Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Quần thư trị yếu 360

Quần Thư Trị Yếu 360 - Thầy Thái Lễ Húc giảng (Tập 29 - 30)

Thứ bảy - 23/09/2017 10:28

TU THÂN - TỀ GIA - TRỊ QUỐC - BÌNH THIÊN HẠ

Các vị trưởng bối tôn kính, các vị học trưởng, xin chào mọi người!

Phần “quân đạo” trong “Quần Thư Trị Yếu 360” của chúng ta lần trước đã nói đến “phản thân”. “Phản thân” chủ yếu nói đến “phản cầu chư kỷ”, phản tỉnh sự tu dưỡng của chính mình. Chúng ta đã nói đến phải từ “tâm chánh” của chính mình mà hạ thủ, phải từ việc nhiều lần tự kiểm điểm bản thân của Tăng Tử mà quán chiếu. Làm việc cho người khác có tận tâm tận lực hay chưa, quan hệ với bạn bè có giữ uy tín chưa, kiến thức thầy giảng có thực hành theo chưa? Những kiến thức dạy cho học trò có phải bản thân mình đã nhiều lần ôn luyện và tự thân thực hành chưa?

“Trung tín” cũng là động lực của việc làm người, chuẩn mực của việc làm người. Bất trung bất tín thì không thể xem là con người. Học tập thì mới có trí huệ. “Học như bơi thuyền ngược nước, không tiến ắt sẽ lùi”. Có trí huệ rồi thì mới có thể tận hết bổn phận, có trí huệ thì mới dạy dỗ tốt thế hệ sau. Đây cũng là tận trung đối với gia đình. Đối với người theo đuổi ngành giáo dục thì có trí huệ mới có thể giáo dục tốt cho học trò, như vậy thì mới không có lỗi với đất nước và sự tín nhiệm của người trong ngành giáo dục. Bao gồm cả việc chúng ta là người lãnh đạo một đoàn thể, một công ty xí nghiệp cũng nên có trách nhiệm dẫn dắt cho tốt đại gia đình này, vậy thì đều phải có trí huệ. Chúng ta thấy sự mê hoặc của xã hội này nhiều như vậy, con người giả như không có trí huệ phân biệt thị phi thiện ác thì sẽ dễ dàng trôi xuôi theo dòng nước. Vì thế, trí huệ rất quan trọng.

Khi Khổng Tử nói đến: “Hiếu học cận hồ trí”, con người thông qua việc học tập Kinh điển Thánh Hiền thì họ mới có thể có được trí huệ chân thật. Không học Kinh điển thì ngay cả căn bản của việc làm người nằm ở đâu cũng không biết. Chúng ta hãy lắng lòng mà suy nghĩ, con người hiện tại tốt nghiệp đại học, tốt nghiệp thạc sĩ, tốt nghiệp tiến sĩ, học lực của họ rất cao, tri thức của họ trong một lĩnh vực nào đó rất phong phú, nhưng họ không nhất định là biết được đạo lý Hiếu - Đễ - Trung - Tín - Lễ - Nghĩa - Liêm - Sỉ. Cho nên, thâm nhập Kinh điển thì mới có thể tăng trưởng đức hạnh và trí huệ. Vì vậy nói: “Con cháu tuy ngu dốt nhưng Kinh điển không thể không đọc”. Hơn nữa phải luôn soi xét chính mình, áp dụng vào trong mỗi một lời nói việc làm, thậm chí là công phu “thận độc”. Khi không có người khác ở cạnh thì chính mình cũng tự thúc liễm, nhất định không thể làm ra những việc trái với đức hạnh. Thậm chí là từ khởi tâm động niệm cũng không đi ngược lại với tánh đức. Đây là người đọc sách tự yêu cầu và quán chiếu cha mẹ như vậy. Ý niệm suy nghĩ cùng với mỗi lời nói hành động của chúng ta đều không đi ngược với Kinh điển, vậy có dễ hay không? Không dễ. Vậy có cần làm hay không? Cần, nếu không thì “không tiến ắt sẽ lùi”. Các vị nói đối trị với những tập khí này rất mệt người, nhưng mệt bao lâu? Chịu hạ công phu thì chỉ mệt một lần ba năm, năm năm. Khi đức hạnh của chính mình thành tựu rồi thì được tự tại, liền có thể thật sự lợi ích cho những người chung quanh. Đức cũng giống như gió vậy, gió đức vừa thổi qua không có người nào mà không cảm động, không có người nào mà không nhận ảnh hưởng tốt, bởi vì “nhân chi sơ tánh bổn thiện”. Cho nên, muốn lợi ích cho người khác thì trước tiên phải thành tựu chính mình, chân thật có tâm lợi ích người khác thì nhất định sẽ hạ quyết tâm sửa đổi tập khí. Cho nên, nếu sửa tập khí thì chỉ mệt một lúc, không sửa tập khí thì mệt đời đời kiếp kiếp, không phải là một đời mà thôi, mà đời đời đều làm nô lệ cho tập khí. Vì vậy, thế nào đại trượng phu, thế nào là đại anh hùng? Chân thật đuổi cùng giết tận đối với tập khí của chính mình, tuyệt đối không giải đãi, tuyệt đối không tự gạt mình. Đây là bản sắc anh hùng. Hạ thủ như thế nào, sửa đổi ra làm sao? Đầu tiên là phải giữ quy củ của giáo huấn Thánh Hiền. Chúng ta không thể nào nói trên danh nghĩa là đang học giáo huấn Thánh Hiền, nhưng trên thực tế thì tất cả lời nói việc làm và suy nghĩ đều hoàn toàn không tương ưng với Kinh điển, vậy là đang học theo thói quen của mình chứ không phải đang học Thánh Hiền nhân. Việc này không thể chỉ học ở bề ngoài, hành vi thực tế thì phải lấy Kinh điển ra để yêu cầu chính mình.

Trên “Hiếu Kinh” có một đoạn nói với chúng ta một thái độ học tập rất quan trọng: “Phi tiên vương chi pháp ngôn, bất cảm đạo, phi tiên vương chi đức hạnh, bất cảm hành”, nghĩa là những gì nói ra nhất định là sự dạy bảo của Thánh Hiền, cổ Thánh tiên Vương; không phải do họ dạy bảo thì không nói, không phải đức hạnh của họ thì không làm. Con người đều lấy tiêu chuẩn của Thánh Hiền để xử sự đối người thì cũng giống như việc đổ khuôn vậy, bạn thật sự đã vào khuôn được rồi thì sẽ thành hình, gọi là thói quen thành tự nhiên, sau cùng đạt đến cảnh giới gì vậy? Bởi vì quen rồi, “ngôn mãn thiên hạ vô khẩu quá”, nói chuyện như thế nào cũng không sai lệch, không đi ngược lại đạo đức. “Ngôn mãn thiên hạ vô khẩu quá”, nghĩa là không có nói sai một câu nào. “Hành mãn thiên hạ vô oán ác”, tất cả những hành vi đều khiến cho người ta như được tắm trong gió xuân, sẽ không làm cho người ta cảm thấy chán ngán, đối lập.

Các vị học trưởng, các vị có hy vọng cả đời này từ đây về sau không có một câu nói sai nào hay không? Đây là mục tiêu của chúng ta. Kết cái duyên này với thân bằng quyến thuộc là quá khó, cho nên tục ngữ có câu “hữu duyên thiên lý năng tương ngộ”. Vậy làm sao để trân trọng cái duyên với thân bằng quyến thuộc? Đương nhiên chính là dùng đức hạnh để dẫn dắt họ, để ảnh hưởng họ, tuyệt đối không thể dùng tập khí để rồi khiến người ta bị ảnh hưởng mặt xấu. Đây mới là tâm nhân ái. Nhưng nếu chúng ta muốn không có tập khí, vậy quyết định phải giữ quy củ. Cho nên từ hôm nay bắt đầu, phải suy nghĩ cho kỹ trước mỗi lần muốn nói chuyện, câu mình nói ra có tương ưng với “ngũ luân, bát đức” hay không. Mọi người không nên nói có tương ưng với bộ Kinh điển nào đó hay không, vậy thì không dễ tìm. Hoặc giả là các vị dùng một bộ “Đệ Tử Quy”, trước tiên lấy bộ Kinh này để đối chiếu, bên trong đã bao hàm toàn bộ cương lĩnh “hiếu, đễ, cẩn, tín, phiếm ái chúng, thân nhân, dư lực học văn”. Học vấn Thánh Hiền đều không vượt ra ngoài bảy phạm trù này. Hoặc giả là các vị cảm thấy 1.080 chữ này trong chốc lát mà phải suy nghĩ thì bạn sẽ hoa cả mắt thì cũng không sao, chúng ta dùng ngũ thường là được rồi. “Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín” là năm thường đạo làm người, dùng năm tiêu chuẩn này để quán chiếu. Ngôn ngữ hành vi mà trái ngược thì nhất định không nói, không làm, như vậy thì dần dần ngôn hành của chúng ta sẽ hoàn toàn tương ưng với ngũ thường. “Tùy tâm sở dục bất du cử”, nghĩa là thói quen sau khi đã thành tự nhiên rồi thì không thể vượt ra khỏi giới hạn đạo đức.

Chúng ta vừa mới nói đến ý niệm, tu dưỡng ngoài việc ở những nơi không có người vẫn phải hạ công phu ra, đi sâu hơn là người khác không biết khởi tâm động niệm của chúng nhưng chúng ta vẫn có thể luôn luôn quán chiếu ý niệm của chính mình là chánh hay tà, là tịnh hay nhiễm, là giác hay mê. Ví dụ dùng sự nhiễm trước để nói, tâm tham là nhiễm trước, tâm sân hận là nhiễm trước. Người tính khí xấu thì nguyên nhân rất nhiều, trong đó chính là thường hay nhìn người ta không vừa mắt, có thành kiến với người ta, đây là nhiễm.

Các vị xem các em nhỏ, chúng chung sống với nhau, vừa mới cãi nhau chừng vài phút sau thì đã chơi cùng nhau rồi có phải không? Chúng không để ở trong lòng, chúng không nhiễm, đây gọi là lòng dạ trẻ thơ. Khi hạ công phu đối với ý niệm này, chúng ta phải từ mấy ví dụ này mà thể hội.

Trong “Liễu Phàm Tứ Huấn” có một câu chuyện. Triều Tống có tiên sinh tên là Vệ Trọng Đạt. Có một hôm nhân duyên rất là đặc biệt, ông đến âm gian. Kết quả vua Diêm La cũng có nhân duyên với ông. Vệ Trọng Đạt khoảng chừng bốn mươi tuổi. Vua Diêm La lệnh cho vị quan bên cạnh đem hết những sổ sách ghi chép việc thiện ác của Vệ Trọng Đạt ra xem. Mọi người đã có kinh nghiệm về việc này hay chưa? Chưa phải không? Chúng ta không tốt phúc giống như ông, ông có được kinh nghiệm cả đời khó quên như vậy. Phải có phước tốt thì mới luân phiên đến chúng ta.

Mọi người về nhà đi ngủ thì nhớ cầu nguyện, biết đâu có ngày vua Diêm La đến dạy chúng ta một bài học mà cả đời cũng không thể quên. Kết quả, các việc ác chân thật đã được ghi chép lại rất tường tận. Trời đất có một vị thần chuyên môn ghi chép lại công và tội của mỗi một người, “ngẩng đầu ba thước có thần linh”. Những sổ sách ghi chép việc ác đem ra chất đầy cả một cái sân, ông giật cả mình: Tôi còn chưa qua bốn mươi tuổi mà làm sao lại nhiều đến như vậy?”. Vua Diêm La đã nói một câu rất quan trọng: “Nhất niệm bất chánh tức thị, bất đãi phạm dã”, nghĩa là khi ý niệm là tà, là nhiễm trước thì sẽ ghi chép lại thành một cái ác. Giả như ý niệm ác này lại kèm thêm hành vi thì cái nghiệp tội này càng nặng. Đạo lý này chúng ta chân thật hiểu rõ rồi thì niệm niệm đều giữ thiện niệm, không thể khởi ác niệm. Đây là chân thật hiểu lý. Chân thật yêu quý chính mình thì không thể để cho chính mình phải tăng thêm tội nghiệp.

Tiếp đến, việc thiện của Vệ Trọng Đạt được ghi chép lại thì chỉ có một quyển nhỏ như chiếc đũa. Sau đó đem bỏ lên trên cân để cân thử, kết quả thì những điều ác chất đầy cả sân đó lại nhẹ hơn quyển ghi điều thiện nhỏ. Ông cũng rất kinh ngạc, vậy trong quyển đó rốt cuộc là ghi chép những gì? Vua Diêm La đã ra lệnh mở ra xem. Trong đó ghi việc hoàng đế muốn cho xây ba cây cầu bằng đá núi, đó là ba ngọn núi ở Phúc Châu, ông đã khuyên hoàng đế việc này rất hao tài tốn sức, không nên xây dựng. Bản thân ông cũng kinh ngạc: “Tôi có kiến nghị nhưng mà hoàng đế cũng đâu có nghe theo, vậy làm sao mà lại có sức nặng lớn đến như vậy?. Vua Diêm La liền nói: “Ý niệm này của ông là vì muôn dân trăm họ, cho nên sức nặng của điều thiện này rất lớn. Cho nên, con người có thể vì thiên hạ mà suy nghĩ thì đây là đại thiện, khởi được cái tâm như vậy đều là thiện hành khó mà có được. Giả như làm rất nhiều điều thiện đều là vì mình, cái thiện này cũng là nhỏ. Câu chuyện này trong “Liễu Phàm Tứ Huấn” nhắc nhở chúng ta, việc phản tỉnh chính mình vẫn là phải từ chỗ khởi tâm động niệm. Đây là tu căn bản.

Chúng ta thường nói phải tu hành, tu thân. Tu hành là tu chính cách nghĩ, cách nhìn sai lầm. Khởi tâm động niệm chính là cách nghĩ. Sự phán đoán giá trị quan đối với sự vật là cách nhìn, không thể để sai lệch, bởi vì cách nhìn và tư tưởng sẽ dẫn dắt phương hướng cho cuộc đời chúng ta. Cách nói, cách nhìn đều phải tu chính lại; cách nói là ngôn, cách làm là hành.

Cũng như vậy, vào triều nhà Minh có một câu chuyện về một người đọc sách cũng khiến chúng tôi ghi nhớ vô cùng sâu sắc, là Du Đô tiên sinh. Khi ông được mười bảy tuổi thì đã thi lên tú tài. Học vấn rất tốt, nhưng về sau, sau khi thi lên được tú tài rồi thì thi như thế nào cũng không thể đậu cử nhân. Thi không được công danh gì, cuối cùng chán nản vì khốn khó. Sinh được năm đứa con trai thì chết hết bốn đứa, đứa còn lại thì đi lạc lúc tám tuổi. Sinh bốn đứa con gái thì chết hết ba người, chỉ còn lại một người. Vào một đêm giao thừa năm ông bốn mươi bảy tuổi, ông ngồi cùng với vợ và đứa con gái duy nhất còn lại, cảm thấy cuộc đời thật là thê lương. Nhưng ông luôn nghĩ, ông từ nhỏ thì đã học sách Thánh Hiền, vả lại khi tụ hội với bạn bè đều phụng hành giáo huấn của Văn Xương Đế Quân, cũng đã làm được mấy mươi năm rồi, làm sao mà vận mệnh cũng không thay đổi?

Các vị học trưởng, nếu như hôm nay chúng ta phụng hành giáo huấn Thánh Hiền được mấy mươi năm rồi mà vận mạng cũng không thay đổi được, ý niệm tiếp theo là gì vậy? Có thể mắng ông trời được hay không? “Ông trời ơi, sao ông đối xử với tôi không công bằng vậy?”. Cho nên mọi người hãy xem, nếu như ông đọc sách, đọc hết mấy mươi năm gặp điều không thuận lợi mà vẫn cứ “ông trời ơi” thì mấy mươi năm đó cũng vô ích rồi, có phải không? Học vấn phải có thể nỗ lực thực hành thì mới có ích. Học vấn của Thánh Hiền một câu thôi cũng nói được thấu: “Hành hữu bất đắc thì phản cầu. Họ phải nên điều chỉnh lại, “tôi làm lâu như vậy rồi mà cũng không có đủ phước báo để thay đổi vận mạng, việc ta làm đó có phải là có vấn đề hay không?. Đó là người bốn mươi mấy tuổi rồi, là người trung niên rồi vẫn không phát hiện ra được vấn đề, cũng rất đáng thương. Sau đó còn luôn có cái tâm oán trời trách người, ý niệm đều có thiện - ác. Oán trời trách người là thiện hay là ác? Đương nhiên là ác rồi. Ông trời luôn luôn hộ niệm muôn dân trăm họ, chúng ta lại còn mắng trách, vậy thì tội này rất nặng. Một người nào đó đối với bạn rất tốt mà bạn oán họ thì việc này đã không hợp tình người rồi. Cha mẹ nuôi dưỡng chúng ta từ bé đến lớn, chúng ta oán cha mẹ thì đúng là đại tội.

Đương nhiên ông trời có đức hiếu sinh, vẫn là cảm thấy Du Đô tiên sinh có thiện căn, bởi vì ông đối với Táo Thần gia đặc biệt cung kính. Cho nên đêm giao thừa hôm đó, Táo Thần đến để điểm hóa cho ông, trực tiếp chỉ ra vấn đề căn bản của ông là “ý ác quá nặng”, ý niệm ác quá nhiều; “chuyên vụ hư danh”, đều là làm bề ngoài để cho người ta xem, trong lòng không có cái tâm chân thật đoạn ác tu thiện, không có tâm từ bi thương người chân thật. “Mãn chỉ oán vưu”, viết một bài văn để triệu cáo lên trời, tất cả đều là oán trách ông trời không công bằng. “Độc trần thượng đế”, đây là không cung kính đối với ông trời. Vừa nói xong như vậy thì Du Đô tiên sinh ý niệm kế tiếp của ông là gì? Cho nên các vị xem, con người phản tỉnh có dễ dàng hay không? Không dễ dàng. Ông liền nói như vầy: “Tôi đã làm được bao nhiêu năm rồi, làm sao lại không có một việc thiện nào?.

Các vị học trưởng, các vị chân thật muốn khuyên một người bạn tốt thì phải thu thập tư liệu đầy đủ, nếu không họ sẽ bài bác. Bạn không thể nói với họ một cách rõ ràng mọi mặt được, có lúc họ sẽ không tiếp nhận. Bởi vì vị thần Táo này cũng đã nắm được lai lịch, toàn bộ sổ sách ghi chép đều điều tra rõ ràng rồi, bắt đầu nói với ông. “Ông nói ông quý tiếc chữ, các ông còn đem Kinh điển đi lau chùi và vứt bỏ ông cũng không ngăn cản. Ngược lại nếu bên cạnh có người thì ông liền cố ý đi nhặt lại rồi nói “không được làm bẩn”, sau đó đem đi đốt. Vậy thì ông làm cho người ta xem chứ ở nhà mình thì không làm. Ông nói ông phóng sanh, yêu quý sanh mạng, đều là người ta nói muốn phóng sanh thì ông mới đi với người ta, xưa nay chưa có một lần ông tự chủ động. Đã vậy ở trong bếp nhà của ông còn thường hay nhốt mấy con cua, còn nhốt tôm cá, chúng không phải là sinh mạng hay sao? Vậy mà ông còn nói là muốn phóng sanh, còn nói là có lòng từ bi. Tiếp đến nói: “Ông còn thường phạm tội khẩu nghiệp, ông biện tài vô ngại, nói ra lời gì người bên cạnh đều nói “thật lợi hại”, khi đó ông càng nói thì lại càng hăng hái, trong tâm cũng cảm thấy những lời này đã có chút hơi quá, nhưng mà lại không kiềm chế. Những lời này chọc giận cả thiên địa quỷ thần, còn nói là giữ khẩu nghiệp. Còn nói là giới dâm, nói không tham nữ sắc, tuy rằng ông không có phạm qua hành vi tà dâm, nhưng mà thường hay khi nhìn thấy phụ nữ xinh đẹp thì chân nọ đá chân kia, liền có chút bối rối. Giả như khi thật sự là có sự dụ hoặc này mà ông có thể giống như Liễu Hạ Huệ hay không, ông dám nói ông có thể giống như Liễu Hạ Huệ khi ôm người đẹp trong lòng mà không động tâm hay không? Còn nói cả đời không có tà tư tà niệm, có thể nói là đại vọng ngữ đối với thiên địa quỷ thần. Du Đô thấy tất cả tư liệu về mình đều đã bị người ta tra ra rõ ràng như vậy rồi, liền quỳ sụp xuống: “Nếu biết rõ mọi việc của tôi như vậy nhất định là một vị thần linh, xin hãy mau chỉ dạy cho tôi”. Kỳ thực, con người muốn phản tỉnh thật không dễ dàng, có tâm thái như thế nào vậy? Bất luận là đọc một bộ Kinh nào, một câu Kinh văn nào, đều đem những câu Kinh văn đó ra để đối chiếu với chính mình mới có thể phát hiện được cái tập khí trong chỗ sâu nhất của nội tâm. Cho nên sửa đổi không dễ dàng, không có sự tỉnh giác như vậy thì ngay cả biết lỗi làm cũng khó.

Khổng Tử nói: “Ngô vi kiến năng kiến kỳ quá nhi nội tự tụng giả dã”, mọi người có nhớ câu nói này hay không? Vẫn còn chưa nói đến hai mươi mốt lần, việc này là bình thường, chẳng qua đã hai tiết học rồi giờ mới nói “cải quá” có phải không? “Có lỗi mà không sửa, thì đó chính là lỗi vậy”. Câu nói này phía trước thì Phu Tử đã có cảm thán một cái, “dĩ hĩ hồ”, nghĩa là bật tiếng cảm thán một cái. “Ngô vi kiến năng kiến kỳ quá, nhi nội tự tụng giả dã”, nghĩa là Phu Tử nói: “Ta chưa có nhìn thấy một người nào tự xem thấy lỗi lầm của chính mình mà lại tự phản tỉnh chính mình. Cho nên cái này là biết sai, phải “kiến kỳ quá”, “nội tự tụng”, nghĩa là tự mình sám hối, liền ăn năn hối lỗi. Sau khi sám hối xong thì phải sửa đổi. Cho nên sửa đổi lỗi lầm thì phải nhìn xem vấn đề của mình trước tiên, tiếp đến là hạ quyết tâm mà sửa. Nhìn thấy được đã không phải dễ, cho nên phải bỏ ra công phu rất lớn thì đức hạnh mới có thể nâng cao. Việc này không thể nói may mắn. Du tiên sinh không biết, cũng không thấy hối hận, không bàn được phương án thay đổi, cho nên cuộc đời bốn mươi bảy tuổi của ông mới rơi vào trong tình trạng như vậy.

Sau đó Táo Thần là người chỉ dạy ông, nói với ông một cách cụ thể: “Ý ác quá nhiều”. Phải buông bỏ ý niệm tham, niệm dâm, niệm đố kỵ, niệm nóng nảy (nghĩa là tính tình rất nóng nảy, thường không bao dung người khác, thường hay nổi cáu với người khác). “Cao kỷ ti nhân”, đây là ngạo mạn, cảm thấy chính mình cao quý, ưu tú, sau đó xem thường người khác, nâng mình hạ người. c vãng kỳ lai”, chính là mong đạt được, dịch ra thành văn bạch thoại gọi là nằm mơ giữa ban ngày. c vãng kỳ lai”, con người rất khó ở trong cuộc sống hiện tại mà dùng chân thành, dùng lòng trung để tận bổn phận nhân duyên của chính mình. Tinh lực của con người đều tiêu hao vào đâu? Áo não chuyện quá khứ, tham cầu chuyện tương lai, không chịu thật thà mà sống trong hiện tại. Cho nên các vị xem, đây là tham - sân - ngạo mạn. c vãng kỳ lai” cũng là tham. “Niệm ân thù báo phục”, đây là đối lập với người mà cũng có cái tâm tương đối hiểm ác, muốn báo thù. Cho nên đức hạnh hạ công phu trước tiên phải buông bỏ sự đối lập đối với tất cả mọi người, buông bỏ thành kiến đối với tất cả mọi người. Con người tâm địa thanh tịnh mới có thể sanh trí huệ, nếu không thì đều là bị những tham - sân - si mạn này khống chế.

Đây là chúng ta từ “thiên tử vô hí ngôn” suy nghĩ đến căn bản của ngôn hành vẫn ở khởi tâm động niệm. Cho nên chữ “phản thân” này phải có thể hồi quang phản chiếu ý niệm, thiện quán cái tâm của mình. Đây là từ căn bản mà nâng cao đức hạnh của chính mình.

Trong “Quần Thư Trị Yếu” thường hay lấy Đường Thái Tông làm thí dụ, vì sao vậy? Bởi vì “Quần Thư Trị Yếu” là do Đường Thái Tông hạ lệnh biên soạn, là ông ngày ngày cầm từng quyển trên tay mà học, vả lại càng quan trọng hơn là ông có thể thành tựu được “Trinh Quán Chi Trị”. Nhất định là học để vận dụng, tri hành hợp nhất, họ mới có thể cảm hóa thần dân. Nếu như học rồi mà không làm vậy thì người ta làm sao mà khâm phục họ được, làm sao để được lòng thiên hạ. Cho nên đích thực Đường Thái Tông là “thiên tử vô hí ngôn”.

Vào năm trinh quán thứ hai, Đường Thái Tông đã nói với các thần tử ở bên cạnh ông: Mỗi ngày thượng triều phải nói một câu, nhất định nghĩ đến câu nói này đối với lão bá tánh có lợi ích hay không, nếu như không có lợi ích ta không dám nói nhiều. “Nói nhiều lời, không bằng ít”, nói nhiều hư việc nhiều, nói nhiều lời mà không cẩn thận sẽ dễ nói sai, thậm chí đắc tội với người ta. Vả lại, ông là vua một nước, “một lời làm hưng thịnh, một lời làm tiêu vong”, ông đương nhiên phải đề phòng lo sợ. Bởi vì tất cả lão bá tánh đều đang quan sát ông, ông không dám ăn nói bừa bãi. Một vị thần tử của ông là Đỗ Chánh Luân quản việc ghi chép đời sống ăn ở của ông. Ngày xưa, quan tả ghi lời nói, quan hữu ghi việc làm của Hoàng đế, ngoài ra đời sống ăn ở cũng có người ghi chép lại. Làm hoàng đế có tốt hay không? Làm hoàng đế rất vất vả. Đỗ Chánh Luận nhìn thấy Hoàng đế Đường Thái Tông nói: Bản thân lời nói việc làm đều không dám nói nhiều, đều nghĩ đến phải tương ưng Kinh điển và cả lợi ích cho con người thì mới được. Vị thần tử này thuận theo tình thế mà làm, lập tức nói: “Hoàng thượng, đúng vậy! Ngài hiện nay nói ra quan tả ghi lời, quan hữu ghi việc, thần thì lại ghi ăn ở của hoàng thượng. Hạ thần cũng không dám không tận tâm tận lực làm việc này. Bệ hạ người nếu như nói một câu nói nào đi ngược lại với đạo đức, không chỉ sẽ tổn hại lão bá tánh mà còn có thể khiến cho bệ hạ phải xấu hổ nghìn năm, vì thế xin bệ hạ người hãy thật cẩn thận”. Con người ngày trước rất có cái tâm biết nhục nhã, thường nghĩ đến “ta không làm tốt con cháu đời sau sẽ cười nhạo ta, người sau sẽ xem thường ta”, đều có chí khí như vậy, không thể để mình bị nhục, thậm chí làm cho cha mẹ tổ tiên của mình phải nhục. Cuối cùng, Đỗ Chánh Luận thuận theo tình thế mà làm, hoàng đế nghe xong rất vui, sau đó đã ban thưởng cho ông 200 khúc vải. Thái Tông đích thực cũng là rất cẩn thận ngôn ngữ của mình.

Câu chuyện đã kể xong. Mọi người cũng không nên vừa nghe vừa chấp trước:“Đường Thái Tông là hoàng đế còn tôi không phải là hoàng đế”.

Kỳ thực, những việc mà hiện tại chúng ta làm, tu dưỡng sự nghiệp của chính mình chưa chắc là nhỏ hơn sự nghiệp của Đường Thái Tông, có phải không? Hiện tại chúng ta là muốn đem phiền não đời đời kiếp kiếp đoạn trừ. Cuộc đời này muốn khế nhập cảnh giới của Thánh Hiền, thì sự nghiệp này không nhỏ hơn sự nghiệp của Đường Thái Tông. Vậy yêu cầu đối với chính mình phải vượt hơn cả Đường Thái Tông, có đạo lý hay không? Các vị giống như không được tán đồng cho lắm nhỉ? Thật sự là phải suy nghĩ cho tỉ mỉ.

Những câu được chọn ra trong “Quần Thư Trị Yếu”, chỉ cần chúng ta bất cứ lúc nào cũng đều trở về công phu ở trên tâm tánh của chính mình, thì câu nào cũng đều có lợi ích đối với chúng ta.

Chúng ta tiếp theo xem tiếp theo. Chúng ta nhìn thấy “cửu thủ”, chúng ta cùng nhau đọc qua một lần.

Kinh văn: Tinh thần của con người là suối nguồn trí huệ. Tinh thần sảng khoái thì trí huệ sáng suốt. Thể nghiệm của trí huệ là kho tàng của tâm. Xử lí công việc bằng trí huệ công chính vô tư nội tâm sẽ được bình ổn an định. Con người không quán chiếu được gương mặt của mình trong dòng nước chảy, chỉ có thể quán chiếu gương mặt mình trên dòng nước tĩnh lặng, vì dòng nước lúc đó vừa trong sạch vừa tịch lặng. Cho nên, chỉ có một tinh thần nhẹ nhàng, tâm tính tĩnh lặng mới có thể nhìn rõ chân tướng sự vật”.

Chúng ta cùng xem phần Kinh văn đã nói đến “thần giả trí chi uyên dã”. Chữ “thần” này là tinh thần, là suối nguồn của trí huệ. Chúng ta xem một con người có tinh thần rất rõ ràng, rất thanh lương, đầu óc của họ mới sáng suốt, mới không làm việc hồ đồ tùy tiện. Lấy chính bản thân chúng ta mà nói, khi tinh thần không tốt thì sẽ mơ hồ lẫn lộn, khi tinh thần của bạn tốt thì làm việc sẽ rất có hiệu quả, phán đoán sự việc cũng rất nhanh. Tiếp theo nói đến “thần thanh tắc trí minh”, khi tinh thần sảng khoái thì trí huệ sáng suốt. “Trí giả tâm chi phù dã”, trí huệ là tâm trí của chúng ta biểu lộ ra, hiển hiện ra. “Trí công tức tâm bình”, trí huệ có thể công chính vô tư, nội tâm mình liền có thể bình hòa, chánh trực.

Chúng ta nói: “Vô dục tắc cang”. Bạn có ham muốn cá nhân, sự ham muốn này sẽ chướng ngại tư tưởng của bạn, chướng ngại nội tâm của bạn. Cho nên “trí công”, trí huệ công chính trong nội tâm mới được bình hòa. Không công chính thì sẽ mất công bằng, yêu ghét sẽ rất mạnh làm sao được bình hòa chứ? Yêu ghét mà mạnh thì sẽ có ưa thích, sẽ có chán ghét, đối với người không công bằng. Đối với người mà không công bằng, “bất bình tắc minh”, có thể sẽ kết oán với người ta, xung đột với người ta, nội tâm con người ta sẽ oán trách bởi vì không công bằng. Cho nên lão tổ tông nói: “Bình mới có thể an”, nhân tâm mới có thể an, nếu không thì nhân tâm sẽ bất bình. Cho nên trí huệ công chính vô tư này rất quan trọng. Con người trong việc xử sự luôn luôn nhắc nhở chính mình không thể có lòng riêng tư. Có tư lợi thì đức hạnh sẽ đi xuống. Tư lợi đối với đoàn thể nhất định có chỗ hại, sẽ không công bằng, nhất định sẽ có thị phi, sẽ có oán trách.

QUẦN THƯ TRỊ YẾU 360 - Tập 30

“Nhân mặc giám ư lưu thủy, nhi giám ư trừng thủy giả, dĩ k thanh thả tĩnh dã, cố thần thanh ý bình, nãi năng hình vật chi tình dã”, ở đây là một thí dụ. Chữ “giám” này chính là dùng nước để quán chiếu, để soi chiếu chính mình. Con người soi chiếu chính mình trên mặt nước phẳng lặng, bởi vì khi nước động mà bạn soi rọi gương mặt của mình thì sẽ không thấy rõ được. “Nhi giám ư trừng thủy”, có thể ở trên bề mặt vô cùng tĩnh lặng của nước mà soi thấy gương mặt của mình rõ ràng. Việc này là thí dụ về cái gì? Khi tâm con người bồn chồn, khi dục vọng quá nhiều, bồng bột sốc nổi thì không nhìn thấy rõ được vấn đề của mình, mãi mãi chỉ có tâm bình trở lại thì mới dễ dàng phát giác được chính mình trong ý niệm và ngôn hành có lỗi lầm. Đương nhiên luôn luôn đều giữ gìn tâm bình, tâm tịnh, đây là tu dưỡng, đây là một mục tiêu. Cho nên, phải luôn luôn nhắc nhở chính mình tâm phải tĩnh lặng.

Cũng như chúng ta mỗi buổi tối hàng ngày tự mình lắng đọng tâm tư, suy nghĩ lại xem mình hôm nay có những lời nào đã nói sai hay không, có những việc nào đã làm không được thỏa đáng? Đêm khuya thanh vắng, tự mình lắng đọng trở lại: “Hôm nay sao mình không phát hiện, giờ mới phát hiện ra. “Giám ư trừng thủy”, mặt nước tĩnh lặng mới có thể soi rọi rõ ràng chính mình. Cũng như vậy, tâm của mình bình lặng lại rồi thì có thể quán chiếu đến vấn đề của chính mình. Cho nên ở đây nói đến vì sao mà có thể “giám ư trừng thủy, dĩ k thanh thả tĩnh dã”, bởi vì mặt nước tịch lặng thì vừa trong sạch vừa tĩnh lặng. “Cố” nghĩa là từ chỗ này khiến chúng ta thể hội được, một con người tinh thần sảng khoái, ý chí rất bình hòa, tâm tình rất bình hòa, thì tâm của họ liền có thể soi chiếu được rõ ràng tất cả người sự vật, tất cả sự việc phát sinh. “Nãi năng hình vật chi tình; chữ “tình” này là chỉ chân tướng sự vật, nhìn thấy được rõ ràng. Cho nên có một câu cách ngôn nói: “Lấy gương tự soi thấy được dung mạo, lấy tâm tự soi thấy được lành dữ”. Lấy gương soi thì thấy được diện mạo, hình thể của chính mình, còn nếu lấy tâm thanh tịnh của chính mình để quán chiếu chính mình thì “thấy lành dữ”. Có thể mọi người đối với tâm bình tịnh, tâm thanh tịnh tương đối trừu tượng. Kỳ thực con người muốn tâm thanh tịnh thật không dễ dàng.

Ví dụ một chuyện ngụ ngôn. Có một tên trộm, vào một hôm giữa ban ngày đi đến một nhà giàu có để trộm vàng. Anh này cũng là người có “thiên tài”, cuối cùng cũng có thể tìm được nơi mà người ta cất vàng. Cầm vàng lên anh ta rất vui mừng, khi chuẩn bị rời đi, bởi vì là giữa ban ngày, lại là một nhà phú hộ giàu có, có đến mấy trăm người ở, làm gì có chuyện anh ta trộm vàng mà không bị phát hiện. Bị bắt quả tang tại trận và bị đưa đến nha huyện. Kết quả, huyện thái gia sau khi hiểu được tình tiết vụ án thì thấy lạ, tên đạo tặc này làm sao dám gây án ngay giữa ban ngày, nên mới hỏi hắn ta: “Anh trộm đồ ngay giữa ban ngày thì sao có thể không bị phát hiện chứ. Anh không thấy chung quanh cũng có rất nhiều người hay sao?. Tên trộm này liền nói với quan huyện: “Có người sao, có người à, tôi chỉ có nhìn thấy vàng thôi, có người thật sao?. Câu chuyện này kỳ thực nếu chúng ta tỉ mỉ mà suy nghĩ, tâm con người chỉ cần có một điểm chấp trước thì họ sẽ dán mắt vào đó mà nhìn, liền bị nó nhiễm trước, tâm không thể bình được.

Ví dụ cha mẹ rất quan tâm thành tích của con cái, thì chỉ nhìn vào thành tích đó, những thứ khác đều không nhìn thấy gì nữa: “Dù sao thì con cũng phải học hành thật tốt vào cho ta được rồi”. Sau đó thường hay ở đó mà nói: “Đứa con này của tôi thật sự là thua kém người khác”. Người ở bên cạnh nói với bạn: “Ồ, con của bạn thật là nhân từ, thật là có hiếu mà”. Họ liền nói: “Có sao, nó đều không được gì cả”, họ không nhìn thấy. Như vậy, khi chúng ta chỉ nhìn thấy thành tích thì sẽ không cảm nhận được điều tốt đẹp nào khác của trẻ, dần dần chúng cũng sẽ không có lòng tin, dần dần chúng sẽ cảm thấy bản thân mình không được gì cả.

Các vị xem, tâm con người một khi chấp trước, khi bất bình, hễ bới lông tìm vết thì nhìn người khác không được rõ ràng, cũng nhìn chính mình không được rõ ràng.

Có một người vợ nọ rất là thú vị. Bởi vì cô có lần đến Lô Giang nghe giảng, lần đó tôi có nêu ra một vấn đề: “Một câu chân ngôn để vợ chồng sống với nhau đến bạc đầu đó là chỉ nhìn vào ưu điểm của đối phương, không nhìn vào khuyến điểm của đối phương”. Cô nói sau khi cô nghe được câu nói này, trong đầu cô liền nổi lên một câu nói là “không có ưu điểm gì”. Sau khi đầu cô hiện lên câu nói đó thì tôi lại nói tiếp một ví dụ. Đó là lần tôi đi đến Chu Hải, tôi cũng giảng câu chân ngôn đó, đột nhiên có một người vợ đưa tay lên, sau đó đứng dậy nói: “Anh ấy không có ưu điểm gì cả”. Câu nói này giống như cô ấy đang suy nghĩ. Sau đó thì tôi kiến nghị: Sau khi chị trở về, hãy lấy một tờ giấy viết ra những ưu điểm của chồng mình, viết ra khuyết điểm của chồng mình, chị hãy khách quan bình tĩnh mà xem như thế nào. Kết quả cô trở về, cô nói cô đã viết ra một khuyết điểm của chồng mình, đó là điều gì vậy? Kiếm tiền quá ít. Việc này có thể xem là khuyết điểm hay sao?

Các vị xem, khi cô có một điểm chấp trước, một sự bất bình, anh chồng kiếm tiền sao mà quá ít, thì chỉ biết nhìn vào tiền bạc mà thôi, những thứ khác đều không nhìn thấy. Các vị nói xem, đầu óc con người có sáng suốt hay không? Tâm có ái lạc thì sẽ không thể chánh, tâm có phẫn uất thì sẽ không thể chánh. Bạn đang có tâm trạng thì sao có thể chánh được chứ? Tâm có ưu lo thì sao có thể chánh?. Vì sao lại ưu lo? Ây da, chồng tôi kiếm tiền ít như vậy, con tôi học hành không được đứng đầu lớp, tôi thật là xấu hổ quá đi!. Cô có sự lo âu rồi thì tâm sẽ không chánh, tâm liền bất bình. Rất nhiều việc đều là dùng tâm tình để ứng đối, càng làm càng sai. Cho nên chúng ta muốn tinh thần sáng suốt, tâm trạng bình ổn, trước tiên phải sửa chữa tham - sân - si - mạn. Những tập khí này phải trừ bỏ. Nếu không, cái tâm này cũng giống như nước chảy vậy, mỗi ngày đều bị sóng to gió lớn, đều không thể tịnh trở lại, sau đó chúng ta còn trách móc đủ điều: Đều là do họ gây ra, đều là do việc gì đó tạo thành.

Các vị học trưởng, không phải là gió động, cũng không phải phướng động, mà là tâm của chúng ta động. Vọng tâm động, tập khí động mới biến thành ra như vậy. Cho nên, chúng ta “phản thân”.

Vừa mở đầu điều căn bản trong việc xây dựng phẩm đức của quân vương: “Điều căn bản trong việc xây dựng phẩm đức của quân vương không có gì quan trọng hơn việc chánh tâm. Tâm chánh thì thân chánh, thân chánh thì cận thần tả hữu chánh. Cận thần chánh thì triều đình chánh. Triều đình chánh thì quốc gia chánh. Quốc gia chánh thì thiên hạ chánh”.

Tôi thật là cảm động, các vị cứ nhìn tôi mà không nhìn vào sách. Cho nên con người muốn nhìn thấy rõ những sự việc phát sinh trong cuộc đời, trước tiên là phải thấy rõ chính mình, trước tiên cái tâm này phải thanh tịnh - bình đẳng thì mới được. Đương nhiên chúng ta trong quá trình tu dưỡng đức hạnh của chính mình cũng phải tánh và mạng cùng tu, thân thể của chính mình cũng phải chăm sóc cho tốt. Các vị xem, vừa mới bắt đầu đã nói “thần giả trí chi uyên dã”, tinh thần của bạn phải tốt. Bạn không thể mỗi ngày tinh thần đều ủ rũ, thân thể lại mắc đủ thứ bệnh, việc này sẽ liên lụy đến toàn bộ trạng thái tâm linh, sẽ không tốt. Chúng ta vẫn là phải dựa nhờ vào một thân thể khỏe mạnh để nâng cao linh tánh của chính mình, mượn giả tu chân.

Cho nên, trong “Đình Huấn Cách Ngôn” của Khang Hy có một đoạn rất hay: “Ít suy nghĩ có thể dưỡng thần, ít ham muốn có thể dưỡng tinh, ít nói chuyện có thể dưỡng khí. Con người mà tinh khí thần đều đủ thì thân thể sẽ khỏe mạnh, tinh thần luôn phấn chấn, nên gọi là “tinh đầy đủ không nghĩ đến dục, khí đầy đủ không nghĩ đến ăn. Một con người mà khí rất đầy đủ thì họ không cần ăn cơm, một ngày ăn một bữa là đủ. “Thần đầy đủ, tinh thần vô cùng tốt, thì không nghĩ đến ngủ. Con người nghỉ ngơi là không có tinh thần, cần phải nạp thêm năng lượng. Tinh thần tốt thì mỗi ngày đều ngủ rất ít. Việc này nhắc nhở chúng ta không nên suy nghĩ lung tung, việc đó sẽ làm hao năng lượng. 95% năng lượng của cơ thể đều là tiêu hao vào trong ý niệm, bạn nếu không nghĩ ngợi lung tung thì tâm sẽ thanh tịnh, đây là thần đầy đủ. Cho nên “ít suy nghĩ” rất quan trọng, không nên nghĩ quàng nghĩ xiên, có thời gian thì hãy đọc Kinh, nghe Kinh cho nhiều. Chánh niệm sẽ phân minh không đến nỗi suy nghĩ này nọ.

“Thèm khát”, chính là ham muốn dục vọng phải nhạt. Dục vọng quá nặng thì sẽ tiêu hao đối với sức khỏe vô cùng lớn. Buông thả dục vọng thì sức khỏe sẽ suy sụp. Chúng ta thấy con người hiện nay bệnh văn minh càng ngày càng nhiều. Nào là thận có vấn đề, nào là tiểu đường, việc đó cùng với sự buông thả có mối liên hệ không biết tiết chế. Tiết chế dục vọng thì sức khỏe sẽ tốt.

Tiếp đến là phải “dưỡng khí”, mỗi ngày không nên nói chuyện quá nhiều. Việc này thì tôi làm tệ nhất. Nói nhiều quá thì không nên, điều gì nên nói thì nói. Thời cơ chưa đủ không nên lắm lời vì sẽ khiến cho người ta cảm thấy chán. Vả lại, lời nói vô ích thì một câu cũng không nên nói, vì sao vậy? Vì vô ích với người mà còn hao tổn khí với mình. Cho nên “ít dục tinh thần sảng khoái, nghĩ nhiều khí huyết suy giảm, mở miệng thần khí tiêu tán”. Đây là giáo huấn rất hay mà người xưa đã để lại cho chúng ta.

Kỳ thực, con người mà dục vọng nhiều, mỗi ngày đều suy nghĩ tôi muốn ăn cái này, tôi muốn mặc cái kia, tôi muốn chơi cái nọ, toàn bộ sự suy nghĩ của bạn đã bị những thứ này chướng ngại mất, vậy làm sao có trí huệ, làm sao còn có tinh thần nữa?

Câu tiếp theo chúng ta, chúng ta cùng nhau đọc một lần.

Kinh văn: “Một quân vương anh minh thường cảm thấy lo âu về ba việc. Thứ nhất là thân ở địa vị cao quý sợ không nghe được lời người khác phê bình mình. Thứ hai là mọi việc suôn sẻ như ý sợ sanh tâm kiêu ngạo. Thứ ba nghe thấy những lời chí lí trong thiên hạ sợ không thể thực hành theo”.

Đoạn này cũng là hiển bày ra tâm cảnh của một minh vương, một thánh vương. Họ ở vị trí là vua của một nước, họ có ba sự việc cảm thấy rất lo lắng, lo sợ. Trong chữ “khủng” này cũng đã bao gồm sự nơm nớp lo sợ, đối diện với ba tình huống này rất cẩn thận.

Thứ nhất là trong một quốc gia, ở tại vị trí tôn quý nhất, lo lắng nhất là không thể biết được lỗi lầm của chính mình. Chúng ta xem, họ thân là vua của một nước thì tâm của họ phải yêu thương nhân dân. Chúng ta gọi thiên tử thiên tử, nghĩa là thay ông trời yêu thương con dân. Nếu không thì họ đã làm xấu đi danh xưng thiên tử rồi. Ông trời có đức hiếu sinh, đương nhiên bổn phận của hoàng đế chính là yêu thương lão bá tánh. Nhưng nếu như không thể nghe thấy lỗi lầm của chính mình, thì những gì làm ra đều là tổn hại lão bá tánh. Đây không phải là việc mà họ muốn nhìn thấy. Con người luôn biết lo sợ về điều đó thì đều là vì họ không quên đi cái tâm lúc ban đầu, họ sắm vai diễn nào đều rất rõ ràng mọi góc độ, họ trước sau đều không quên mục tiêu là vua của mình, luôn biết tâm lúc đầu ở đâu. Vả lại, địa vị của họ cao như vậy, rất có uy nghiêm, thần dân nói chuyện với họ áp lực rất lớn. Nếu như họ là người thích nghe những lời êm tai dễ nghe, thì người ta càng không dám nói. Trung thần không dám nói, nhưng gian thần thì lại ra sức nói, liền a dua nịnh hót. Muốn chăm lo tốt cho lão bá tánh thì phải hiểu được rất nhiều tình huống thực tế, họ mới có thể điều chỉnh một cách thích hợp nhiều chính sách để lợi ích nhân dân. Giả như tình hình thực tế đều không hiểu được, thì quyết sách của họ nhất định sẽ rất khó đem lại lợi ích cho nhân dân. Vì vậy, muốn dò xét mọi mặt thì phải nghe được tình huống chân thật, phải nghe được lời chân thật mới được. Kỳ thực, muốn làm một việc tốt cũng không dễ dàng.

Ví dụ chúng tôi ở trường dạy học, lên lớp, đứng trên giảng đài giảng xong rồi tan học là hết chuyện rồi, hết việc của tôi rồi thì có được hay không? Không được. “Thầy là người truyền đạo thụ nghiệp và giải hoặc”. “Truyền đạo” à? Có chứ, tôi đã giảng ngũ luân, bát đức, giảng rồi người ta có nghe mà không có hiểu. Bạn phải nắm bắt tình hình thực tế, nếu không thì chúng ta vẫn chưa tận hết bổn phận của mình. Tiếp đến là “giải hoặc”, nội tâm của học trò có điều gì nghi hoặc đối với cuộc sống, chúng ta cũng phải nhìn thấy được những điều chúng cần thiết và mau mau giúp chúng giải những nghi hoặc này. Không hiểu được tình huống thực tế thì làm sao mà diễn tốt được vai diễn người thầy chứ?

Cho nên, làm thầy cô dần dần còn phải nâng cao công phu, đó là nhìn vào mắt chúng liền biết được chúng có còn nghi vấn gì hay không? Thật vậy, ở trên đó giảng một buổi, giảng rồi lại giảng, nhìn thấy vẻ mặt của chúng khác thường, như là tần số không trùng khớp, thì vừa tan học liền nói: Nào nào, cùng đi dạo một chút nào”. Sau đó bắt đầu câu chuyện: “Gần đây trong lòng có việc, cho nên có nghe mà không có hiểu”, hoặc giả là khi nghe thì lại vừa nghe vừa nghĩ mà không thông suốt. Biểu hiện đó đều không như nhau. Chúng ta phải biết quan sát, phán đoán. Phải cùng nhau đi tản bộ, cùng nhau ăn cơm. Cho nên hôm khác tôi sẽ cùng các vị ăn cơm, các vị không nên sợ, chúng ta có thể giao lưu một chút. Tôi thực ra cũng nhân từ lắm, các vị không cần phải lo lắng.

Câu này vừa mở đầu nói: “Nhất viết xứ tôn vị nhi khủng bất văn k quá”, không bị địa vị tôn quý này làm ô nhiễm, nghĩa là không vì địa vị cao mà cao ngạo, mà xa xỉ, mà đọa lạc. Vì lo sợ mà giữ gìn tốt chức trách bổn phận của mình, việc này rất đáng quý.

Tiếp đến việc lo sợ thứ hai là: “Nhị viết đắc ý nhi khủng kiêu”, thỏa lòng đắc ý rồi thì dần dần không chế phục được sự ngạo mạn của chính mình, bắt đầu vô cùng kiêu ngạo, ngông cuồng. Trong “Lễ Ký”, phần mở đầu là “Khúc Lễ”. Đạo đức tu dưỡng của chúng ta đều phải nằm trong những lễ tiết này của cuộc sống, nằm trong những lễ giáo này, vì sao vậy? Tu dưỡng thân tâm của chính mình, tu dưỡng đức hạnh của chính mình. Khi nào thì tu dưỡng vậy? Mọi lúc mọi nơi tất cả tu hành, không có việc nào là việc nhỏ, tâm thái mà không đúng thì đọa lạc rồi. Cho nên, những quy định này trong cuộc sống đều là nhắc nhở chúng ta phải tùy thuận tánh đức, tùy lúc mà nâng cao chính mình.

“Khúc Lễ” vừa mở đầu đã nói: “Ngạo bất khả trưởng, dục bất khả túng, lạc bất khả cực, chí bất khả mãn”. Cho nên không thể ngạo mạn, không thể thỏa lòng đắc chí, không thể buông thả dục vọng, là những nhắc nhở này. Mà vì sao những lãnh đạo, thánh minh họ lại lo sợ sẽ ngạo mạn? Bởi vì những tập khí ngạo mạn này mà muốn chế phục lại thì thật là không dễ chút nào.

Các vị xem, con người ta khi tuổi tác đã lớn vừa mở miệng đều là thành tích sự nghiệp của mình vĩ đại. Bạn nói: “Tôi cũng không phải đơn giản, tôi cũng thật là hiếm có”, cái này cũng là mạn. Nhưng muốn điều phục thì không dễ, bởi vì loại tập khí này đã tiêm nhiễm vào chúng ta từ lúc nào chúng ta cũng không biết. Các vị học trưởng, từ lúc nào chúng ta bắt đầu ngạo mạn các vị có biết hay không? Dương lịch năm nào, tháng nào, ngày nào,… không biết đã có rồi. Xin hỏi mọi người, chúng ta tham ăn bắt đầu từ năm nào đều không biết phải không? Những tập khí này thật sự đã nổi lên rồi. Con người nếu không có cảnh giác cao độ mà muốn không bị nhiễm trước thì thật không dễ gì.

Nước Tần có một vị quan, gọi là Ngụy Nhiễm. Ông cùng với một người tên Ngụy Mậu là bạn tốt. Ngụy Nhiễm là người nước Tần. Sau khi họ gặp nhau, duyên tụ duyên tán, Ngụy Mậu phải từ biệt Ngụy Nhiễm. Trong lúc từ biệt, Ngụy Nhiễm mới hỏi Ngụy Mậu: “Tiên sinh sắp phải đi rồi, vậy có còn lời giáo huấn tốt đẹp nào muốn nhắc nhở tôi không?. Ngụy Mậu liền lập tức nói: “May mà anh nhắc tôi, tôi có một vài câu muốn nói với anh, xin cùng nhau cố gắng”. Ông nói đến việc làm quan, bởi vì Ngụy Nhiễm là người làm quan nước Tần. “Quan bất dữ thế kỳ”, có nghĩa là quan vị không có hẹn ước với quyền vị, quan không hẹn với thế mà thế tự đến. Quyền thế của một con người không hẹn với giàu có mà giàu có tự đến. Quyền thế không có hẹn ước gì với giàu có, bạn có quyền thế rồi thì giàu có cũng tự đến. Giàu sang không hẹn với cao quý mà cao quý là tự đến, bạn có tiền rồi thì từ từ thân phận sẽ cao quý. Mọi người xem hiện tại doanh nghiệp có tiền rồi, họ quyên tiền làm việc tốt thì sự cao quý này liền đến. Cao quý không hẹn với ngạo mạn mà ngạo mạn tự đến. Một người hễ phú quý thì bắt đầu không coi ai ra gì, kiêu căng ngạo mạn. Ngạo mạn không hẹn với tội mà tội tự đến. Họ mà kiêu ngạo thì hành vi liền phóng túng, làm ra một số việc phá hoại kỷ cương pháp luật. Mọi người cứ để ý, hiện tại có một số doanh nhân và cả người trong chính phủ có phú quý hay không? Có. Đến sau cùng tham ô hối lộ, rất nhiều tham quan ở dưới gầm giường của họ đều đầy cả tiền. Việc này tôi cảm thấy họ thật sự là tự tìm tội để chịu. Một món tiền lớn để ở dưới gầm giường của bạn, mỗi ngày bạn đều ngủ được ngon giấc thì tôi sẽ không tin đâu, có phải không? Ngày ngày đều là lo sợ sự việc bị bại lộ, đó gọi là tiểu nhân oan uổng làm tiểu nhân. Không rõ đạo lý. Vốn dĩ là phúc khí của chính mình, sau cùng lại tạo nghiệp, thậm chí là nửa đời còn lại phải ăn ở trong nhà tù rồi, có người còn bị bắn chết. Giả như nếu có thể chân thật tận hết bổn phận, tuân giữ pháp luật, thì phú quý đó vẫn sẽ là của bạn. Cho nên sau khi quý là ngạo mạn, sau khi ngạo mạn thì những tội này liền chiêu cảm tới. “Tội không hẹn với cái chết mà cái chết tự tới.

Mọi người hãy nhìn xem sự phát triển của những sự vật này, có những lúc không chú ý, một lần xảy chân ân hận nghìn đời, cả tập khí đều là tiêm nhiễm vào một cách không hay không biết. Sự ngạo mạn này của con người nếu muốn không khởi thì chỉ có chính mình phải có năng lực giác chiếu rất cao, luôn luôn nhắc nhở chính mình không dám buông lung.

Chúng ta suy nghĩ xem, con người vào khi nào thì dễ dàng ngạo mạn? Nếu đẹp thì sẽ ngạo mạn, cao hơn người ta thì sẽ ngạo mạn, có phải không? Có mắt hai mí cũng ngạo mạn, học lực giỏi hơn người ta thì ngạo mạn, lái chiếc xe lớn hơn người khác liền ngạo mạn. Sự ngạo mạn này hễ bạn không chú ý thì nó liền khởi lên. Có thể tự ti mà tôn trọng người, luôn luôn xem thấy chính mình chưa đủ, đều thấy người khác tốt thì mới không ngạo mạn. Cho nên tự ti mà tôn người là thực tiễn sự cung kính. Ngoài sức giác chiếu của bản thân ra còn có sự hộ niệm của người thân, trưởng bối cũng rất quan trọng.

Bạn xem, chúng ta nói: “Thê hiền phu họa thiểu”, nghĩa là người vợ hiền đức thì có thể ngay khi người chồng có những thái độ ý nghĩ không tốt khởi lên, người vợ sẽ nhắc nhở một cách khéo léo, họ sẽ không phạm lỗi vào lúc đó nữa. Cho đến, nếu như cha mẹ của họ là người hiểu rõ, vô cùng có trí huệ, thì vào lúc thích hợp cũng sẽ nhắc nhở để con của họ không ngạo mạn.

Vào thời nhà Tống, hoàng đế khai quốc là Triệu Khuông Dận. Trước triều Tống là triều Đường kết thúc. Lúc đó có một khoảng thời gian dài động loạn, gọi là Lương Đường Tấn Hán Châu. Những động loạn này là bởi vì quân chủ của mỗi một thời đại một khi được lên làm vua thì liền vô cùng kiêu căng tự mãn, cho nên chưa bao lâu, hai - ba mươi năm thì đất nước này liền tiêu vong, liên tục năm đời đều căn bản chỉ là một vở náo kịch mà thôi, cứ như vậy rồi mất nước. Kết quả Lương Đường Tấn Hán Châu (sau nhà Châu tiếp đến là nhà Tống), Triệu Khuông Dận lên làm hoàng đế. Ngày ông đăng cơ, văn võ bá quan đều đến chúc tụng, rất vui mừng. Mẫu thân của hoàng đế là Đỗ Thị tham gia buổi lễ đăng cơ này từ đầu đến cuối không có một nụ cười, sắc mặt rất nghiêm. Có một vị quan nhìn thấy là lạ, sau đó liền đi đến hỏi thái hậu: “Bẩm Thái hậu! Mẹ quý nhờ con, con của người hôm nay được lên làm thiên tử, làm hoàng đế rồi, người phải nên vui mừng chứ, sao hôm nay người lại không có một nét tươi cười nào”. Tôi tin là ông Triệu Khuông Dận cũng nhìn thấy mẹ của ta hôm nay làm sao lại nghiêm đến thế. Đỗ thái hậu liền nói: “Không có gì để vui mừng cả. Hôm nay con của ta được làm thiên tử, nếu con có thể y theo cổ Thánh tiên Vương để mà trị vì đất nước thì sẽ không bị lật đổ. Nếu như không y theo những tấm gương này, những giáo huấn này, đến lúc đó ta nghĩ là ngay cả cơ hội làm một bá tánh thường dân cũng không có, đến lúc đó có thể sẽ bị người ta lật đổ, bị người ta sát hại.

Các vị nghĩ xem, Triệu Khuông Dận ngày hôm đó được lên làm hoàng đế vốn dĩ là rất vui mừng, sau khi nghe người mẹ của mình nói như vậy xong tôi tin rằng sẽ gây chấn động nội tâm của ông rất lớn. “Con phải làm vua cho tốt, nếu không con cháu của con sẽ bị người ta thảm sát. Xin hỏi mọi người, ông Triệu Khuông Dận sẽ ghi nhớ việc này bao lâu? Nhớ cả đời. Vả lại, câu chuyện này còn lưu truyền qua từng thế hệ ở trong Triệu gia: Bà Thái hậu này làm tấm gương của một người mẹ quá hay.

Kỳ thực, mỗi một người khi họ đối diện với một nhân duyên của cuộc đời, nếu như lúc mới bắt đầu mà bên cạnh họ có người lớn hay có bạn tốt nhắc nhở điều quan trọng nhất đối với họ, việc này có tính then chốt đối với cuộc đời của họ. Ví dụ như con cháu chúng ta, chúng muốn đi học đại học, vào lúc này chúng ta là người lớn của chúng có thể vô cùng khẩn thiết mà nói với chúng: Xã hội, gia đình này nuôi dưỡng con cho đến khi học đại học thật sự là không dễ dàng. Cha mẹ, xã hội và cả đất nước này đã tiêu tốn không ít tâm huyết, con phải chăm chỉ học hành cho tốt để thành tựu trí huệ và đức hạnh của mình. Học tốt, bản lĩnh tốt mới có thể bước ra làm lợi ích xã hội, báo đáp ân đức cha mẹ và chính phủ. Đây là cẩn thận khi bắt đầu.

Bao gồm cả những vợ chồng mới cưới, ngày kết hôn thực hiện nghi lễ kết hôn truyền thống, họ liền biết kể từ ngày hôm đó bắt đầu việc kế thừa cái cũ, sáng tạo cái mới. Việc kế thừa đức hạnh của cả gia tộc gánh lên trên vai, họ phải coi quản chăm lo tốt cho gia đình này. Bởi vì ngày kết hôn hôm đó, tất cả những lễ nghi đều có thể giáo hóa tâm linh của họ. Như việc phu thê uống rượu giao bôi, khi đó nhắc nhở chúng ta vợ chồng từ đây đồng cam cộng khổ, không phân đây kia. Các vị xem, ông bà xưa rất hiểu chuyện, phải cẩn thận khi bắt đầu. Họ kết hôn, họ làm hoàng đế, họ trưởng thành, đều phải nắm lấy thời cơ bắt đầu, đem cái tâm thái quan trọng nhất trồng vào trong nội tâm của chúng. Học một phải biết mười.

Hôm nay con cái bạn muốn đến trường tiểu học dạy học, bạn làm cha làm mẹ có cần nắm lấy ngày đầu tiên làm thầy cô của chúng hay không? Nói cho chúng nghe vài câu, khuyến khích chúng phải tận hết bổn phận người thầy. Các vị học trưởng, chúng ta lúc đó học qua “Học Ký” và “Sư Thuyết” liền vận dụng ngay vào việc lớn, có hay không? Vào lúc này bạn có thể nói với con của bạn: “Sư giả, sở dĩ truyền đạo, thụ nghiệp, giải hoặc dã”, lại thuận tiện nói với chúng “kiến quốc quân dân, giáo học vi tiên”. Vấn đề của gia đình và xã hội hiện nay đều phải thông qua giáo dục, nhân tâm chuyển biến rồi mới có thể giải quyết, mới có thể cải thiện. Cho nên, nghề nghiệp của con hiện nay là nghề quan trọng nhất trong các nghề nghiệp, con phải toàn tâm toàn lực để không phụ lòng chính phủ, không phụ lòng tổ tiên, quang tông diệu tổ, làm một người thầy tốt.

Người xưa của chúng ta đều có thể nắm lấy những cơ hội giáo dục quan trọng nhất này. Chúng ta từ việc vừa mới nói đến Đỗ thái hậu giáo dục đối với người con của mình, nhìn thấy được một người mẹ dụng tâm ý tốt. Rất nhiều người trong cuộc đời cũng đều gặp được một số quý nhân, mà những quý nhân này rất chánh trực, đều sẽ nhắc nhở họ những vấn đề then chốt quan trọng nhất.

Vào thời xuân thu, Tôn Thúc Ngạo làm đến chức Tể tướng của nước Sở. Rất nhiều đại thần đều chúc mừng ông, nói lời chúc tụng ông. Có một ông lão mặc chiếc áo làm từ vải thô, đội một chiếc nón màu trắng, sau đó thì đến nhà của Tôn Thúc Ngạo. Vào thời đó, khi có việc tang chế mới mặc như vậy. Người ta mừng được làm Tể tướng, vậy mà ông lão này lại mặc đồ tang đến. Các vị học trưởng, nếu như các vị hôm nay lên nhậm chức Tể tướng, sau đó lại có một ông lão mặc đồ tang đến thì bạn sẽ như thế nào? Tôn Thúc Ngạo trở thành một danh tướng không phải là không có đạo lý, ông chân thật là rất khiêm bi, vả lại còn được quý nhân nhắc nhở. Ông vừa nhìn thấy ông lão này thì liền hoang mang lo sợ, không có nổi giận. Ông nói với ông lão này: “Trưởng giả, quân vương không biết ta năng lực kém, vẫn còn dùng ta, người hôm nay đến đây nhất định là có lời gì đó muốn nói với ta, xin người hãy chỉ giáo”. Trưởng giả tiếp đến liền nói: “Ngài hôm nay thân phận cao quý rồi, nếu kiêu ngạo với người ta thì lão bá tánh sẽ ruồng bỏ Ngài. Quan vị của ngài rất cao rồi, nhưng nếu lạm dụng chức quyền thì hoàng thượng sẽ ruồng bỏ Ngài. Ngài hôm nay lương bổng nhiều rồi mà không biết đủ, còn muốn tham ô, thì họa hoạn sẽ đến. Nói ra ba điều này để nhắc nhở ông.

“Người được thân phận cao quý mà ngạo mạn thì nhân dân sẽ ruồng bỏ”. Các vị xem, người làm lãnh đạo “đắc ý mà sợ kiêu ngạo”, đắc ý thì dễ dàng khởi kiêu ngạo. Cho nên trưởng giả chỉ điểm trước tiên chính là không thể ngạo mạn, không thể lộng quyền, tiếp đến là không thể tham lam. Tôn Thúc Ngạo nghe đến chỗ này không những không nổi giận, lập tức nói ông lão: “Kính thọ mệnh”, nghĩa là xin được cung cung kính kính tiếp nhận giáo huấn của người; nguyện văn dư giáo”, xin người hãy đem đạo lý mà nói cho ta nghe. Có thể vị trưởng giả này trong tâm sẽ hiện lên một câu nói: “Còn trẻ thì có thể dạy”. Ông lão này có trí huệ, thăm dò qua thái độ của Tế tướng. Cứ nói trước một đoạn, một câu xem thử, nếu thấy ông không thể tiếp nhận thì thôi vậy, không nên kết oán với ông. Nếu thấy thái độ tốt thì tiếp tục nói. “Vị dĩ cao nhi ý ích hạ”, vị trí rất cao nhưng thái độ vô cùng khiêm hạ, khiêm bi. Đây là “ý ích hạ”. Tiếp đến, lộc vị nhiều rồi ngược lại cẩn thận, không dám tham lam. Quan vị lớn rồi tâm càng cẩn trọng, sợ làm sai việc. “Quan ích đại nhi tâm ích tiểu, lộc dĩ hậu nhi thận bất cảm cử”, Ngài có thể giữ gìn được ba cái tinh thần này thì có thể khiến nước Sở được đại trị. Quả nhiên Tôn Thúc Ngạo tiếp nhận giáo huấn của vị lão nhân đó, phụng hành. Rất nhanh sau đó nền chính trị của nước Sở đã làm được rất tốt. Bởi vì Tôn Thúc Ngạo là Tể tướng của một nước, những vị trưởng giả này họ đều yêu quý đất nước của mình, nắm lấy cơ hội này để nhắc nhở Tể tướng. Tinh thần của vị lão nhân này đáng để chúng ta khâm phục.

Có những lúc, chúng ta cũng sợ đắc tội với người ta, lời nên nói cũng không dám nói. Thời cơ này mà luống qua đi có thể hủy hoại người đó, thậm chí là họ được thăng lên chức vị quan trọng hơn, thì người bị hủy hoại sẽ càng nhiều. Cho nên “Đệ Tử Quy” đã nhắc chúng ta: “Cùng khuyên thiện, cùng lập đức. Lỗi không ngăn, đôi bên sai”. Nhắc nhở lúc thích hợp, khuyên bảo những người có duyên ở bên cạnh cũng là bổn phận mà chúng ta nên tận tâm.

Được rồi, tiết học này tạm thời giao lưu với mọi người đến đây! Xin cảm ơn mọi người!

Chia sẻ học tập “Quần Thư Trị Yếu 360” (tập 29 và 30)

Giảng ngày 28 tháng 05 năm 2011 tại Trung tâm Giáo dục Văn hóa Trung Hoa Malaysia.

Người giảng: Thầy giáo Thái Lễ Húc

Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ, Mộ Tịnh Cư Sĩ, Phước Tịnh Cư Sĩ 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 26


Hôm nayHôm nay : 9819

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 209381

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 10867424

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?