặp mưa. Phải hoan hỷ trân quý như vậy. Sau đó, vừa nghe xong thì nhắc nhở chính mình phải áp dụng, phải thật làm, sợ không thể hành. Nói đến chỗ này, chúng ta phải lập tức hồi quang phản chiếu câu giáo huấn của sư trưởng ta đã làm được hoàn toàn rồi. Việc này chúng ta phải tự suy nghĩ, người khác không thể giúp chúng ta được. Mỗi một câu Kinh, kỳ thực đều là nâng cao tâm thái của chính mình để mà hạ công phu.

Câu chuyện tiếp theo này hoàn toàn thể hiện được câu Kinh văn vừa nói. Chúng ta hãy xem câu chuyện ở bên cạnh, mọi người có cảm giác dường như đã xem qua rồi có phải không? Chuyện này là ở trong “Cổ Văn Độc Bổn” của chúng ta, cũng đã giao lưu qua với mọi người rồi, chúng ta hãy ôn tập một chút.

Một vị sư kinh đang chơi đàn, ông là nhạc công đang ngồi chơi đàn. Ngụy Văn Hầu nghe rất say sưa, thậm chí còn nhảy múa theo, đung đưa theo điệu nhạc, vả lại còn có hứng thú làm thơ như thế này: “Sứ ngã ngôn nhi vô kiến vi”. Câu này ý nói là ông ca hát. Việc làm ông cảm thấy vui sướng nhất chính là lời của ông nói ra không có ai dám làm trái, “những lời trẫm nói ra không một ai dám làm trái”. Ông tự mình ở đó hát lên. Đột nhiên trong khi ông hứng thú hát như vậy thì người nhạc công ôm lấy cây đàn của mình. Người nhạc công này đã tự làm cho mình mù đôi mắt vì muốn toàn bộ tinh thần tập trung vào trong việc. Nghe bằng tai thì trình độ âm nhạc mới nâng cao. Âm nhạc lại có thể thay đổi được phong tục. Người xưa rất đáng quý, hy sinh đôi mắt của mình để làm lợi ích cho bá tánh. Cho nên khi ông nghe Ngụy Văn Hầu nói như vậy, bởi vì ông không nhìn thấy mà chỉ nghe được tiếng của Ngụy Vương, ông ôm cây đàn, cả người lao qua và tông vào người của Ngụy Vương. Đương nhiên người mù không nhìn thấy đường, tông vào người sáng mắt, nên Ngụy Văn Hầu vẫn có thể lách người né qua. Kết quả là không tông trúng phải Ngụy Văn Hầu, nhưng bởi vì sự việc quá đột ngột nên Ngụy Vương chưa chuẩn bị, ông vừa né thì cả người bị ngã nhào ra phía sau, chiếc long mão trên đầu cũng rơi ra ngoài. Bởi vì chiếc mão của vua thì hay có những sợi dây đính các viên ngọc, gọi là “chuỗi ngọc”, đã bị rơi ra hư hỏng, mấy viên ngọc đều bị rơi dưới sàn nhà. Ngụy Văn Hầu bị tông phải một cách đột ngột như vậy cho nên rất giận dữ, lập tức nói với những người bên cạnh: “Tông vào người của vua đáng xử tội gì đây?”. Lập tức được trả lời là “tội đáng nung nấu”, nghĩa là người này phải đem đi nấu sống cho chết. Sau đó lập tức hành động, liền trói người nhạc công này lại. Kết quả khi dẫn giải người nhạc công này đi, mới bước xuống bậc thềm, người nhạc công nói: “Bẩm hoàng thượng, hạ thần sắp phải chết rồi, có thể nào nghe hạ thần một lời rồi hãy để hạ thần chết”. “Được rồi, dù sao khanh cũng sắp chết rồi, hãy nói đi”. Người nhạc công nói: “Quá khứ khi vua Nghiêu, vua Thuấn làm quốc vương, e sợ người ta thuận theo họ, sợ không đem điều không đúng của họ nêu ra, không đem điều trái nghịch của họ mà trực tiếp can gián khuyên bảo họ, e sợ người ta không trực tiếp làm trái nghịch với những việc sai lầm của họ. Nghiêu Thuấn sở dĩ như vậy mà thành Nghiêu Thuấn. Còn Kiệt, Trụ - những vị bạo quân này khi làm vua thì sợ người ta trái nghịch với lời của mình, toàn bộ đều phải nghe lời hoàng đế thì mới được. Vừa rồi hạ thần nghe được mấy lời đó dường như là Hạ Kiệt - Thương Trụ đang nói chuyện vậy, cho nên hạ thần tông vào chắc là tông phải Hạ Kiệt và Thương Trụ, hạ thần không phải là cố tình tông vào hoàng thượng Ngài đâu”. Bậc quân vương ngày trước suy cho cùng cũng đã đọc qua sách Thánh Hiền, vừa nghe như vậy xong, thấy người ta nói đúng thì nói: “Được rồi, thả hắn đi, không phải lỗi của hắn, là lỗi của trẫm”. Các vị xem, vừa mới nói thì đã lập tức liền tiếp nhận, sau đó còn nói “đem cây đàn bị hư hỏng này treo lên trên tường thành để cho người cả nước biết được lỗi lầm của ta. Thêm nữa, cái mão này của ta bị hư hỏng rồi, cũng không cần sửa chữa lại, cứ để vậy mà đội. Ta mỗi ngày nhìn thấy nó bị hỏng như vậy thì ta biết ta sai ở chỗ nào, ta sẽ lấy đó làm điều răn”. Các vị xem, văn thiên hạ chi chí ngôn nhi khủng bất năng hành, đắc ý mà sợ kiêu ngạo. Người nhạc công đã nhắc nhở ông một việc rất lớn, đó là ngài làm vua mà đến nỗi không biết trời cao đất dày, chỉ có ta độc tôn thì không thể được. Lại khuyên ông, ông thật sự “sợ không nghe được lỗi của mình”, nghe rồi lập tức tiếp nhận. Cho nên ví dụ này cũng rất tuyệt vời.

Chúng ta xem câu tiếp theo. Chúng ta cùng nhau đọc một lần. Mạnh Tử nói với Tề Tuyên Vương:

Kinh văn: “Quân vương đối đãi với cận thần như tay chân mình thì cận thần đối đãi với quân vương như tim gan mình. Quân vương đối đãi với cận thần như chó ngựa thì cận thần đối đãi với quân vương như người dưng nước lã. Quân vương đối đãi với cận thần như cát bụi, cỏ rác thì cận thần đối đãi với quân vương như cường đạo địch thù”.

Mạnh Tử đối với vua của nước Tề là Tề Tuyên Vương, nói đến cái tâm cảnh rất quan trọng của người làm vua nên suy nghĩ như thế nào? Nói rằng người làm vua nếu như đối đãi với cận thần, thuộc hạ giống như huynh đệ thủ túc thì thuộc hạ của người đó sẽ rất cảm động, sẽ tự nhiên xem trọng đối với người đó như tim gan của mình, coi trọng như mạng sống của mình vậy. Có cảm thì có ứng, cuộc đời nói trắng ra chính là hai chữ “cảm ứng” này. “Yêu người thường được người yêu lại”. “Yêu người” là cảm, được người yêu lại là ứng. “Kính người thường được người kính lại”. “Kính người” là cảm, “được người kính lại” là ứng. Cho nên, người thế gian không có một sự việc nào là ngẫu nhiên cả, nó đều có đạo lý, có nhân quả, có đầu đuôi ngọn ngành.

Tiếp theo là nói đến người làm vua nếu như đối đãi với bề tôi, thần dân mà sai bảo giống như chó ngựa thì thuộc hạ hoặc là nhân dân cũng sẽ đối đãi lại vị vua đó giống như người dưng nước lã. “Người trong nước” không qua lại, đi ngang qua họ cũng không chào hỏi, vì không có tình nghĩa thật sự.

Mọi người hãy chú ý, hiện tại rất nhiều mối quan hệ quân thần rất giống kiểu như vậy. Người lãnh đạo doanh nghiệp coi cấp dưới của mình như công cụ kiếm tiền, “anh bán sức cho tôi, tôi trả anh tiền”, cấp dưới cảm thấy “tôi cũng đã làm rồi, tôi cũng phải lãnh phần mà tôi nên lãnh, sau khi tan ca thì anh là anh, tôi là tôi”, gặp nhau ở tiệm bách hóa cũng không chào hỏi. Kỳ thực, điều này đã đi lệch với bản tính của con người. Bản tính con người phải nên tương ưng với đạo nghĩa. Con người xử sự đều suy nghĩ đến lợi ích của chính mình thì đã đi ngược lại tánh đức rồi.

“Nhân chi sơ tánh bổn thiện”.

Rất nhiều trẻ nhỏ khi lần đầu tiên nhìn thấy một con cá bị cắt đuôi chảy máu đều rơi nước mắt. Chúng vì sao mà lại khóc? Chúng đồng cảm, xúc động, cảm thấy con cá sẽ rất đau. Cá mà chúng còn thương xót như vậy thì càng huống hồ là con người, có phải không? Đó là bản năng của chúng. Vậy làm sao khi lớn lên lại tổn hại đến cả cha mẹ vậy? Từ chỗ này chúng ta thấy được sự vĩ đại của giáo dục khiến cho chúng giữ gìn được thiên tính cả cuộc đời, đến nỗi tấm lòng yêu thương cha mẹ, hiếu với cha mẹ đó mở rộng ra đối với tất cả mọi người. Cũng giống như Phạm Công vậy, có tấm lòng “lo trước nỗi lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ”. Đó chính là giữ gìn cái thiên tánh, sau đó thì phát dương quang đại. Đây là trọng tâm quan trọng nhất trong sự giáo dục của dân tộc chúng ta, giữ gìn thiên tính, phát dương quang đại.

Thời thế thay đổi, chủ nghĩa công lợi làm chủ, làm cho chúng ta đều bị ô nhiễm, việc gì cũng nghĩ đến chữ “lợi” trước tiên. Các vị nói đến kết giao bạn bè, “qua lại với người này thì tôi có được lợi ích gì không?”, đều có cái điểm xuất phát này, đều có mục đích, không chân thành. Đạo nghĩa là ta như thế nào để có thể giúp đỡ cho họ, lợi ích cho họ. Cho nên ở trong thời buổi chủ nghĩa công lợi này, con người mà không bị ô nhiễm thì thật không dễ. Con người vẫn cần có cái đầu sáng suốt, không thể mặc tình để cho trôi theo sóng nước.

Phương Đông, đặc biệt là ở Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo đều lấy việc lợi người làm thái độ của đời người. Hôm nay người này có nhân duyên đến với đoàn thể của chúng ta, gặp nhau tất là phải có duyên. Người Trung Hoa thì coi trọng nhất chính là luân thường. Luân thường chính là người trong một nhà. Ở nhà thì cha con, vua tôi, vợ chồng là người một nhà, mở rộng ra đến xã hội thì đồng nghiệp như anh em. Ngành nghề của bạn, ai cũng gọi bạn là sư phụ, còn cung kính đối với bạn giống như bậc cha chú, đi đến nơi đâu cũng đều là trọng tình nghĩa, trọng luân thường. Hôm nay có duyên làm đồng nghiệp, có duyên làm cấp dưới của chúng ta, chúng ta dựa vào cái duyên này thành tựu hạnh phúc của họ, thành tựu đức hạnh của họ, chứ không phải là xem họ như công cụ để mà sử dụng, dùng đến khi họ bị tổn hại sức khỏe. Giúp bạn kiếm được một đống tiền, sức khỏe mất rồi thì về nhà đi, không lo cho họ nữa là không đúng. Sự quan tâm của nhân văn mọi nơi đều có thể khởi lên được, niệm niệm đều vì những người có duyên ở bên cạnh mà suy nghĩ, đặc biệt là vì sự hạnh phúc một đời của họ mà suy nghĩ.

Hiện tại có rất nhiều nhà doanh nghiệp nghe được giáo huấn của lão tổ tông, lòng yêu thương của họ khởi phát, đã mau chóng đem ngũ luân - bát đức dạy cho thuộc hạ của họ. Vốn dĩ là tỷ lệ ly hôn rất cao, bây giờ thì không còn ly hôn nữa. Đó đều là đại công đức. Các vị xem, không chỉ là nghĩ đến sự nghiệp của chính mình, mà nghĩ đến là cuộc đời hạnh phúc của tất cả công nhân viên. Một niệm tâm này là chân chánh, nhân từ, nhân ái. Đây là “Quân Chi Thị Thần Như Thủ Túc”, người một nhà. “Tắc Thần Thị Quân Như Phúc Tâm”, họ liền trung.

Hiện tại rất nhiều người đều nói: “Ôi, con người hiện nay không trung thành, nhảy việc đổi nghề rất nhiều”. Đó là nhìn sự việc ở trên tướng. Bạn không yêu quý họ thì họ làm sao hiểu chuyện, bạn không dạy bảo họ thì họ làm sao hiểu chuyện. Cho nên làm người lãnh đạo, làm cha mẹ, làm thầy cô người ta không thể than phiền, vấn đề vẫn là phải giải quyết từ trên bản thân của chúng ta. Bởi vì sao? “Quân nhân thần trung”. Có ai nói là “thần trung quân nhân” không? “Quân nhân thần trung. “Phụ từ tử hiếu”, cha mẹ phải dạy dỗ tốt cho con cái. Lại không thể nói “tử hiếu phụ từ”, có phải không? Nó có đạo lý. Những người có ảnh hưởng lớn đến gia đình, đoàn thể thì trước tiên phải làm việc cho đúng, phải yêu thương, phải giáo hóa người cấp dưới.

Tiếp theo nói: “Quân chi thị thần như thổ giới”. Nếu như người làm vua đối đãi với thuộc cấp như cát bụi cỏ rác mà chà đạp, coi thường, thì cấp dưới đối đãi với người làm vua đó như cường đạo, như thổ phỉ, như kẻ thù không khác. Câu nói này về cơ bản, một vị vua cuối cùng của triều đại bị mất nước đều gần như có cái kiểu giống như vậy. Các vị xem Hạ Kiệt, cấp dưới khuyên ông: “Thưa hoàng thượng, ngài làm như vậy nữa thì sẽ mất nước”. Hạ Kiệt nói: “Mặt trời thì làm sao có thể tiêu vong được chứ”. Kết quả là những lời này truyền đến tai của lão bá tánh, lão bá tánh nói: “Mặt trời lúc nào thì tiêu vong vậy, tôi sẽ liều chết một phen”. “Ngô dữ nhữ giai vong”, nghĩa là tôi sẽ liều chết với anh, tôi sẽ cùng diệt với anh, tôi không thể tiếp tục tiếp nhận chính sách bạo ngược nữa. Làm người làm đến nỗi người ta phải liều với chúng ta một phen thì chẳng ra làm sao, vả lại thật sự là đã không tận hết bổn phận của mình.

Trinh Quán năm thứ 11, Thái Tông có một hôm xem thấy một đoạn lịch sử. Xem xong rất cảm động, liền nói với những người ở bên cạnh: “Vào thời Xuân Thu chiến quốc, người dân tộc Địch (những người dân tộc Địch này không phải là người dân tộc Hoa Hạ, được xem là tiếp nhận giáo hóa tương đối ít trong một tộc Man Di), đã giết hại Vệ Ý Công (Vua của nước Vệ là Vệ Ý Công), còn ăn luôn thịt của ông, chỉ còn dư lại gan là không bị ăn mất. Các vị quan đều rươm rướm nước mắt vì không cứu được nhà vua, sau cùng nhìn thấy sự việc thê thảm như vậy đành ngước mặt mà gào thét. Sau đó đem lá gan của nhà vua bỏ vào trong người của mình, đem lấy lá gan của mình ra, bỏ lá gan của nhà vua vào”. Sau đó Đường Thái Tông cảm thán: “Chao ôi! Ngày nay muốn tìm được người trung thành đến như vậy có thể không còn tìm được nữa”. Có thể khi nói đến chỗ này lại có người nói: “Có thể nào không?”. Mọi người hãy chú ý, có câu nói: “Quân tử dĩ kỳ sở bất năng úy nhân, tiểu nhân dĩ kỳ sở bất năng bất tín nhân”. Người quân tử đối với những việc mà mình không làm được nhưng người khác làm được thì sinh khởi tâm kính nể đối với người ta. Tâm thái tiểu nhân thì không như vậy. Tiểu nhân đối với việc mình không thể, tức là bản thân họ không làm được, thì họ cũng không tin người khác có thể làm được. “Tiểu nhân dĩ kỳ sở bất năng bất tín nhân”. Ngày trước người con hiếu, người dâu hiếu, vừa nghe nói cắt bộ phận nào trên cơ thể xuống để làm thuốc dẫn thì mẹ sẽ khỏi bệnh, liền cầm dao lên cắt xuống rồi, sau cùng thật sự là đã khỏi bệnh. Việc này trong sách “Đức Dục” không chỉ có một câu chuyện, trong quyển “nhị thập ngũ sử” còn ghi chép lại, nói với mọi người chúng ta còn có thể lừa gạt người, lão tổ tông thì không có lừa gạt người. Đức hạnh của họ tốt hơn chúng ta rất nhiều, có phải không? Không thể nào việc mình không làm được lại còn hoài nghi người khác, như vậy là đã tạo thêm tội nghiệp.

Vừa rồi chúng ta mới nói đến Vệ Trọng Đạt “một niệm bất chánh khởi thì đã xem là có tội rồi”. Người xưa, những sự hành trì này ghi chép ở trong sử sách, lòng thành cảm động đá vàng cũng vỡ. Thái Tông hoàng đế đọc xong câu chuyện này rất cảm thán: “Trung thần như vậy thì rất là khó tìm”. Sau đó nói đến chỗ này lập tức nói cho truyền Ngụy Trưng vào và đã đem câu chuyện này kể cho Ngụy Trưng nghe, thử xem Ngụy Trưng nghĩ như thế nào, nói như thế nào. Ngụy Trưng nói: “Bẩm hoàng thượng! Dự Nhượng của thời đại chiến quốc khi xưa vì Trí Bá báo thù”. Lúc trước, khi chúng tôi muốn giảng “tài đức luận” đã giảng một câu chuyện về Trí Bá rất hung hăn càn quấy, đắc tội với Triệu Tương Tử, bị họ bày mưu giết hại, sau đó ba nhà chia nhau nước Tấn. Chính là bởi vì Trí Bá quá ngạo mạn, sau cùng cả gia tộc của ông cũng bị tiêu vong. Bởi vì điển tích như vậy mà dẫn đến “tài đức luận”, cho nên Ngụy Trưng đã lấy ví dụ này. Các vị xem, Dự Nhượng muốn vì Trí Bá báo thù, nhưng việc không thành lại bị Triệu Tương Tử bắt. Vả lại sau khi bắt lại liền nói với Dự Nhượng: “Dự Nhượng! Ngươi ngày trước từng phò tá cho Phạm Thị cùng Trung Hành thị. Hai vị chủ tử đều bị Trí Bá tiêu diệt, nhưng ngài ngược lại đi nhờ vả Trí Bá. Bạn đều không vì hai người họ để báo thù, bây giờ lại vì Trí Bá báo thù, vì sao vậy?”. Kết quả Dự Nhượng nói: “Tôi ngày trước phụng sự Phạm Thị và Trung Hành Thị nhưng họ chỉ xem tôi giống như những người bình thường khác, vì vậy tôi cũng xem họ giống như những người bình thường ở chung quanh mà thôi. Nhưng Trí Bá thì lại đối đãi với tôi giống như một người đọc sách tôn quý nhất của đất nước, tôi đương nhiên cũng xem ông như người tài năng của đất nước mà báo đáp, mà trả thù cho ông”. Bởi vì vua xem cận thần như thủ túc thì cận thần xem vua như tim gan, đây cũng là cảm nhận được sự tận hiến của Dự Nhượng. Phạm Thị và Trung Hành Thị thì không đủ tôn trọng Dự Nhượng, đương nhiên cũng sẽ không cảm được sự hồi báo như vậy. Tiếp theo, Ngụy Trưng nói điều quan trọng nhất: “Cho nên hoàng đế không phải không có người như vậy, mà là xem hoàng thượng đối đãi với thần tử như thế nào”. Trong thoáng chốc đã điểm chỉ ra cho hoàng đế, có phải không? Thái Tông xem xong câu chuyện này liền nói: “Ái chà, chắc tìm không được loại người này”.

Các vị xem, chúng ta hiểu được đạo lý rất dễ dàng trong phản ứng đầu tiên. Nhìn người khác, yêu cầu người khác, cái này cũng nằm trong lý trí, thậm chí là sẽ yêu cầu quá đáng, oán trách những người ở bên cạnh. Việc này đã đi ngược lại với “phản thân”. “Phản cầu chư kỷ” mới đúng. Cho nên, “thánh và phàm cách nhau chỉ một niệm”. Ý niệm này của chúng ta một khi không đúng thì đã lệch với chánh đạo. Thái Tông cũng rất là đáng quý, lập tức mời Ngụy Trưng đến nói thử xem sao. Ngụy Trưng lập tức chỉ ra cái tâm thái đó của quân vương là không đúng, Thái Tông cũng không phải là không tiếp nhận. Cho nên Phu Tử ở điểm này là đặc biệt tỏ bày nghĩa lý. “Chánh dĩ nhi bất cầu ư nhân”, không thể hiểu được đạo lý rồi thì trước tiên lại đi yêu cầu người khác. “Chánh dĩ nhi bất cầu ư nhân, tắc vô oán”. Chúng ta xem, cuộc đời mà muốn không có oán thù, người khác đối với chúng ta không có oán, chúng ta cũng không oán người khác. Tự mình phải có thể không oán người, quan trọng nhất là phải rõ lý, quan trọng nhất là “phản cầu chư kỷ”, thì sẽ không oán người. Bởi vì đã rõ ràng rồi, tất cả sự chiêu cảm của cuộc đời đều là do tự tâm mình chiêu cảm mà ra, vậy thì có gì phải oán người. Yêu người thường được người yêu lại, cảm ứng ra như vậy. Hôm nay người ta mắng bạn thì nhất định là bạn ngày trước cũng đã thường hay mắng người ta, cho nên mới chiêu cảm đến. Việc này không trách người ta. Cho nên người rõ lý thì nhất định sẽ không oán trách người. “Nhưng tôi cả đời không có mắng họ, vậy mà họ vẫn mắng tôi”. Vậy thì tốt, bạn vừa suy nghĩ như vậy thì bạn đã khai ngộ rồi, thì bạn sẽ tìm đáp án triệt để nhất. Rốt cuộc hiểu rõ là do đời trước đã mắng người ta. “Muốn biết nhân đời trước, hãy xem thọ nhận của đời này. Cuộc đời không có việc xấu. Sau khi bạn bị mắng rồi thì được khai ngộ, hiểu rõ đạo lý nhân sinh rồi. Cuộc đời thật sự là không có việc xấu, chỉ cần tâm thái của bạn đúng, thì mỗi một việc đều là đại tốt, đều góp phần tăng thêm đức hạnh của bạn. Cho nên tự mình phải không oán trách, phải rõ lý.

Làm đến được không để người ta oán, đầu tiên không nên yêu cầu người khác mà yêu cầu chính mình. Chính mình làm không tốt mà đi yêu cầu người khác thì người ta sẽ không phục, sẽ có oán trách.

Tiếp đến, “bình tâm thì không oán trách, tận tâm thì không hối hận”. Chúng ta thường nói, phải đi một cuộc đời không hờn không oán. Tâm địa vừa chuyển thì có thể không còn oán, không còn hờn nữa. Tâm bình đối với người sẽ công bằng, bạn sẽ không chiêu cảm sự oán trách của người khác. Bạn xem, làm cha mẹ, làm thầy cô mà bạn không công bằng thì oán sẽ liền tới. Trong đoàn thể, nếu như bạn yêu cái này, sủng ái cái kia, người ta nhất định sẽ bị tổn thương, sẽ oán trách, cho nên phải có thể công bằng. Có thể không yêu cầu với người, có thể không tự tư tự lợi mới có thể không oán trách. Bất cứ việc gì cũng đều chỉ biết nghĩ đến mình, người ta nhìn thấy thì nhất định sẽ chịu không nổi: “Con người này thật là”,… đều là tự ngã. Có lợi ích thì đều tự mình giành lấy đầu tiên, vậy thì làm gì có đạo lý không oán thán.

Khổng Tử nói: “Phóng ư lợi nhi hành, đa oán”. Tất cả thái độ làm việc mà chỉ biết đem tự tư tự lợi của chính mình xếp lên vị trí hàng đầu thì nhất định sẽ chiêu cảm lấy rất nhiều sự oán hận. Người ta oán hận chúng ta, thứ nhất là không tốt đối với sức khỏe của người ta, thứ hai là từ trường đó vừa truyền tới thì chúng ta sẽ mắc bệnh, có phải không? Từ trường đó mỗi ngày đều ở đó phát ra kiểu như là “con người này sao mà vẫn tồn tại, con người này sao vẫn tồn tại?”. Từ trường đó không tốt. Cho nên con người vẫn là phải rộng kết thiện duyên, không nên kết oán với người ta. Có lúc cảm thấy: “Ồ, sao hôm nay mình bị ngứa lỗ tai quá vậy” thì hãy bình tĩnh suy nghĩ: “Mình đã đắc tội với người ta nên đã bị người ta mắng rồi”.

 

QUẦN THƯ TRỊ YẾU 360 Tập 32

“Chánh kỷ nhi bất cầu ư nhân”, nghĩa là vô cùng đồng cảm nhân tâm, bởi vì biết cha mẹ đều không làm tốt mà lại yêu cầu người khác, trong tâm người ta nhất định là không phục. Chúng ta không bằng lòng người ta đối với mình như vậy thì ta làm sao có thể đối với người ta như vậy được chứ? Một người nào đó không làm được mà lại yêu cầu bạn làm thì bạn có phục hay không? Không phục, cho nên chúng ta cũng không thể đi yêu cầu người ta như vậy được. Kỳ thực, quán tính con người quá mạnh, quá quen với việc yêu cầu người ta trước tiên.

Trong “Trung Dung” có một đoạn nói rất thú vị: “Sở cầu hồ tử dĩ sự phụ, vị năng dã”, nghĩa là bạn hy vọng con cái hiếu thuận bạn như thế nào thì bạn hãy y theo tiêu chuẩn này mà hiếu thuận cha mẹ của bạn trước. , mình làm không được”. Các vị xem, cũng vẫn yêu cầu, tự mình cũng là con cái mà bạn không làm được. “Sở cầu hồ đệ dĩ sự huynh, vị năng dã”. “Em trai à, em phải đối với anh tốt như vậy, như vậy thì mới đúng”, nhưng mà chính mình cũng là một người em, đối với anh trai cũng làm không được. “Sở cầu hồ thần dĩ sự quân, vị năng dã”, đối với cấp dưới thì yêu cầu “các anh phải nên tận trung đối với tôi”. Kết quả nếu suy xét tiêu chuẩn này lại một chút: “Ồ, tôi đối với cấp trên của mình cũng làm không được”. Tự mình làm không được mà đi yêu cầu người khác phải làm được trước, việc này người ta sẽ không tiếp nhận được. Cho nên “thứ đạo” là dùng để khoan dung người khác, bạn tự mình còn không chịu làm thì người ta làm sao có thể tiếp nhận được chứ? Cho nên không thể yêu cầu người khác mà tự mình phải làm trước là quan trọng nhất.

“Thái Thượng Cảm Ứng Thiên” của Đạo giáo nói: “Chánh kỷ hóa nhân”, nghĩa là chân thật tự nhiên cảm hóa người khác mà không phải là yêu cầu người khác. Trong “Trung Dung” còn có một câu: “Sở cầu hồ bằng hữu tiên thí chi, vị năng dã”, nghĩa là chúng ta hy vọng bạn bè đối xử tốt với chúng ta như thế nào thì trước tiên sự yêu cầu này bản thân phải làm được đối xử tốt như thế ấy đối với những người bạn khác. Thứ đạo này đích thực là một sự nhắc nhở rất tốt đối với việc đối nhân xử thế. Kỳ thực, chúng ta đọc đoạn này trong “Trung Dung”, chúng ta hãy bình tâm một chút, chỉ cần khi bạn có yêu cầu đối với bất kỳ một ai, lập tức hỏi chính mình việc yêu cầu đó của chính ta có làm được hay không? Muốn yêu cầu với con cái, đột nhiên suy nghĩ ta yêu cầu con cái học tập cho tốt, vậy chính ta có học tập tốt hay chưa? Ta yêu cầu con cái phải hiếu thuận, vậy ta đã hiếu thuận hay chưa? Nghĩ như vậy thì không chỉ không nổi giận, không chỉ không yêu cầu, mà sẽ xấu hổ, sẽ đỏ mặt. Sự cảm nhận này tôi rất là mãnh liệt, bởi vì thỉnh thoảng xem thấy trên tivi những đĩa mà tôi đã giảng sáu - bảy năm trước. Tôi đứng đó mà xem đĩa của mình giảng một đoạn thì sau lưng tôi cứ toát mồ hôi. Các vị xem, tôi cứ thao thao giảng cho người ta nghe, bản thân lại làm chưa được, cho nên càng nói thì lại càng lo sợ, không thể cứ nói đạo lý cho người ta nghe mà tự mình thì không làm được. Tôi rất sợ có một ngày, những người ở bên cạnh nói: “Đạo lý này là anh nói ra sao giờ anh cũng chưa làm được”. Lúc đó chắc một câu tôi cũng không nói được, chắc chỉ muốn tìm một cái xẻng rồi đi đào một cái hang… Cho nên những người theo đuổi ngành giáo dục, người làm cha làm mẹ, hoặc là người làm lãnh đạo thường hay giảng cho người ta nghe, nhưng cũng phải bình tĩnh suy nghĩ, phải nên tự mình làm cho tốt. Nếu không, những đạo lý đã nói đều trở thành phản tác dụng, đều trở thành sự oán trách của người ta, vậy thì sẽ không tốt. Đây là chúng ta từ đoạn nói của Mạnh Tử cho mình một sự tự suy xét. Cho nên trong luận ngữ có nói đến: “Quân tử cầu chư kỷ, tiểu nhân cầu chư nhân”. Quân tử là chỉ muốn cầu ở chính mình, tiểu nhân mới là trách móc, muốn yêu cầu người khác. Những lời này là khuyên bảo chúng ta một cách rất khẩn thiết. Quân tử hay tiểu nhân là ở tâm thái của chúng ta, chính là ở sự sai biệt trong một niệm của chúng ta.

Câu tiếp theo, chúng ta cùng nhau đọc qua một lần.

Kinh văn: “Tề Cảnh Công hỏi Yến Tử: “Muốn nhân dân giàu có, an ổn, có khó không?”. Yến Tử trả lời: “ Rất dễ. Tiết chế tham dục liền có thể giúp dân giàu có, phán án công chính liền khiến dân an ổn. Làm được hai việc này là đủ”.

Tề Cảnh Công hỏi Yến Tử, làm thế nào để người dân giàu có an định? Làm như vậy có khó hay không? Khiến cho người dân được giàu đủ, được an ổn có khó hay không? Yến Tử trả lời: Không khó, rất dễ. Tiếp đến nói ra phải làm như thế nào: “Tiết chế tham dục thì dân sẽ giàu, “tiết dục tắc dân phú, trung thính tắc dân an, hành thử lưỡng giả nhi dĩ h. Kỳ thực một người quân vương, một người lãnh đạo phải luôn luôn có thể cảm thông sâu sắc, đặt mình vào người khác. Điều này rất quan trọng. Rất nhiều vấn đề có lúc không nhất định phải hỏi người ta, mà có thể hỏi chính mình. Ví dụ như Tề Cảnh Công lắng lòng lại hỏi chính mình: “Làm thế nào để lão bá tánh có thể giàu có, tâm của lão bá tánh làm sao có thể an ổn?”. Ông là vua một nước, trên làm dưới theo. Tâm lão bá tánh bất an nhất là gì? Là xã hội này không công bằng. Hễ mà không công bằng, rất nhiều quyền lợi của họ đều có thể bị tổn hại, có thể vô tội mà cũng bị người ta vu cáo. Sau đó những vị quan viên này lại không công chánh thì oan khuất sẽ chồng chất, như vậy nhân tâm của lão bá tánh đương nhiên sẽ hoang mang. Vị vua này luôn chỉ biết vơ vét tiền của dân, thì lão bá tánh làm sao có thể giàu có.

Trong “Đại Học” có một câu nói: “Tài tán tắc dân tụ, tài tụ tắc dân tán”. Tiền mà vua chúa sử dụng đều là tiền thuế nhân dân nộp. “Nhĩ bổng nhĩ lộc, dân chi dân cao”, đó đều là tiền mô hôi nước mắt của bá tánh, bạn đem ra hoang phí thì không phải là nhân dân sẽ nghèo khó hay sao. Yến Tử đã điểm chỉ ra phải làm được những điều này, đều là đấng quân vương ngài phải tự mình hạ công phu trên bản thân mình, ngài tiết dục vậy thì đã giàu rồi. Chúng ta ngày trước nói đến quân đạo, nói đến giới tham rất nhiều, chính là phải có công phu chấn chỉnh, sửa chữa thì mới có thể thân tu - gia tề - quốc trị. Phóng túng dục vọng thì nước và nhà đều bị hủy cả.

Tiếp đến, “trung thính”. “Trung” nghĩa là không thiên vị mà công chính để thẩm tra phán xử án kiện của nhân dân, để không có người bị oan phải vào tù. Công bình thì nhất định phải từ người có ngôi vị cao nhất mà làm, nếu không thì thượng bất chính hạ tất loạn. Một vị quân vương công chính thì những người cấp dưới cũng không dám khinh suất, nếu không sẽ trị tội của họ. Cũng như vậy, việc trị gia cũng phải vô tư, không thể có sự bất công bằng, người trong nhà của bạn mới có thể an.

Chúng ta xem câu chuyện “Trịnh Liêm nghiền lê”. Cả nhà ông có 1.000 người, làm sao lại trị lý được đoàn kết đến như vậy, tâm thì hòa và bình đến như vậy? Không có gì khác cả, công chính, bình đẳng, không thiên vị. Đem hai quả lê mà hoàng thượng ban cho nghiền ra, đem nước quả lê hòa vào hai lu nước, mỗi người uống một ly. Đương nhiên Yến Tử khi dẫn dắt đất nước đều là nắm lấy cương lĩnh, việc này đều rất đáng quý.

Chúng ta xem tiếp câu “chính trị chi thuật”. Ở đây nói đến toàn bộ nguyên tắc, phương pháp quan trọng của việc trị lý quốc gia. Đương nhiên đoạn này cũng là để cho người lãnh đạo quán chiếu trình độ thực tiễn của chính mình. Chúng ta cùng nhau đọc một lần.

Kinh văn: Phương pháp đạt đến sự anh minh trong chính trị, trước tiên phải tiêu trừ bốn họa hoạn mới có thể phổ cập năm điều chính sự. Bốn họa hoạn là: một là hư ngụy, hai là tư lợi, ba là phóng túng, bốn là xa xỉ. Hư ngụy sẽ nhiễu loạn phong tục, tư lợi sẽ phá hoại pháp lệnh, phóng túng sẽ phá rào quỹ đạo chân chính, xa xỉ sẽ bại hoại kỉ cương. Bốn họa hoạn này nếu không tiêu trừ thì đường lối chính trị đúng đắn sẽ không thể được thực thi. Phong tục hỗn loạn thì đạo đức cũng bê tha, cho dù là thiên địa cũng không thể bảo toàn bản tính của con người. Pháp chế bị phá hoại thì xã hội điêu đứng, cho dù là quân vương cũng không thể giữ gìn bảo vệ những pháp độ này. Thường quy bị phá vỡ thì lễ nghĩa cũng theo đó mà tiêu vong, cho dù là Thánh Nhân cũng không thể hộ trì chánh đạo. K cương bại hoại thì dục vọng lộng hành ngang dọc, cho dù đất nước có bốn phương rộng lớn cũng không thể thỏa mãn nhu cầu của họ. Đó gọi là bốn điều họa hoạn. Đề xướng việc trồng trọt, thêu dệt để nuôi dưỡng nhân dân, quán sát những sự yêu thích và oán ghét của nhân dân để điều chỉnh lại tập tục. Tuyên truyền lễ lạc văn chương để phổ cập sự giáo hóa của triều đình, xây dựng quân bị để đảm bảo uy nghiêm quốc gia, thưởng phạt nghiêm minh để thống trị pháp luật nước nhà. Đó gọi là năm điều chính sự”.

Chúng ta xem câu Kinh văn: “Chính trị chi thuật”

Phương pháp nguyên tắc của việc chính sự trị vì quốc gia trước tiên phải tiêu trừ bốn cái họa hoạn nghiêm trọng, vả lại phải ngăn chặn ngay từ đầu, bởi vì vấn đề đã nghiêm trọng mà muốn xử lý thì sẽ rất khó khăn. Từ góc độ y học mà nói, đợi đến khi bệnh tình nguy kịch thì sẽ rất khó trị, khi chỉ mới nhen nhóm thì trị sẽ rất dễ dàng. Cho nên người xưa thấy rõ được nhân tâm, quan sát phong tục rất nhạy bén, nhìn thấy hiện tượng này biết được về sau sẽ như thế nào, họ có thể suy luận ra. Con người chúng ta hiện tại không biết ngày mai sẽ như thế nào, gia đình sẽ ra sao cũng không biết, thế giới này sẽ như thế nào vẫn không biết. Dù gì tối nay tôi có cơm ăn thì tôi biết được rồi, chỉ quan tâm việc này, như vậy thì phiền phức rồi.

Lão tổ tông có một câu nói: “Nước mất thì nhà cũng tan”. Lượng băng ở bắc cực tan ra vào tháng bảy mỗi ngày bằng ba lần diện tích của Đài Loan, tốc độ nhanh chưa từng có. Các vị đồng chí, “cách mạng” vẫn chưa thành công, đồng chí vẫn phải cố gắng. Thủ đô Kuala Lumpur của chúng ta có giữ được hay không? Cách bờ biển rất gần, có lẽ phải nhờ vào việc nỗ lực hoằng dương luân lý đạo đức, giáo dục nhân quả trong những năm này. Việc hoằng dương mở ra, nhân tâm chuyển đổi được thì hiệu ứng nhà kính mới có thể hóa giải, nếu không thì vùng ven biển sẽ khó có thể tránh khỏi. Ai sẽ đứng ra làm? Cho nên ý nghĩa “một nước Malaysia” ở đây chính là nói cả thế giới là một nhà, do Malaysia chúng ta dẫn đầu làm gương mẫu. Hiểu được thâm ý này rồi phải không? Thế giới hiện nay loạn, không phải loạn ở tôn giáo, chủng tộc hay sao? Chỉ cần có đoàn kết, ai còn muốn loạn. Chính là do không tin tưởng, đều là cảm thấy vốn dĩ chính là như vậy, cũng hết cách rồi.

Ngày trước, khi Sư trưởng đến Liên Hiệp Quốc làm báo cáo đoàn kết tôn giáo, họ đều không tin, họ đều cảm thấy tôn giáo là sẽ xung đột, không nên tìm lấy phiền phức. Sau đó, Sư trưởng muốn cho chín đại tôn giáo tay nắm tay nhau cùng cầu nguyện thế giới hòa bình, họ không đồng ý. Kết quả là Sư trưởng Ngài nói: “Các vị không đồng ý, vậy tôi sẽ không làm”. Sau cùng họ cũng hết cách đành nói: “Được rồi, chỉ có thể năm phút mà thôi”. Cho nên, nếu như không có tấm gương nào thì người ta sẽ không tin. Tổng thư ký nhìn thấy rất vui mừng. Ai nhìn thấy hài hòa mà không vui mừng chứ? Các vị có thấy ai nhìn thấy sự hài hòa mà lại nổi giận hay mắng mỏ không vậy? Không có. Sau đó, Liên Hiệp Quốc đã thành lập văn phòng tôn giáo. Bạn xem, làm tấm gương quan trọng biết bao, cho nên chúng ta làm cho tốt.

Bạn xem, Nhật Bản đã cử phái đoàn đến, chúng ta tiếp tục nỗ lực. Sẽ đến lúc có đoàn Thái Lan qua nữa. Tốt nhất là có một số đoàn của các nước chiến loạn đến phỏng vấn thì càng tốt hơn.

Người xưa rất nhạy bén, họ có thể sớm nhìn thấu. Chỉ cần có bốn mối hoạn này tồn tại thì sẽ rất khó thúc đẩy nền chính trị nhân từ và có ích. “Tiên bình tứ hoạn, nãi sùng ngũ chính”, mới có thể tiếp nhận và thúc đẩy năm điều chính sự. Bốn mối hoạn là những gì? “Nhất viết ngụy”. Chúng ta nhìn thấy chữ “ngụy” này, mặt chính của nó là gì? Thành. Chân thành có thể tụ hội nhân tâm, hư ngụy thì sẽ đánh mất nhân tâm. “Thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hòa. “Có đạo thì được giúp đỡ, mất đạo thì cô quạnh. Có đạo gì? Là chân thành, chí thành thì tương ưng với đạo, sẽ cảm ứng người ta không phân đây - kia để cùng nhau làm việc lớn. Hư ngụy thì lâu ngày người ta sẽ nhìn thấy được nhân tâm. Anh nói một đằng làm một nẻo, những lời nói ra đều không phải nội tâm chân thật, đều là qua loa đối phó người ta, lừa người ta, người ta hiểu được thì cả đời này sẽ không tin tưởng chúng ta nữa. Mỗi một câu nói đều phải phát xuất từ tâm chân thành, không có một sự ứng phó hay hư ngụy nào. Việc này quan trọng.

Kỳ thực, con người hư ngụy vẫn là do tư dục không buông bỏ được. Rõ ràng có tự tư tự lợi của chính mình mà vẫn nói ra những lời rất khó nghe, đem tự tư tự lợi bao bọc lại một cách đẹp đẽ sáng láng. Nhưng dù gói lại tốt thế nào, sớm muộn gì cũng có một ngày bị người ta nhìn thấu. Cho nên, điều thứ nhất là không hư ngụy, tất cả ngôn hành đều từ trong tâm chân thật mà lưu xuất ra. Chúng ta muốn xem chính mình chân thành hay không cũng không khó. Tự mình nhìn vào gương mà giảng, đặc biệt phải nhìn đôi mắt, hãy xem đó như là việc diễn tập nói với người ta, sau đó nhìn vào trong gương, nhìn vào ánh mắt của mình có ngẩn ngơ hoặc giả là không chuyên chú không. Mọi người về luyện thử xem thì mới phát hiện được. Kỳ thực, khi bình thường ánh mắt và thái độ đó của chúng ta không chân thành. Tự mình trở về và nhìn lại trạng thái của chính mình, phải luyện đến trình độ nào thì mới được? Luyện tập đến mức độ khi giảng thì chính mình cũng cảm động rơi nước mắt, vậy thì bạn sẽ thể hội được sự chân thành của chính mình. Trở về luyện tập cho tốt. Giả như không rơi nước mắt thì tiếp tục nỗ lực, vì sao vậy? Bởi vì chân thành là vốn đã sẵn có, nhất định sẽ hiện tiền. Nhưng chúng ta phải chân thành từ trên tâm địa, trừ bỏ đi những thứ dơ bẩn này.

“Nhị viết tư”, con người một khi chân thành đối với người, niệm niệm suy nghĩ cho người khác, không có lòng riêng tư, niệm niệm vì họ tốt. Chúng ta nghe đến chỗ này thì có đột nhiên nảy ra được ý niệm: “Tôi đều vì muốn tốt cho họ, vậy ai sẽ muốn tốt cho tôi”. Các vị xem, đây là tâm cảnh chân thật nhất, một niệm này gọi là tư lợi. Quả thực con người rất mệt mỏi, phân đây phân kia, thường hay suy nghĩ chính mình muốn làm sao để mưu cầu tư lợi, còn phải tính toán với người khác, còn phải nói ra rất nhiều những lời đã chuẩn bị trước, thật sự là mệt! Chỉ có một tâm cảnh là đối xử tốt với đối phương thì đơn thuần nhẹ nhàng biết bao.

Nếu bạn thật sự làm được như vậy, thật sự là “có được đạo rồi thì được giúp đỡ”, nhất định sẽ có thể cảm đến rất nhiều thiện duyên. Người nào càng không phải vì mình thì sẽ được người ta càng yêu quý, tín nhiệm, sẵn lòng hợp tác với họ.

“Tam viết phóng”, đây là phóng túng, buông lung dục vọng, không có tâm cung kính, ngạo mạn vô lễ.

“Tứ viết xa”, là xa xỉ. Chúng ta xem bốn loại tình trạng này. Hiện tại là nói đến toàn bộ nền trị vì chính trị, chúng ta quy nạp nó lại thành một gia đình. Bốn điều này đều là vấn đề nghiêm trọng. Cha con đều không nói lời thật, thì cái nhà này có thể tồn tại được không? Nếu ngôi nhà này mỗi một người đều chỉ biết nghĩ cho chính mình, thì cái nhà này có thể an định hay không? Ngôi nhà này không có gia quy, buông lung xa xỉ thì nhất định sẽ diệt vong. Tinh thần của văn hóa truyền thống chân thật là lớn nhỏ đều viên dung; nhỏ cho đến việc tu thân tề gia, lớn cho đến trị quốc, bình thiên hạ, ở đây đều tương thông. Mọi người xem, một gia đình chân thật không tự tư, lại có gia quy, không buông lung, lại tiết chế, thì gia đình này nhất định sẽ hưng vượng.

Tiếp theo là phân tích, người xưa rất nhạy cảm đối với sự phát triển của sự vật, chỉ cần là hư ngụy thì tiếp theo sẽ như thế nào? Sự hư ngụy sẽ làm đảo lộn cả phong tục. Các vị xem, rất nhiều phong tục đều là để ứng phó với người khác, bạn phải nói lời hay với người ta thì bạn mới kiếm được tiền từ họ. Đây là đã biến thành bị hư ngụy dẫn dắt. Không phải tận hết bổn, không phải phát xuất từ nội tâm, đều là suy nghĩ muốn kiếm được tiền để mà ứng phó. Cả một lối sống như vậy đều là thấy lợi quên nghĩa, mưu lợi.

“Tư hoại pháp”. Mưu lợi chính là đã phá hoại tất cả pháp lệnh. Chữ “pháp” này là công chính. Thiên tử phạm pháp thì cũng đồng như thứ dân, việc này mới có thể quán triệt được pháp luật. Hễ có lòng riêng tư thì con người có mối liên hệ với tất cả đều không giữ quy củ, vậy thì pháp lệnh chánh nghĩa của cả xã hội sẽ loạn. Cho nên, một đoàn thể có quy định của đoàn thể, quy củ của đoàn thể. Quy củ này trước tiên người lãnh đạo phải tuân thủ. Người làm lãnh đạo không giữ thì quy củ của đoàn thể đều bị phá hoại. Bởi vì người trên đều không tuân thủ, đều là để ứng phó, thì người dưới đương nhiên sẽ học tập theo, sẽ noi theo, vì vậy quy định của một đoàn thể cũng bị phá hoại  luôn luôn là vì người lãnh đạo cao nhất chưa tuân thủ.

Có câu chuyện về một binh sĩ nọ. Vào một ngày khi anh đứng canh gác trực ban, nữa đêm có một vị thượng tá muốn đi vào trong doanh trại, anh hỏi: “Khẩu lệnh”. Vị thượng tá này lại quên mất. Ông mặc quân phục là thượng tá nói: “Anh không phải là chưa nhìn thấy tôi bao giờ, tôi là Thượng tá”, sau đó cứ thế ông bước vào trong. Ông vừa mới đi được vài bước, binh sĩ đó lại hỏi: “Khẩu lệnh”, càng ngày càng nghiêm túc hơn. Vị thượng tá đó là người có chức lớn nên cũng có chút ngạo mạn, cứ mặc kệ anh binh sĩ, tiếp tục đi. Người binh sĩ kia liền giơ súng bắn lên trời, sau đó lại hỏi: “Khẩu lệnh”. Quả nhiên phát súng đó rất có hiệu lực, vị thượng tá này thấy dường như là không thể cứ như vậy được nữa, đành hỏi người binh sĩ bên cạnh: “Khẩu lệnh của ngày hôm nay là gì vậy?, thế là đành phải nói khẩu lệnh ra. Nói xong anh binh sĩ liền nói: “Chào Thượng tá!. Nếu như bạn là vị thượng sĩ đó thì bạn xem anh binh sĩ này như thế nào? Những người như vậy là nhân tài chân thật, là một thuộc cấp tốt. Cứ thuận theo ý muốn của bạn thì quy củ của cả đoàn thể đều hỏng hết.

Có một câu chuyện khác nữa, hình như là ông tổng tài của IBM. Khi ông đi vào trong mà không quẹt thẻ, người gác cửa liền nói: Không được để ông ấy vào. Tổng tài của IBM thì có ai mà không biết, kết quả sau đó dường như thật sự là phải đáp ứng được quy định thì mới để ông đi vào. Về sau người lãnh đạo này đã rất trọng dụng người gác cửa đó. Họ là người gìn giữ công pháp, họ không phải người gìn giữ cảm tình. Làm theo cảm tình thì còn có công pháp nữa hay sao. Đây cũng là nhắc nhở người lãnh đạo, tâm thương ghét của người lãnh đạo chưa có buông xuống, đều ưa thích dùng người nghe theo họ, không phải dùng người biết giữ quy củ. Nếu người làm lãnh đạo mà không trừ bỏ những tập khí này, muốn dùng người trung thành không phải dễ.

Ở đây tiếp tục nói đến việc mưu lợi riêng sẽ phá hoại pháp lệnh, phóng dật thì sẽ vượt ra ngoài khuôn phép, vượt ra ngoài lễ giáo. Lễ giáo không phải là luật pháp, nhưng một khi lễ giáo bị phá vỡ thì nhân tâm của cả xã hội sẽ giống như nước lũ tràn lan, hoàn toàn không xoay chuyển lại được. Chúng ta xem, hiện tại phóng dật dục vọng nam nữ, có ai dám nói có thể chỉnh đốn lại tình trạng này được không? Không dễ. Cho nên lễ giáo là ngăn ngừa từ đầu, là trí huệ cao độ. Phận con cháu chúng ta không hiểu, còn phê phán, còn nói “lễ nghĩa lừa gạt hại người”, vậy thì phải gánh cái tội quá nặng, quá nặng rồi. Ơn trạch của lão tổ tông rất lớn mà bạn lại còn mắng họ, không cảm ơn, còn phê bình, kết quả bây giờ không thể chỉnh đốn được nữa. Đây là “phóng việt quỹ, xa bại chế, xa xỉ thì sẽ bại hoại rất nhiều điều lệ chế độ. Các vị xem, con người ngày trước ở địa vị gì thì mặc quần áo gì, lái chiếc xe gì. Nhìn quần áo mặc liền biết đó là Bộ trưởng, họ liền cung kính, bởi vì Bộ trưởng có cống hiến với quốc gia, không có hỗn độn. Con người hiện nay vừa có tiền thì “tôi sẽ mua nhà to, tôi mua xe đẹp”, đi xe cao cấp. Họ cảm thấy như vậy thì sẽ thể hiện được địa vị của mình, sau đó lại đưa đầu ra ngoài để mà khạc nhổ nước bọt, bạn nói xem vậy có cao quý hay không? Nhưng mọi người hãy để ý, những người này muốn xài như thế nào, muốn mua như thế nào đều có thể, nhưng họ không có một thứ gọi là quy phạm. Sau cùng con người đều như thế nào? Sĩ diện phô trương không biết lượng sức. Không có tiền mà muốn khoe của, đều muốn mặc hàng hiệu, sau cùng còn khiến cho gia đình tan vỡ. Có hay không? Có đấy! Các vị xem các thanh niên hiện nay đem tiền mồ hôi nước mắt của cha mẹ đi mua đồ hiệu, đây đều là không có tiết độ, sau cùng chỉ là nếp sống phù phiếm, háo sĩ diện. Các vị xem người xưa phân tích sự chuyển biến của nhân tâm, phân tích rất thấu triệt.

Tiếp theo nói đến bốn điều họa hoạn này không trừ thì nền chính trị đúng đắn sẽ không có cách nào để thực thi, bởi vì toàn bộ nhân tâm đều đi xuống thì làm sao mà thực hành. Phải khẩn trương giáo hóa, mất trâu thì mau mau làm chuồng, xoay chuyển tình thế, bởi vì cứ tiếp tục như vậy thì tục loạn tắc đạo hoang”, nghĩa là phong tục hỗn loạn thì đạo đức cũng bê tha. Đạo đức một khi tiêu vong thì thiên địa cũng không thể bảo toàn được bản tính của nhân loại, bởi vì tốc độ của sự sa đọa quá nhanh. Các vị xem, ba mươi - bốn mươi năm trước, chúng ta sống dưới quê vẫn chưa có những phong tục này, ở trong đại tự nhiên; đại tự nhiên nuôi dưỡng chúng ta, tấm lòng của chúng ta như thế nào vậy? Rộng rãi. Hiện nay thì sống trong một rừng nhà chọc trời, có phải không? Những tòa nhà như cây trong rừng nhìn không thấy được phía trước, chỉ nhìn thấy chính mình, ngay cả người hàng xóm bên cạnh tên họ là gì cũng không biết. Không thể lạc mất bổn tính thiện lương ở trong những đô thị chọc trời. Thật vậy, chúng tôi đều có cảm giác sâu sắc đó.

Chúng ta ngày nhỏ thì trời đất dạy dỗ chúng ta một cách vô tư. Gần đây tôi quan sát thấy thật sự là đất ở đâu thì nuôi con người ở đó, một nơi rộng lớn bao la giống như những thảo nguyên Tân Cương mênh mông bát ngát thì sinh ra những con người có tâm lượng tương đối lớn, hơn nữa nói chuyện cũng rất to. Bởi vì nơi đó rất rộng lớn nên họ cũng rất dễ cất lên những khúc hát, sau đó đến khi nói chuyện thì cũng vô cùng dõng dạc hùng hồn. Thật vậy, các vị xem ông Tổng giám đốc Hách đến từ Tân Cương nói chuyện, càng nói càng phấn chấn: “Các đồng bào hãy đứng dậy!. Còn nữa, thầy Lý Việt cũng là người Tân Cương. Tôi nhìn thấy mấy người này nói chuyện rất là khảng khái dõng dạc. Và còn cả cô giáo Xa Mỹ Nho cũng ở Tân Cương, các vị đã nghe qua cô ấy giảng chưa? Cũng vậy. Giáo sư người Tân Cương - ông Vương Tặng Di (đã về hưu) khi ông giảng bài cũng vậy. Thật sự đều đã nhìn thấy được những bước ngoặt hưng thịnh của dân tộc, sự hào hùng của họ rất cao, một vùng đất đã sinh ra họ. Vì vậy, Mạnh Mẫu ba lần chuyển nhà không phải là không có đạo lý. Nhưng con người hiện nay dục vọng mạnh quá rồi, ham muốn làm mê muội, cái tâm này không có cách nào giao cảm được với sự nuôi dưỡng vạn vật của trời đất, trời đất không thể giữ gìn bổn tánh đó. Trời đất không chỉ giữ không được bản tánh chúng ta mà còn bị chúng ta hủy hoại, làm cho đại tự nhiên bị tàn phá hư hỏng nghiêm trọng.

“Pháp hoại tắc thế khuynh, tuy nhân chủ bất đắc thủ k độ h. Pháp chế bị hủy hoại rồi, trật tự của cả xã hội sẽ bị sụp đổ, cho dù là bậc quân vương cũng rất khó để duy trì và giữ gìn chế độ pháp lệnh. Bởi vì có lúc hình thức hình thành, bạn muốn xoay chuyển thì thật không dễ dàng. Trên thực tế, những hình thức như vậy, một người lãnh đạo của đất nước thật sự muốn thực tiễn luân lý đạo đức, độ khó có cao hay không? Sẽ rất là cao. Quan phụ mẫu của rất nhiều nơi chân thật là dụng tâm thúc đẩy luân lý đạo đức, sau lưng họ phải gánh vác áp lực rất lớn. Kỳ thực, chúng ta đều có thể cảm giác được, bởi vì người nhận thức chính xác rất ít khi gặp phải nhiều người phản đối, chướng ngại họ. Đương nhiên cho dù gặp phải rất nhiều khó khăn, người có tâm nguyện, có quyết tâm thì vẫn có thể khắc phục được. “Cho dù thân này chịu bao nhiêu khổ tâm, nguyện này cũng quyết không thối”. Các vị đều không nói ra được à? Các vị hiện tại rất thông minh, biết là nếu nói ra thì phải làm. “Phàm nói ra, tín trước tiên”, tâm nguyện như vậy vẫn không thối.

“Quỹ việt tắc lễ vong, tuy thánh nhân bất đắc toàn kì hành h. Đã vượt ra ngoài thường quy rồi, lễ nghĩa giáo hóa cũng sẽ tiêu vong, cho dù có Thánh Nhân đến cũng rất khó để duy trì chánh đạo. Pháp quy đã bại hoại. “Hế bại tắc dục tứ”, dục vọng sẽ hoành hành, không có bất kỳ sự chiếu cố nào. “Tuy tứ biểu bất năng sung k cầu h, tuy rằng lãnh thổ đất nước của bạn bao la bát ngát thì cũng không có cách nào để đáp ứng được dục vọng hay sự tiêu phí của bạn.

Mọi người đọc đến đây thì hãy lắng lòng mà suy nghĩ, nước Mỹ rất giỏi tiêu tiền, rất giỏi tiêu phí, đất nước của họ có lớn hay không? Rất lớn. Nhưng hiện tại thì sao họ đang mắc nợ nhiều nhất thế giới? Đã vậy, họ còn dùng đến tiền của con cháu hai - ba đời sau nữa. Các vị xem, câu nói này lão tổ tông đều đã nhắc nhở rồi, cho nên đoạn này phải nên dịch trước cho người Mỹ xem, họ rất cần biết đến đạo lý này. Cho nên “thị vị tứ hoạn”, bốn điều này mà trừ bỏ.

Tiếp đến, “hưng nông tang dĩ dưỡng kì sanh”, “đề xướng việc trồng trọt thêu dệt để nuôi dưỡng nhân dân”, nuôi dưỡng cho tốt bá tánh.

“Thẩm hảo ác dĩ chính kì tục. Chữ “thẩm” này là quan sát những sự yêu thích và oán ghét của nhân dân để điều chỉnh lại tập tục, chính là sự yêu thích cùng oán ghét của con người.

Sau đó, “háo kỳ sở đương háo, ố kỳ sở đương ác”, sự yêu ghét của họ cùng với thị phi thiện ác là tương ưng để sửa đổi.

“Tuyên văn giáo dĩ chương kỳ hóa. Việc tuyên dương giáo hóa lễ nhạc, sau đó tỏ rõ sự quyết tâm của triều đình, chính sách của triều đình. Cũng giống như hiện tại ở đất Đại Lục, cả việc tế Khổng tử, tế bái hoàng đế cũng đều do một tay của quan địa phương lo liệu, vị quan chức cao nhất đến cầu nguyện. Đây đều là “tuyên văn giáo, chương kỳ hóa”. Hiển bày được chính sách quyết tâm của đất nước chính là hoằng dương văn hóa truyền thống làm thành quốc sách quan trọng, đây đều gọi là chương kỳ hóa.

Lập võ bị dĩ bỉnh k uy”, nghĩa là xây dựng quân bị để đảm bảo chắc chắn. Sự uy nghiêm của quốc gia không thể bị chà đạp, có quân bị thì người ta sẽ không dám xâm phạm.

“Minh thưởng phạt dĩ thống k pháp”, là thưởng phạt phải nghiêm minh để thống trị pháp luật của nước nhà. Thế nào thì gọi là thưởng, thế nào là phạt? Việc này thì không thể chỉ dựa vào sự yêu ghét của một người, cho nên cần phải nghiêm minh nguyên lý nguyên tắc rõ ràng về thưởng phạt, sau đó đến thống trị pháp luật của đất nước.

“Thị vị ngũ chính”, đây gọi là năm phương sách chính sự quan trọng.

Tốt rồi, hôm nay giao lưu với mọi người đến đây! Xin cảm ơn mọi người!

A Di Đà Phật!

Chia sẻ học tập “Quần Thư Trị Yếu 360” (tập 31 và 32)

Giảng ngày 28 tháng 05 năm 2011 tại Trung tâm Giáo dục Văn hóa Trung Hoa Malaysia.

Người giảng: Thầy giáo Thái Lễ Húc

Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ, Mộ Tịnh Cư Sĩ, Phước Tịnh Cư Sĩ

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 39


Hôm nayHôm nay : 10962

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 210524

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 10868567

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?