Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Quần thư trị yếu 360

Quần Thư Trị Yếu 360 - Thầy Thái Lễ Húc giảng (Tập 27 - 28)

Thứ ba - 12/09/2017 22:44

TU THÂN - TỀ GIA - TRỊ QUỐC - BÌNH THIÊN HẠ

Kính chào các vị trưởng bối, các vị học trưởng, xin chào mọi người!

Kinh văn: “Người ta tôn sùng người tốt, việc tốt vì đó hợp với lễ nghĩa; xem thường người xấu, việc xấu vì đó là tội lỗi. Thời đại ngày nay dùng những thứ mà người ta tôn sùng để dạy dỗ người dân, dùng những thứ mà người ta xem thường để dạy dỗ hoàng thân quốc thích, chẳng phải là trái nghịch với đạo lý sao?”.

Sở quý ư thiện giả, nghĩa là những sự vật thiện đã nhận được sự kính trọng. “Dĩ kỳ hữu lễ nghĩa dã”, nghĩa là chúng phù hợp với tinh thần của lễ nghĩa. Vì vậy, người dân đặc biệt tuân theo, thừa nhận những sự việc này. “Sở tiện ư ác giả, dĩ k hữu tội quá dã”. Những sự việc ác cho nên bị người khinh rẻ, bởi vì những sự việc này bao gồm tội ác, tội lỗi ở trong đó, cho nên mới bị khinh rẻ. Hiện nay, những việc này được nhà vua, các vị lãnh đạo dùng những đạo lý lương thiện phù hợp với lễ nghĩa để dạy bảo người dân. “Kim dĩ sở quý giả giáo dân, dĩ sở tiện giả giáo thân”, nhưng lại dùng những sự việc tương ưng với tội lỗi xấu xa để giáo hóa hoàng thân. Những điều phù hợp với lễ nghĩa là có gia giáo; phù hợp với tội lỗi là phóng túng xa xỉ, là thiên vị, thì làm sao nói với người dân là nhân nghĩa lễ trí, rốt cuộc là dẫn dắt con của mình, dẫn dắt những hoàng thân này ngược lại xấc láo với họ. Việc này gọi là “dĩ sở tiện giả giáo thân”,bất diệc bội hồ?”, điều này chẳng phải là đi ngược lại với đạo lý hay sao, chẳng phải là một hành vi hồ đồ hay sao? Việc này trên thực tế đã có nhắc nhở, trước đây là độc chiếm thiên hạ, hoàng đế không dạy dỗ tốt con cháu thì triều đại đó sẽ suy yếu. Vì vậy, việc giáo dục tốt cho hoàng thân quốc thích là vô cùng quan trọng, đối với cả triều đại là nhân tố quyết định.

Kinh văn tiếp theo nói: “Khả lệnh vương hầu tử đệ”. Mọi người xem trong Kinh văn, những vị quý tộc này để cho những con cháu của vương hầu “tất nhập đại học”, tất cả vào trường thái học đều vào trường học của quốc gia lập. “Quảng chi dĩ tha sơn , túc chi dĩ nhị vật”. Ông ấy đã học được những gương tốt như vậy từ nguồn tư liệu phong phú trong lịch sử và Kinh điển, thậm chí là những mặt xấu họ cũng lấy đó làm gương.

Tục ngữ có nói: “Lấy đá núi khác về mài ngọc của ta, có thể lấy đó làm gương. Mà “túc chi dĩ nhị vật”, chữ túc này là chỉnh đốn họ, yêu cầu họ hai điều quan trọng nào vậy? Chính là tuân thủ lễ nghĩa, tuân thủ pháp luật. Lễ là để cho họ có sự tiết độ, pháp là để cho họ không làm trái ngược với pháp luật, kỷ cương. Hai tiêu chuẩn này là để yêu cầu họ. Giả như có thể đọc sách của Thánh Hiền, lại có thể dùng kỷ cương phép tắc để yêu cầu, tắc tanh tao chi ô khả trừ”, họ đã nhiễm mùi phú quý nhưng dần dần có thể điều phục lại; “Nhi phân phương chi phong khả phát h”, đức phong của họ dần dần có thể biểu lộ ra. Điều này vẫn là phải dạy bảo, vẫn là phải có gia đạo, gia quy như vậy mới được. “Vô quy cũ bất thành phương viên”, trên thực tế, mỗi triều đại, đặc biệt là hoàng tộc, quy định kỷ cương phép tắc này tương đối nghiêm khắc.

Có một câu chuyện xảy ra thời Trinh Quán thứ sáu. Các vị xem, Đường Thái Tông đọc những Kinh điển trong “Quần Thư Trị Yếu” vô cùng nghiêm túc, đọc rất nhập tâm, vì vậy, lời của quần thần nói tương ưng với Kinh điển thì ông liền chỉnh sửa bản thân mình. Đây là lấy Kinh điển làm thầy. Khi công chúa Trường Lạc muốn xuất giá vào năm Trinh Quán thứ sáu (công chúa là con ruột của Đường Thái Tông, hơn nữa là do Trưởng Tôn hoàng hậu sinh ra, một người con gái do Nguyên Phi sinh ra), đương nhiên Đường Thái Tông rất hoan hỷ muốn con gái xuất giá, hơn nữa còn dặn dò chuẩn bị đồ cưới, những của hồi môn, lễ nghi vượt gấp đôi. Gấp đôi là so với ai vậy? Với em gái của Đường Thái Tông, chính là Trưởng Công chúa, cô của con gái nhà vua. Chị em gái của hoàng đế đều xưng là “Trưởng Công Chúa”. Đã có chữ Trưởng thì đương nhiên địa vị tương đối cao, trưởng bối. Rốt cuộc là của hồi môn hiện tại của con gái vua gấp đôi của người cô. Kết quả là ai đã nói rất có ý nghĩa? Sự việc trong gia đình hình như đa phần đều là do Ngụy Trưng quản, những người khác có thể có chút hoảng sợ. Ngụy Trưng góp ý kiến. Có học vấn thật là tốt, mở miệng ra nếu không phải là lịch sử thì cũng là Kinh điển. Ngụy Trưng lập tức nói: “Hán Minh Đế”. Hán Minh Đế là minh quân, Minh Chương chi trị; Đông Hán là Minh Chương chi trị; Tây Hán là Văn Cảnh chi trị. Thời Đông Hán Quan Vũ Đế tiếp nối là Minh Chương chi trị. Hán Minh Đế muốn phong tước cho con trai, rốt cuộc Hán Minh Đế tự nói: “Phần phân thưởng cho con trai của trẫm không thể giống như con trai của các vị tiên đế được, bởi vì con trai của các tiên đế là huynh đệ với trẫm, vai vế cũng là chú của con trai của trẫm. Con trẫm thấp hơn một đời, không thể ban thưởng bằng nhau, ban thưởng không thể giống nhau”. Các vị xem, chính bản thân hoàng đế mở miệng, tự bản thân Hán Minh Đế nói con trai của trẫm muốn phần thưởng ít hơn so với huynh đệ của trẫm. Các vị xem, giả như chúng ta không hiểu lịch sử thì không khuyên được, không thể đưa ra trường hợp thực tế như vậy. Đường Thái Tông nghe xong không thể không phục, lời nói quá đúng. Hơn nữa, là minh quân các vị cũng phải làm người của minh quân. Sau đó Hán Minh Đế tự nói: Ban thưởng bằng phân nửa so với những người chú của con trẫm là được rồi. Ngày trước cho là được mọi người ca tụng, vị quan ghi chép sử lúc đó ghi lại câu chuyện này, vô cùng tán thán vị hoàng đế này thông suốt đạo lý, biết luân thường.

Mọi người thử nghĩ, một người được ban thưởng hơn người chú quá nhiều, các vị xem sẽ như thế nào? Sẽ rất kiêu ngạo, sẽ ngông cuồng tự đại, tôn ti trật tự, tất cả luân thường đều bị ảnh hưởng. Ban thưởng cũng phải có tri thức, phải phù hợp với luân thường đạo lý mới được.

Thiên tử tỷ muội vi trưởng công chủ”, chị em gái của nhà vua đều xưng là trưởng công chúa, con gái của vua là công chúa. Đã có thêm chữ trưởng thì thể hiện sự tôn quý hơn hẳn công chúa. Tuy cảm tình của hoàng thượng đối với con gái có phần đặc biệt, nhưng cũng phải phù hợp với đạo lý, vẫn phải phù hợp với nghĩa lý, không nên tùy thuận theo tình cảm riêng tư. Nếu như lễ vật của công chúa vượt trội hơn trưởng công chúa nhiều như vậy, theo đạo lý thì điều này không được thỏa đáng. “Bẩm hoàng thượng! Ngài nên suy nghĩ kỹ lại một chút ạ!. Ngụy Trưng rất lợi hại, lúc cần mềm mỏng thì mềm mỏng, lúc cần cứng rắn thì cứng rắn. Các vị xem, lúc này ông ấy cũng là “bệ hạ nên suy xét cho kỹ”. Thái Tông nghe xong liền bảo: “Nói rất đúng, nói rất hay!. Hơn nữa, sau khi nghe xong Đường Thái Tông trở về nói cho Thái Thái của ông nghe. Thái Thái cũng muốn cưới chồng cho con gái, lúc đó có người kiến nghị của hồi môn cho con gái của bà. Chúng ta thử xem trưởng tôn hoàng hậu nói như thế nào? Bà nói: “Trước đây thiếp có nghe bệ hạ nói về Ngụy Trưng, vô cùng kính trọng ông ấy, nhưng vẫn chưa hiểu được hoàng thượng vì sao kính trọng ông ấy đến như vậy, duyên cớ là như thế nào. Hôm nay nghe được lời can gián của Ngụy Trưng, thiếp đã hiểu ra được. Bởi vì, ông ấy đã lấy nghĩa lý để tiết chế tình cảm riêng tư của hoàng thượng”. Quyền lực của hoàng thượng là lớn nhất, giả như hoàng thượng thuận theo tình cảm riêng tư, sở thích của nhà vua, thì bầu không khí của cả triều đình sẽ bị ảnh hưởng. Ông ấy luôn lấy đạo lý để tiết chế tình cảm của hoàng thượng, đặc biệt là tình cảm riêng tư, thật sự là trụ cột của quốc gia.

Các vị xem, việc này người mẹ không những không phàn nàn mà còn đánh giá Ngụy Trưng rất cao, cho nên vị hoàng hậu này không hề đơn giản. Sau đó tiếp tục nhắc nhở Đường Thái Tông. Điều này là thuận thế mà làm, rất có trí huệ! “Bẩm hoàng thượng! Thiếp cùng với bệ hạ kết tóc làm vợ chồng, chúng ta thân thiết nhất. Hơn nữa, lại được hoàng thượng kính trọng thiếp, yêu quý thiếp, tình nghĩa vô cùng sâu đậm. Quan hệ của chúng ta thân thiết như vậy, tình nghĩa đậm đà như vậy, nhưng mà mỗi lần thiếp muốn nói chuyện với bệ hạ đều cảm thấy phát run, vẫn phải thăm dò sắc mặt, chờ đợi thời cơ, không dám tùy tiện mạo phạm oai nghiêm của bệ hạ. Thiếp còn có áp lực như vậy, huống chi là những vị quan của bệ hạ, mối quan hệ của họ với hoàng thượng so với mối quan hệ của vợ chồng chúng ta vẫn kém hơn một đoạn, vì vậy họ càng khó hơn”. Các vị xem, điều này nhắc nhở Đường Thái Tông quan trọng biết bao.

“Huống tại thần hạ, tình sơ lễ cách”, tình nghĩa này vẫn chưa sâu đậm bằng vợ chồng chúng ta, vì vậy họ càng khó khăn hơn. “Cố”, lại nêu lên lịch sử. Các vị xem, hoàng hậu cũng không đơn giản, nêu ra Hàn Phi Tử có viết một tác phẩm gọi là “Thuyết Nan”. Người lãnh đạo nói lời chân thật rất là khó, chẳng dễ dàng gì, nói không hay đến cả ý thức cũng không có. Đông Phương Sóc cũng viết một tác phẩm có nhắc đến muốn khuyên ngăn hoàng đế cũng không phải dễ, điều này thực tế mà nói là vô cùng chân thật. Cho nên lời thật khó nghe nhưng lợi cho việc làm. Người của quốc gia, thái độ quan trọng nhất là phải tiếp nhận lời nói chân thật. Có thể tiếp nhận thì quốc gia mới ổn định, nếu không tiếp nhận thì nền chính trị sẽ hỗn loạn. Cho nên, thiếp chí thành cầu mong bệ hạ nên vô cùng thận trọng đối với khuyên ngăn các vị quan thì thiên hạ vô cùng hạnh phúc, là vận may của thiên hạ. Các vị xem, Trưởng Tôn Hoàng Hậu nắm bắt cơ hội này nói giúp cho tất cả các đại thần, vì vậy từ chỗ này mọi người nhìn thấy trị nước thời Trinh Quán có dễ hay không? Nhiều hiền nhân như vậy tập trung lại với nhau, giả như không có Trưởng Tôn Hoàng Hậu thì Ngụy Trưng cũng sẽ gặp rất nhiều nguy hiểm. Rất nhiều nguy hiểm đều do Trưởng Tôn Hoàng Hậu giúp ông hóa giải hết, đúng không?

Có một lần, Đường Thái Tông tức giận đã cầm cây đao lên rồi, rốt cuộc Trưởng Tôn Hoàng Hậu mặc lễ phục long trọng đi vào. Đường Thái Tông nhìn thấy, rất hồ nghi: Ái khanh làm gì thế?. Trên tay vẫn còn cầm đao, vừa chuẩn bị ra oai một chút thì nhìn thấy vợ của mình ăn mặc trang trọng, “là chuyện gì đây?”. Lập tức hoàng hậu chúc mừng nhà vua: Nhất định là có minh chúa nên mới có vị quan dám can gián như vậy”. Đường Thái Tông liền nghĩ: Ta là minh chúa, đã phục vụ nhiều rồi, không còn tức giận nữa, tức giận cũng không phải là thật. Chuyển cái ý niệm này thì không còn nữa. Chính mình phải biết chuyển, những người ở xung quanh phải biết trợ giúp, phải biết hướng dẫn, thì liền chuyển trở lại. Hoàng hậu vừa nói như vậy xong, hoàng đế lập tức phái thuộc hạ mang tặng 500 xấp lụa loại cao cấp đến nhà tặng cho Ngụy Trưng. Ngụy Trưng nhận được quà tặng không ít, nhưng mà phần thưởng này quan trọng nhất chính là làm cho bầu không khí can gián của quốc gia, triều đình khởi sắc trở lại. Đường Thái Tông là người thông thái, biết cách dùng phần thưởng để cổ vũ bầu không khí đúng lúc. Chúng ta xem đến câu chuyện này thì hiểu được Đường Thái Tông là người thông thái. Chỉ cần các vị quan khuyên can phù hợp với lễ nghĩa, phê bình những chuyện trong gia đình của nhà vua, thì vua vui vẻ tiếp nhận, lập tức sửa đổi. Hai đoạn này đều là nói đến hoàng đế. Những người giàu có dạy con cái đều phải hết sức thận trọng, phải có gia quy, có gia đạo, có học thức, từ nhỏ phải ràng buộc dạy bảo chúng. Đường Thái Tông dạy dỗ con cái rất là tận tâm.

Chúng ta hãy xem thêm một câu chuyện nữa, câu chuyện này có thể nhìn thấy Đường Thái Tông vô cùng dụng tâm, luôn nắm lấy cơ hội dạy dỗ con cái. Chúng ta có nắm bắt cơ hội để dạy dỗ con cái không? “Phụ từ tử hiếu”. Chữ “từ” này chính là luôn luôn nghĩ đến con cái. Đương nhiên sự lo nghĩ này bản thân chúng ta phải thông suốt đạo lý mới có thể nắm bắt lấy sự thiên lệch của con cái để hướng dẫn cho đúng đắn, mới có thể nhận được kết quả tăng trưởng điều thiện, sửa chữa sai lầm.

Vào năm Trinh Quán thứ mười tám, Đường Thái Tông nói với các đại thần ở xung quanh: “Thời xưa vô cùng xem trọng việc thai giáo, bắt đầu giáo dục từ lúc mang thai. Mà điều này trẫm lấy làm tiếc, trẫm không thể cố gắng nắm bắt từ lúc thai giáo, lúc đó có thể còn đang đánh trận. Gần đây đã lập nên Thái tử. Thái tử sau này là vua của một nước, cho nên gặp phải bất kỳ sự việc gì, chỉ cần có cơ hội là trẫm sẽ phải dạy dỗ Thái tử”. Đúng lúc đó, Thái tử đang ở bên cạnh. Nhìn thấy Thái tử muốn ăn cơm, trẫm liền hỏi: Con có hiểu biết về hạt cơm này không?. Thái tử trả lời: “Dạ, không biết ạ”. Trẫm tiếp tục nói: “Cơm gạo này là do người nông dân trồng. Một bát cháo, một hạt cơm  nên nghĩ kiếm được không dễ. Cày đồng đang buổi ban trưa, mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày. Ai ơi bưng bát cơm đầy, dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”. Đoạn này hay nhất là nhà vua đã trải qua việc trồng trọt, chính nhà vua đã thể nghiệm “mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày”, chính nhà vua đã chảy mồ hôi ở nơi đó, chắc chắn là vua vẫn nhớ.

Chúng tôi đã đưa bọn trẻ đi cấy lúa trên đồng ruộng, cấy đến nổi eo mỏi lưng đau. Sau đó trở về nhìn thấy bữa cơm, bát cơm đó thầy giáo nói với chúng: “Hôm nay các em đi cấy mới bằng một bát cơm này thôi, các em phải tiết kiệm, không nên lãng phí thức ăn”. Những người bạn nhỏ chưa từng được cấy lúa, nhìn thấy ruộng nước liền nói: “Thưa thầy! Đi xuống dưới đó có bị chết không?”. Một em học sinh khác nói: “Đừng sợ, ở dưới đáy có nền xi măng. “Thấy chưa thật, chớ nói bừa”, những bạn học sinh này không nên ở nơi đó nghĩ tưởng lung tung, làm gì có nền xi măng chứ. Điều này thuộc về thể nghiệm, có thể nghiệm qua thì chúng nhớ rất lâu. Các vị nói với chúng nửa ngày, có lúc chúng cũng không biết đã cảm nhận được điều gì.

Gần đây nhất, một người bạn nhỏ bốn tuổi trồng rau muống. Tôi nhìn những cháu bé bốn tuổi đó trồng rau, mỗi ngày tưới nước rất chăm chỉ. Tôi nhìn thấy phần rau đã trồng đó gom lại dường như chỉ có một dĩa mà thôi, nhưng huy động rất nhiều nhân lực. Những cháu bé này thật sự hái rau, phần rau muống đó gom lại chưa được một thau. Sau này các cháu ăn rau muống, nhất định không dám lãng phí, đó là các cháu đã trồng khoảng hai mươi ngày mới thu hoạch. Đây là sự thể nghiệm.

Trong hoàng tộc, Hoàng đế đều phải tự mình đi cày ruộng, làm tấm gương cho con của mình, cũng làm tấm gương cho thiên hạ. Đây là truyền thống vô cùng tốt đẹp. Hiện nay thì đã tương đối lơ là, phải nên phục hồi lại những lễ nghi thờ xưa. Toàn bộ đều là giúp cho người hiểu được thái độ quan trọng nhất của đời người. Cho nên, chế ra những nghi lễ đó là một khâu vô cùng quan trọng trong sự giáo hóa, nếu không thì con người hiện nay đều không hiểu biết lãng phí lương thực cũng là vô lễ. Trồng trọt mùa vụ vô cùng gian khổ, các vị nên nhớ đừng lãng phí thức ăn, đồng thời cũng phải nên hiểu thời gian người nông dân canh tác. Thời gian canh tác nhất định không nên giao công việc cho người nông dân, lúc đó sẽ lỡ mất việc trồng trọt của họ, họ sẽ không có cơm ăn. Các vị phải đồng tình với những tình huống này.

Lại nhìn thấy việc cưỡi ngựa, thấy có người ngồi trên con ngựa thì hỏi Thái tử: “Con có biết con ngựa không?”. Thái tử trả lời: Dạ không biết”. “Con ngựa chịu cực khổ thay cho con người, phục vụ cho con người. Hơn nữa, con sử dụng ngựa phải có chừng mực, không nên sử dụng chúng đến kiệt sức ngã quỵ, như vậy thì không được. Đối với ngựa cũng phải yêu quý, không nên làm tiêu hao hết sức lực của nó thì con mới có ngựa để cưỡi thường xuyên”. Thật ra, đối đãi với ngựa cũng như đối đãi với người dân, đều phải luôn luôn tận tình. Cái tâm nhân ái này phải luôn luôn đề khởi lên.

Sau này ngồi thuyền, hoàng thượng lại hỏi: “Con có biết chiếc thuyền này không?”. Giả như chúng ta có khả năng như Đường Thái Tông, khi dắt con cái đi dạo chơi, trên đường đi cũng là thời khóa học, đúng không? “Con có biết chiếc thuyền không?”. Thái tử nói: Con không biết”. Hoàng đế nói với Thái tử: “Chiếc thuyền này thí dụ cho người làm hoàng đế”, chính là nhà vua. Nước thì ví như cho người dân. Nước có thể nâng thuyền mà cũng có thể lật thuyền. Hơn nữa, hiện tại con là Thái tử, sau này còn phải dẫn dắt người dân cho tốt, nếu như con không phù hợp với đạo trời thì con sẽ bị nhân dân lật đổ, con phải cảnh giác lo sợ”.

Lại tiếp tục đi, nhìn thấy một cái cây cong queo, tiếp tục hỏi: “Con có biết cây xanh không?”. Thái tử trả lời: Con không biết”. Tiếp tục nói: “Cái cây này tuy là nó bị cong, nhưng nếu nó gặp được dây thước búng mực (thước búng mực của người thợ mộc) bật một cái, một đường màu đen rất thẳng, thì có thể cắt ra thành những tấm gỗ vô cùng thẳng. Điều này thường được nói là “gỗ gặp mực thước thì thẳng, con người chịu nghe khuyên thì thành thánh”, chịu sự can gián thì đức hạnh càng lúc càng tốt. Gỗ gặp được thước búng mực của thợ mộc thì có thể cắt ra thành những tấm gỗ vô cùng thẳng. Vì vậy, một vị vua tuy không có đức hạnh tốt, chỉ cần con chịu tiếp thu lời khuyên ngăn của các vị quan thì vẫn có thể trở thành một vị Thánh Vương. Con nên nhớ kỹ điều này, hãy lấy đó làm gương”.

Chúng ta nhìn thấy cơm cũng có thể làm bài học, nhìn thấy con ngựa cũng có thể làm bài học, nhìn thấy chiếc thuyền cũng có thể lấy làm bài học, nhìn thấy cây xanh cũng có thể lấy làm bài học, nhìn thấy mặt trời cũng có thể lấy làm bài học, đúng không? Mặt trời, mặt trăng chiếu sáng một cách vô tư, phải có tâm vô tư, rộng lớn. Các vị cổ nhân, đạo pháp thiên địa, vạn vật đều có thái độ của người thầy, đều có thể gợi ý, phản tỉnh chúng ta. Từ chỗ này, chúng ta nhìn thấy được sự tận lực dụng tâm của Thái Tông.

Vì vậy, giáo dục con cái chúng ta từ những câu giống như “đôn thân”, đều là xem trọng việc giáo dục con cái. Vậy với thái độ như thế nào có thể giúp con trẻ sống đời hạnh phúc? Tâm yêu kính, tinh thần trách nhiệm, gồm cả lòng khiêm tốn, biết được tâm thái tiết chế đều ảnh hưởng đến cả cuộc đời của họ. Mọi người xem, tư tưởng như thế nào có thể quyết định sự thành bại cả cuộc đời của họ? Việc này chính là do chúng ta phải giáo dục. Giúp người là gốc của niềm vui. Giả như họ nói việc hưởng thụ sự vui sướng là chính, thì cuộc đời của họ đã bị thiên lệch mất rồi, cuối cùng chỉ là phóng túng theo dục vọng, đồng thời không thể khống chế được dục vọng của mình. Dục là hố sâu, càng lúc càng nghiêm trọng.

Giúp người là cái gốc của niềm vui, tín nghĩa là cái gốc của việc lập nghiệp, sự nghiệp của họ phải thật sự có thành tựu. Từ nhỏ nên cắm sâu cái gốc thành tín cho chúng, nói đến đạo nghĩa. Một người đã nói đạo nghĩa thì họ sẽ phục vụ tốt những người xung quanh, cho đến sau này sẽ phục vụ tốt những người mà họ cần phải phục vụ. Các vị xem, cổ nhân đều nắm chắc điều căn bản này. Học vấn là cái gốc của việc cứu giúp đời, nếu họ muốn lợi ích cho xã hội thì họ phải có đạo đức tri thức đúng đắn. Tri thức của việc làm người, làm việc phải từ chỗ này mà cắm rễ.

Chúng ta tiếp tục xem nội dung kế tiếp là “quân đạo”, “phản thân”. Chúng ta xem hai từ “phản thân” này, có nghĩ đến câu nói nào trong Kinh điển không? “Hành hữu bất đắc, phản cầu chư k”. Điều này là lời giáo huấn của Khổng Lão Phu Tử, được ghi chép trong “Trung Dung”.

Xạ hữu tự hồ quân tử, bắn cung rất thích hợp với người quân tử. “Thất chư chính hộc”, mũi tên bắn ra không trúng mục tiêu, nên trách ai? “Phản cầu chư kỳ thân”, phải quay lại tìm ở chính nơi mình. Điều này rất quan trọng. Cuộc đời của chúng ta cũng giống như vậy, cũng giống như việc bắn cung tên. Công việc làm không được tốt, ý niệm trước tiên là phải quay lại phản tỉnh chính mình. Thật ra, điều này đối với chúng ta là việc khó, bởi vì chúng ta đã trưởng thành rồi mới thâm nhập văn hóa truyền thống, vì vậy trước đó đã hình thành thói quen khi gặp phải chuyện trước tiên là yêu cầu hoặc là trách móc người khác. Cho nên “biết sửa lỗi, không còn lỗi. Nếu che giấu, lỗi chồng thêm”. Trách móc người khác thì lỗi càng chồng thêm lỗi, che giấu lỗi lầm cũng là lỗi chồng thêm lỗi. Thật sự tu hành không phải dễ.

Lý hữu đốn ngộ”, thật sự phải hiểu đạo lý. Nhưng khi thực hiện, “sự yếu tiệm tu”. Kỳ lạ thật, đã hiểu đạo lý rõ ràng rồi, vì sao chẳng có cách thực hiện ngay? Bởi vì họ có chướng ngại. Giả như nói lập tức quay lại xem chính bản thân mình, vậy cái mà chúng ta cần phải điều phục là gì? Là thoái thác trách nhiệm, quán tính đều nhìn thấy lỗi lầm của người khác. Phải phá bỏ nó đi mới được. Vậy chúng ta hãy bình lặng lại một chút, hiện nay khi chúng ta gặp phải chuyện, điều gì sẽ bộc lộ ra trước tiên? Giả như bộc lộ ra là cảm xúc thì làm sao có thể quay lại xét bản thân mình. Quay lại xét bản thân mình là lý trí. Cho nên, vẫn phải không ngừng huân tập. Huân tập đến mức độ nào? Gặp phải chuyện thì điều xuất hiện trước tiên phải là Kinh điển. Lúc này Kinh điển là lý trí, lập tức sẽ điều phục cảm xúc, điều phục tập quán xấu. Cho nên phải nên đọc Kinh nhiều, hơn nữa những người xung quanh nhắc nhở nhiều thì chúng ta nên tiếp nhận, như vậy thì mới hồi đầu phản tỉnh được nhanh chóng. Khéo quán sát tâm của mình, còn phải gần gũi bạn hiền. Bạn bè tốt ở xung quanh sẽ trợ giúp cho chúng ta, hễ phát hiện ra chúng ta có thái độ không đúng thì lập tức nhắc nhở. Giả như nói, các vị nói chuyện với những người bạn tốt ở xung quanh, nếu như tôi nói chuyện giọng điệu the thé thì bạn nhanh chóng vỗ vỗ vào người tôi nhé, không nên để cho người khác nhìn thấy, nhanh chóng đạp đạp vào chân của tôi, nếu không thì có những lúc không khống chế được. Vừa bị nhắc nhở, các vị lập tức nói: “Sao mà lại phạm cái lỗi cũ nữa rồi”, các vị nhanh chóng điều chỉnh. Điều này cũng là giao ước ngầm.

Khổng Lão Phu Tử dạy bảo như vậy, Mạnh Tử truyền thừa tinh thần của Khổng Lão Phu Tử cũng nói đến thương yêu người mà người không thương mến mình, nên tự xét xem mình có đủ lòng nhân hay không. Cai trị người mà người không phục tùng mình, nên xét xem mình có đủ trí sáng không. Lấy lễ đãi người mà người không hồi đáp mình, nên tự xét xem sự kính trọng của mình có toàn vẹn hay chăng. Làm việc mà chẳng được kết quả theo ý muốn, vậy mình nên tự xét lấy mình. Mạnh Tử nói đoạn này cũng là để cho chúng ta cảm thấy được sự phản tỉnh của ông vô cùng sâu sắc, phản tỉnh từ trong tâm.

Các vị xem, các vị thương yêu một người nhưng họ không thân với các vị, họ không tiếp nhận sự thương yêu của các vị, thì nên xem xét lại bản thân mình là tâm nhân từ có đủ chưa?

Trị nhân bất trị”, các vị quản lý đoàn thể, quản lý cấp dưới, không thể quả lý được tốt thì các vị không nên trách móc cấp dưới của mình, các vị nên xem xét lại trí huệ của mình đã đủ chưa.

Phản kỳ trí”, các vị vô cùng lễ phép, cung kính đối với mọi người, ngược lại họ không tiếp nhận, không để ý đến các vị. Các vị có kinh nghiệm hay không? Các vị cúi chào mọi người nhưng mọi người chẳng để ý đến các vị, thậm chí là cảm thấy các vị uống lầm thuốc.

Lễ người mà người không đáp thì không nên kiểm điểm người, có thể là tâm chí thành cung kính của bạn chưa được thể hiện, mọi người vẫn đang quan sát, thật sự vẫn là giả. Có phải là giả hay không? Thật sự có nhiều lúc chúng ta không thể làm cho mọi người thừa nhận, rất có thể có liên quan với hành vi trong quá khứ của chúng ta, lưu vào trong ấn tượng của mọi người là như vậy. Sự thay đổi của chúng ta như vậy nhưng không thể tiếp nhận được chút nào. Cho nên, sự việc xảy ra tất có nguyên nhân. Cái “nhân” này không phải do người mà do chính mình. Điều này trong việc học văn hóa truyền thống của chúng ta thật sự có lẽ đa số mọi người đều đã trải qua. Sau khi chúng ta học rồi thì rất xúc động, lương tâm của tôi đã phát hiện ra”. Sau khi trở về thì biểu hiện đó làm cho mọi người đều vô cùng kinh ngạc, mở to mắt đứng nhìn: “Người này vì sao mới đi có mấy ngày trở về thì trở thành như vậy, anh ấy đã đi đâu mà được tẩy não như vậy?”. Phải cho những người xung quanh một quá trình thích ứng. Chúng ta thay đổi một chút thì có khi người ta lại trì hoãn lại một chút.

Tôi đã từng nghe được một câu chuyện. Có một phu nhân, sau khi nghe xong thì phản tỉnh chính mình. Cô và người chồng đã ly hôn. Rốt cuộc sau khi nghe bài giảng thì rất xúc động, liền đi đến nhà người chồng. Ba mẹ chồng cũng đang ở nhà, lập tức cung kính cúi đầu nhận lỗi với các vị đó. Rốt cuộc khi cô ngẩng đầu lên, tất cả những vị đó chẳng có biểu lộ điều gì. Cô ấy thì thật lòng thật dạ, nhưng chẳng có bất kỳ phản ứng nào. Cô ấy liền quay trở về, có thể đi ngang qua đó có cảm giác không hiểu được.

Lúc đó, nếu cô nghĩ đến câu nói của Khổng Lão Phu Tử: “Người đời không biết đến mình cũng chẳng vì thế mà buồn, như vậy há chẳng phải là bậc quân tử sao?. Làm việc gì cũng muốn người ta hiểu được cũng là một loại chấp trước, vì sao vậy? Vì bạn muốn thì cũng được, nhưng được rồi thì sẽ khổ. Những điều đó là việc nên làm mà, có gì mà phải ham muốn chứ. Điều cần phải làm thì gọi là nghĩa, tuân theo đạo nghĩa. Có cầu gọi là lợi và hại của đời người, vẫn là tham cầu. Con người hễ có tham cầu thì không đủ chánh khí, sẽ có phiền não, sẽ có thất vọng. Các vị xem, chúng ta yêu thương mọi người, đó là tận bổn phận của chúng ta. Thương yêu người ta, người ta không tiếp nhận thì có khó chịu không? Lúc đầu ta thương yêu họ, không phải là vì để họ thương yêu lại ta, có đúng không? Có khó chịu không? Không bị khó chịu. Có nên tiếp tục yêu thương họ không? Nên. Các vị là người sáng suốt, như vậy mới biết tâm của ta là thật hay giả. Ra công có một chút mà không có sự đáp ứng thì “tôi không làm nữa”, như vậy sự ra công trước mặt cũng là giả. Đó là tâm hơn thiệt, đó là yêu thương có điều kiện, gọi là “dục”, không gọi là “thương yêu”. Thương yêu thì không có điều kiện, tâm yêu thương là vô tư, cảm giác của thương yêu là sự ấm áp. Một người đối xử tốt với người khác có mục đích thì mọi người, đối phương đều sẽ biết, “người này lại đến, thấy người sang bắt quàng làm họ, không nên nhận đồ của anh ta, nhận rồi sau này anh ta cứ đến lải nhải”, đúng không? Anh ta kết bạn với mọi người có điều kiện, có sự tính toán hơn thiệt. Người nhạy cảm sẽ cảm thấy bị áp lực, rất khó có được tình bạn chân thành với bạn. Đạo nghĩa vô điều kiện mới có thể kết giao được với bạn tri kỷ.

Người vợ này bước ra cửa. Lời lẽ nói từ tận đáy lòng như vậy nhưng tất cả mọi người không có chút biểu lộ cảm xúc nào. Nhưng cô ấy cũng chẳng đơn giản. Sau này cô không bỏ cuộc, tiếp tục sửa đổi bản thân mình, hoàn thiện chính mình, sau đó cùng với người chồng trước duy trì mối liên hệ. Trải qua một khoảng thời gian, người chồng trước cảm nhận được sự thay đổi của cô ấy, sau đó thì kết hôn lại. Câu chuyện này là có thật, bởi vì cô ấy là bà con của đồng nghiệp thân thiết của chúng tôi. Câu chuyện là chân thật. Mọi người hãy nghĩ toàn bộ câu chuyện này, ai mà muốn ly hôn có đúng không? Các vị xem, vừa thay đổi thì chồng, ba mẹ chồng đều hoan hỷ. Ly hôn là chuyện đau khổ của đời người, ai mà muốn chứ? Không có ai muốn bơi lội trong dòng nước đau khổ, vậy tại sao không lấy phương hướng của con đường hạnh phúc mà chúng ta làm mục tiêu để đi? Không nên yêu cầu người khác, bản thân chúng ta trước tiên dẫn đầu cho tốt. Hơn nữa, vì sao cô ấy nói những lời chân thành như vậy nhưng chẳng có phản ứng gì? Bởi vì người chồng trước của cô cùng với những người trong gia đình chưa hiểu rõ tình huống, “hiện giờ có phải đang nằm mộng không vậy, sao mà được như vậy chứ, là tôi đang nằm mộng phải không?”. Đương nhiên trước đây phải có rất nhiều sự tổn thương nên mới dẫn đến việc ly hôn, đều là có nguyên nhân trước đó, cho nên tâm trạng của họ chẳng có cách nào điều chỉnh lại được. Điều này là rất bình thường.

Thí dụ hôm nay bạn tát một người bạn liên tục năm cái, anh ấy vẫn chưa tỉnh, sau đó các vị đột nhiên nói: “Tôi đối xử với anh rất tốt”. Các vị, anh ấy sẽ làm gì? Anh ấy tuyệt đối sẽ thoái lui mấy bước. Trước mặt các vị đều đối với anh ấy không tốt như vậy, đột nhiên đối xử tốt với anh ấy, anh ấy không giật mình mới là chuyện lạ. Cho nên các vị xem, thế giới này đều không có vấn đề, chúng ta thì có vấn đề. Tâm lý của chúng ta chẳng khách quan để đồng tình với rất nhiều tình trạng nguyên nhân, ngược lại toàn là chỉ trích. Càng chỉ trích thì tình huống càng tệ, vì sao vậy? Chỉ trích là cảm xúc hóa. Chúng ta cảm xúc hóa thì chắc chắn sẽ lôi kéo cảm xúc hóa của đối phương, một chút việc cỏn con cũng khó dàn xếp, chuyện nhỏ biến thành chuyện lớn. Nên dùng lý trí, nên phản tỉnh thì chuyện lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ hóa không.

QUẦN THƯ TRỊ YẾU 360 - Tập 28

Kinh văn: “Điều căn bản trong việc xây dựng phẩm đức của quân vương không có gì quan trọng hơn việc chánh tâm. Tâm chánh thì thân chánh, thân chánh thì cận thần tả hữu chánh, cận thần chánh thì triều đình chánh, triều đình chánh thì quốc gia chánh, quốc gia chánh thì thiên hạ chánh”.

Các vị xem, lời giáo huấn này thật sự tương ưng với “Tứ Thư”. Trong “Đại Học” nói: “Tâm chánh rồi mới thân tu, thân tu rồi mới gia tề, gia tề rồi mới quốc trị, quốc trị rồi mới thiên hạ bình”. Vì vậy, quân chủ phải xây dựng nền tảng của phẩm đức.

Mạc thượng hồ chánh tâm”; chữ “thượng” này vô cùng quan trọng, không có gì quan trọng hơn việc chánh tâm. Chúng tôi thường nói, tu dưỡng là công phu ở trong tâm. Chúng ta vừa xem qua một đoạn của Mạnh Tử, “cung kính - nhân từ - lý trí”, ông luôn luôn duy trì không thể để lệch hướng. Không nên tự tư, phải thương yêu người; không nên ngạo mạn, phải cung kính người; không nên xử sự theo cảm xúc, không nên xử sự theo cảm tính mà phải dùng lý trí. Vì vậy, tâm chánh thì sau đó thân của mình liền chánh, là đã tu thân. Bởi vì lời nói, việc làm thật sự đều là sự phản chiếu của tâm. Nói sai lời, làm sai việc, gốc của bệnh vẫn là do trạng thái tâm lý không đúng. Cho nên chúng ta phải sửa chữa khuyết điểm; có lúc phải sửa ở trên sự, có lúc phải sửa ở trên lý, cũng có lúc sửa chữa từ trong tâm. Điều này là tốt nhất, là phương pháp căn bản nhất.

Giả như chúng tôi thường nói tánh tình nóng nảy, vậy thì có tìm ra được chỗ thiên lệch của tâm hay không? Vì sao ta biết có hành vi nóng nảy, tâm của ta thiên lệch ở chỗ nào? Mọi người không thuận theo ý của ta thì ta không được vui, đây chính là tham. Nguồn gốc của tội ác chính là từ việc khởi lên cái tham này. Nơi tập trung nhiều tội ác là do tham khống chế, đã yêu cầu nhưng không thuận theo ý của ta thì không được vui. Nguồn gốc của tính xấu có liên quan với tâm tham, có liên quan với ý niệm khống chế. Không thuận theo ý của mình thì tức giận. Sự chịu đựng này là quá nhỏ, vô cùng nhỏ, không thể khoan dung cho người. Sự tức giận này còn có những nguyên nhân nào? Ưa sĩ diện. Những người sĩ diện rất dễ tức giận, vì sao vậy? Hổ thẹn mà hóa giận. Sĩ diện, không chịu nổi sự phê bình, người ta mới nhắc nhở hai - ba câu thì mất bình tĩnh: “Được rồi, được rồi, đừng nói nữa”. Vẫn là tham. Ưa sĩ diện cũng là tham. Tham sĩ diện, tham danh vọng, còn tham gì nữa? Tâm lượng thường là quá nhỏ bé, luôn để cái sai của người khác trong lòng, luôn có thành kiến với mọi người, hễ có cơ hội liền mượn cớ này để làm chuyện khác, lập tức nói “được rồi, rốt cuộc hôm nay tôi đã tìm được cơ hội rồi”, đùng đùng mắng người ta một trận. Đây là tâm lượng nhỏ hẹp. Nên khoan dung cho người. Nhất định phải tìm ra được nguồn gốc tính nóng nảy của mình thì các vị mới có thể tùy bệnh mà hốt thuốc. Nguồn gốc của tính nóng nảy nguyên nhân có rất là nhiều.

Thí dụ như các cô gái trong một số ngày nào đó thì tương đối dễ nổi nóng, vì sao vậy? Thân thể khó chịu. Thưa các vị học trưởng, phải từ chỗ này mà nghiêm khắc với chính mình, rộng lượng với người khác. Tất cả các đạo lý, thứ nhất là nghiêm khắc với chính mình, thứ hai là phải rộng lượng với người khác. Chúng ta không nên sĩ diện, gọi là nghiêm khắc với chính mình. Nên giữ sĩ diện với người khác, như vậy gọi là rộng lượng với người khác. Phải khéo học, không nên học điên đảo trở thành nghiêm khắc với người, rộng lượng với chính mình, như vậy gọi là điên đảo. Trục X - trục Y phải chuẩn, không thể nghiêng lệch.

Chúng ta ôn lại một chút, trục X là gì? Kéo dài vô hạn, gọi là rộng rãi với người, đúng không? Còn trục Y, chiều sâu của nó không đáy, sâu đến chỗ nào? Sâu đến chỗ sâu của tấm lòng. Đối với tập khí thì nhanh chóng diệt sạch, đây gọi là trục Y. Trục X gọi là rộng lượng với người khác, trục Y gọi là nghiêm khắc với chính mình. Được rồi, thước đo đời người chúng ta trục X - trục Y xếp đặt xong rồi.

Còn nữa, bản thân các vị hãy nghĩ xem, đặc biệt khi bản thân có cảm xúc, lúc đó là dễ quán chiếu đến vấn đề của bản thân mình nhất, gồm cả việc hấp tấp cũng rất dễ nổi nóng. Bởi vì khi các vị đang làm việc, đột nhiên có những sự việc phát sinh thì rất dễ nổi nóng. Vì vậy con người phải nên học sự thận trọng, tất cả lời nói việc làm đều phải khoan thai, không nên hấp tấp. Dần dần sẽ thận trọng lại, ôn hòa trở lại. Khoảng cách giữa hai chân mày dần dần sẽ rộng ra, tâm lượng cũng rộng ra theo.

Tâm chánh nhi hậu thân chánh, thân chánh nhi hậu tả hữu chánh”. Cái thân chánh này, chánh thì cảm hóa được người, những người ở xung quanh cũng bị cảm hóa. “Tả hữu chánh nhi hậu triều đình chánh”, tả hữu ở đây là chỉ những đại thần quan trọng. Đại thần cũng là những vị quan mẫu mực, cho nên cả triều đình sẽ chánh. Triều đình mà chánh thì những vị quan cũng đều chánh. Các quan này là trụ cột quan trọng của quốc gia, thực hiện những sách lược quan trọng của quốc gia. Họ là những người có sự tu dưỡng, quốc gia này đương nhiên sẽ tốt đẹp. Quốc gia mà chánh, làm tấm gương cho thiên hạ thì thiên hạ chánh.

Việc này vào đời nhà Đường, Đường Thái Tông đã thực hiện được. Ông được rất nhiều quốc gia trên thế giới xưng là “Thiên Khả Hãn”, là vị vua chung của thiên hạ. Tấm gương của ông đã giáo hóa được người trong thiên hạ.

Tiếp theo đoạn văn này, chúng ta xem ở trong sách đã nói:

Kinh văn: Thiên hạ giả như bất chánh, quốc gia phải tu. Quốc gia giả như bất chánh, triều đình phải tu, phải bắt đầu từ ngay cái gốc. Triều đình không chánh thì các cận thần tả - hữu phải tu. Cận thần tả - hữu bất chánh, vẫn là do chúng ta chưa cảm hóa được, bản thân ta phải nên tu. Thân bất chánh thì phải nên tu tâm, trở lại với cái gốc tâm địa công phu, tu cái tâm này.

Tâm ở gần chúng ta nhất. Điều dưỡng cái tâm này thì có thể ảnh hưởng đến ai? Ảnh hưởng đến thiên hạ, ảnh hưởng đến tất cả người, sự và vật ở xung quanh chúng ta. “Y báo chuyển theo chánh báo”. Cái tâm này chính là chánh báo. Thật sự đã sáng tỏ rồi, gặp phải một số vấn đề thì không phải trách móc nữa mà trở về cái gốc để tu sửa. Cho nên trong Kinh văn có nhắc đến Đại Vũ, Thương Thang đều tự mình phản tỉnh. “Nếu trẫm có tội thì đừng để lụy đến dân chúng bốn phương, nếu dân chúng bốn phương có tội thì đó là tội của trẫm. Câu nói này là do cổ Thánh tiên Vương chính thống truyền thừa lại, tất cả các vị vua đều noi theo tinh thần này. Ta có lỗi thì ông trời sẽ quyết định, không thể giáng tội cho người dân, đó là lỗi của ta. Nhưng mà người dân có tội cũng là do ta không dạy bảo người dân được tốt. Bởi vì Hạ - Vũ - Thương - Thang có thái độ tự phản tỉnh như vậy, cho nên quốc gia thời đại của họ đã nhanh chóng hưng vượng trở lại. Điều này cũng được ghi trong lịch sử, bởi vì họ đều tu dưỡng từ trong tâm. Vì vậy, tâm của một người sẽ làm chủ tinh thần của người đó. Cái tâm này điều khiển hết thảy tư tưởng, quan niệm, thái độ. Cái tâm này hành động không bị sai lệch chính là sự khởi tâm động niệm chính xác. Trời đất đều có thể giao cảm, huống chi là con người. Tâm của chúng ta đã chí thành thì trời đất đều có thể giao cảm, như vậy làm sao mà con người không thể giao cảm.

Các vị xem cổ Thánh tiên Vương, Đại Vũ đều cảm động trời đất, cảm động đến cả chim muông thú rừng, vì vậy khả năng của cái tâm này mạnh vô cùng. Cho nên người chánh tâm tất nhiên sẽ có chánh đức, hành vi của họ nhất định là phù hợp với đức hạnh. Cũng giống như cái cây mọc thẳng đứng lên thì tự nhiên bóng dáng cũng được nhìn thấy, gương tốt thể hiện ra thì thiên hạ liền noi theo. Cho nên trong “Đại Nhã” có nói: “Nghi hình Văn Vương, vạn bang tác phu”, người dân vô cùng cảm phục khí phách của Văn Vương. Ở trong đoạn Kinh văn này đã nêu lên khí phách của những vị tiên vương như Đại Vũ, Thang Vương, Văn Vương. Vì vậy, thời cổ đại, những người làm chính trị đều lấy Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn Vũ Chu Công làm gương. Ngày nay chúng ta làm lãnh đạo, làm ông chủ, chúng ta cũng y theo đạo chính thống này để tự yêu cầu bản thân mình.

Chúng ta xem câu hai mươi ba. Tăng Tử nói: “Mỗi ngày ta đều nhiều lần kiểm điểm bản thân mình làm việc cho người khác có tận tâm tận lực chưa, quan hệ với bạn bè có giữ uy tín chưa, kiến thức thầy giáo giảng có thực hành theo chưa?”. Tăng Tử là được Khổng Lão Phu Tử chính thống truyền lại. Khổng Lão Phu Tử nói: Đạo ta nhất quán một điểm thôi. Tăng Tử lập tức liền thể hội: Đạo của thầy chỉ có một chữ trung thứ thôi. Bởi vì Tăng Tử được truyền thừa chính thống, những lời giáo huấn của Tăng Tử chúng ta phải học. Lập đức, tu nghiệp đều là mấu chốt. Tăng Tử nâng cao học vấn của Ngài bằng cách nào? Mỗi ngày đều phản tỉnh chính mình từ ba quan điểm, có vì người khác mà tận tâm tận lực làm việc không? Có giao du qua lại với bạn bè không? “Phàm nói ra, tín trước tiên”, xem trọng chữ tín. “Truyện bất tập hồ”; chữ “truyện” này từ hai quan điểm mà nói, chính là học vấn của vị thầy truyền lại có cố gắng ôn lại không, tiến thêm bước nữa là giải hành tương ưng để thực hiện. Phải luyện tập, chẳng phải vui lắm sao. Chữ “tập” này nghĩa là làm, là thật sự làm. Sự phản tỉnh này rất quan trọng. Điều thầy dạy chúng ta có thật sự làm chưa? Ngoài ra, sau này Tăng Tử dạy học cũng nghĩ lại, truyền trao cho học trò bản thân có “tập hồ” không? Chữ “tập” này nghĩa là bản thân có thực hiện hay chưa.

Mạnh Tử nói: “Con người thích lên mặt dạy đời. Thích lên mặt dạy đời là một tập tánh rất dễ khởi lên, đặc biệt là làm công việc dạy học. Nói đi nói lại đều là nói đạo lý cho người khác nghe, vậy rốt cuộc bản thân đã thực hiện được bao nhiêu? Là một người dạy học, sự phản tỉnh của tự thân là rất quan trọng, không phải là nói cho người khác. Những điều mà bản thân mình nói thì chính mình đều không làm được, điều này sẽ sinh ra thói xấu, người tiếp nhận sẽ nghĩ “anh chỉ là kêu chúng tôi làm, rốt cuộc thì bản thân anh cũng không làm”, sẽ làm mất đi tín tâm. Như vậy chúng ta không chỉ không đạt được hiệu quả của việc hoằng truyền đạo, mà còn có thể gây chướng ngại cho đạo. Cho nên, cổ nhân đặc biệt nhấn mạnh lời nói đi đôi với việc làm. Tác phong như vậy rất là quan trọng. Người dạy học cũng như vậy, người làm cha mẹ cũng là như vậy. Chúng ta gọi con cái làm mà bản thân không làm thì con cái chẳng nể phục. Chúng ta là lãnh đạo, yêu cầu cấp dưới làm, rốt cuộc là bản thân không làm, cấp dưới rất khó tin tưởng và nghe theo chúng ta. Tác phong đạo đức của Khổng Lão Phu Tử rất nhiều học trò đã quan sát, họ đã nhìn thấy rất nhiều đức hạnh vô cùng quan trọng, gọi là nội hành nhân khán môn đạo.

Tăng Tử rất trung thực, tâm rất tĩnh mới có thể quán sát được Phu Tử, thậm chí là phần học vấn cao siêu hơn bạn học. Các vị xem “Thái Bá đệ bát”, Tăng Tử có nói một đoạn: “Người làm được lại dám đi hỏi người không biết, người biết nhiều lại đi hỏi người biết ít. Năng lực của chính mình rất tốt, vẫn phải đi hỏi người kém năng lực hơn mình; kiến thức của chính mình rất uyên bác, vẫn phải đi hỏi những người kém hơn mình. Người biết nhiều lại đi hỏi người biết ít. “Hữu nhược vô”, rất có tri thức nhưng rất khiêm tốn. “Đầy đủ mà tựa như trống không, bị xúc phạm mà chẳng xúc phạm lại. Bị người ta xúc phạm, từ trước đến giờ không hề tính toán với họ. Đây là lời của Tăng Tử. Ông đã nhìn thấy được ai tu dưỡng được điều này? Là Nhan Hồi. Tăng Tử nói: “Ngày xưa bạn ta làm được như vậy. Tại vì sao không phải là những sư huynh đệ khác nhìn thấy mà lại là Tăng Tử nhìn thấy? Đó là do Tăng Tử khéo học.

Sau này ở trong sách ghi chép lại, Tăng Tử nói ta nhìn thấy Phu Tử có ba đức hạnh nhưng mà ta vẫn chưa làm được, rất là hỗ thẹn. Có thể nhìn thấy được là một chuyện chẳng đơn giản, đương nhiên điều này có lẽ là Tăng Tử khiêm tốn. Tăng Tử nói, Phu Tử đối nhân xử thế có ba điều vô cùng hiếm có.

Thứ nhất, “kiến nhân nhất thiện nhi vong kỳ bách phi, thị Phu Tử chi dị sự dã”; rất dễ thân cận, rất dễ phụng hành, rất dễ bao dung cho người, rất hiền lành.

Kiến nhân hữu thiện, nhược k hữu chi, thị Phu Tử chi tranh dã”. Nhìn thấy người khác có đức hạnh, có thiện hạnh, thì vui mừng như là bản thân mình có vậy.

Kiến nhân chi đắc như kỹ chi đắc, thành nhân chi mỹ”. Không có một chút tâm đố kỵ nào, quyết định không tranh với người, thậm chí là giúp người khác, để họ dốc sức thể hiện, họ cũng rất là vui. Thậm chí là để người ta làm, mình ở bên cạnh giúp đỡ họ, cũng không nên tranh giành công lao, “thành nhân chi mỹ”.

Thứ ba, “kiến thiện tất cung thân hành chi, nhiên hậu đạo chi, thị Phu Tử chi năng lao dã”. Gặp được lời giáo huấn hay thì nhất định “cung thân hành chi”, nghĩa là chính bản thân mình phải thực hiện đạo lý này trước tiên, thực tiễn, sau đó mới đi hướng dẫn, mới đi dạy bảo người khác. Đây là sự để tâm rất sâu. Những đạo lý này nhất định phải do chính mình thể hội, sau đó mới dạy cho người khác.

Giả như chính mình không thực hiện, có lúc chỉ là tưởng tượng; tưởng tượng thì có lúc không thể kiểm chứng được, nếu nghĩ tưởng sai lầm thì có thể dạy cho người khác bị sai lầm, sẽ rất phiền phức. Hơn nữa, tự thân mình làm trước, việc này cũng là lời nói đi đôi với việc làm. Nếu không thì sẽ trở thành việc nghe những Kinh điển, lời giáo huấn này sau đó biến thành thợ dạy học, đều là nói cho người khác nghe. Hơn nữa, trong lúc nói cho người khác nghe đều không có sự thực chứng, sự thông hiểu sâu sắc, thì học trò sẽ nhận được lợi ích có giới hạn, bởi vì họ không có sự thông hiểu chân thật, sự thật chỉ là việc học thuộc lòng trong sách vở mà thôi. Vì vậy, câu nói này của Phu Tử là làm được mới nói, chính mình phải làm trước. Thực chứng rồi, đem những thể ngộ tốt nhất chia sẻ lại cho học trò, đây là sự dụng tâm.

Chúng ta xem Sư trưởng đã tu học sáu mươi năm, mỗi khi giảng Kinh đều đem tinh hoa của sáu mươi năm thể ngộ được truyền cho học trò. Có thể thấu hiểu được sự để tâm rất sâu sắc của Sư trưởng thật sự nghe lời. Sự thọ dụng này là lớn nhất. Chúng ta đang trên đường tu học, ít đi theo con đường quá quanh co. Ai có phước phần nhất? Người thật thà có phước nhất. Người Phúc Kiến chúng ta có câu nói: “Thiên Công đông ham nhân”, ông trời yêu thương những người thật thà nhân hậu. Từ câu nói này của Tăng Tử, chúng ta suy nghĩ Khổng Lão Phu Tử nói “kiến nhân nhất thiện, vong kỳ bất phi”, nhìn thấy người khác có biểu hiện tốt thì ông quên đi những điều xấu trước đây, không để ở trong lòng nữa. Thật hiếm có, lãng tử hồi đầu.

Giả như chúng ta vừa thấy người ta ác, liền quên đi những điều thiện của họ, các vị không hài lòng với họ một điều gì, hình như là người đó cái gì cũng không được tốt, thậm chí có người nói anh ấy gần dây tương đối tốt thì nói “không thể nào, tôi hiểu anh ta rất rõ mà”, vậy là có thành kiến đối với người ta rồi. Các vị luôn luôn có thành kiến với người khác thì khi sống chung với họ các vị rất bị áp lực. Các vị có thể bao dung cho người khác, thậm chí người ta có điều tốt các vị lập tức tán thành họ, họ sẽ cảm thấy sống chung với các vị như được tắm trong gió xuân, rất là phấn khởi. Cho nên gọi là “dị sự”. Vì vậy, học trò nói Khổng Phu Tử là “vọng chi nghiễm nhiên, tức chi dã ôn”. Cận kề với Phu Tử, cảm thấy Phu Tử rất thân thiết, luôn cổ vũ người khác. Vì vậy, phải loại bỏ cái tâm hẹp hòi, nên tán thưởng người khác, bao dung người khác, phải chuyển cái tư tưởng này. Hơn nữa, “kiến nhân hữu thiện nhược k hữu chi”, nên vui hơn người khác: Họ càng ngày càng tiến bộ, quá tốt rồi! Họ thể hiện như vậy là quá tốt rồi, đối với tập thể có sự giúp đỡ quá nhiều rồi!. Đây chính là “tùy hỷ”, cái tâm hoàn thiện sự tốt đẹp cho người.

Giả như chúng ta lòng dạ hẹp hòi, nhìn thấy cái tốt của người khác cảm thấy chua xót: “Có gì hay chứ, chỉ là vận may thôi”. Vì sao tôi phân tích thấu đáo như vậy? Bởi vì chính tôi cũng là như vậy, trước đây cũng là như vậy, hiện giờ thì đang rất nỗ lực để điều chỉnh. Vì vậy không nên đố kỵ, không nên đối lập với người, không nên có thái độ tranh đấu. Quân tử vô sở tranh, “cập kỳ tráng dã, huyết khí phương cang, giới chi tại đấu”, không nên đấu tranh với người. Hễ đấu tranh với người sẽ gây ra sự tổn hại rất lớn cho gia đình, cho đoàn thể, có khả năng tổn hại gia đình, đoàn thể. Cha mẹ và cấp trên vì những việc này mà phải đau đầu, còn giúp đỡ gì nữa? Rất nhiều người đã chểnh mảng: “Năng lực của tôi rất tốt, trong đơn vị chẳng ai sánh được với tôi”. Cho nên con người khi đã ngạo mạn thì chỉ nhìn thấy năng lực, không nhìn thấy được “thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hòa”. Vì vậy có một câu nói rất hay: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Cách nói này thật sự chúng ta đều đã đọc qua rồi, nhưng rất ít khi chúng ta cảnh giác để nhận thức điều đó, bởi vì người thật sự có tài năng vẫn còn có thói kiêu ngạo, họ vẫn là tự tán thưởng mình thì cảm thấy hài lòng. Thái độ này của họ không buông bỏ được, họ vẫn không nhìn ra được vấn đề, bởi vì ngạo mạn từ đâu mà có? Từ sự “ngã mạn” mà có. “Ngã” rất đáng gờm, cái ngã rất lợi hại. Có ngã thì sẽ chướng ngại khả năng quán sát khách quan của chính mình, có ngã thì sẽ không có nhân, có ngã rồi thì sẽ không cảm nhận được cái tâm của người khác. Các vị nói một người khi khởi lên sự ngạo mạn thì lời nói đều đâm chọc vào tim của người khác, họ có biết hay không? Có biết nhưng vẫn cứ nói. Cho nên những tập khí này đều sẽ làm cho ta không cảm nhận được cái tâm của người khác, không cảm nhận được sự khốn khó của đoàn thể.

Có một câu nói: “Ngã hành ngã tố”, thì không được tốt, nhưng cá tính tốt của các vị giống như phong cách của Khổng Lão Phu Tử, sống tốt với mọi người. Mọi người tốt thì vỗ tay, cổ vũ mọi người, lực hướng tâm đoàn kết của tập thể đều vì bạn mà tăng lên. Điều này nhìn không thấu.

Đối với đoàn thể, quan trọng nhất được gọi là “nhân hòa”.

Trong “Đại Học” có một đoạn nói đến việc bầu cử nhân tài rất sâu sắc, không biết mọi người có chú ý hay không? Trước đây chắc đã có nói với mọi người rồi. Nếu như có được một đại thần thật thà thành khẩn, chẳng hề có tài năng gì khác, chỉ có tấm lòng khoan hòa,  như có một lượng chứa lớn, độ lượng. “Nhân chi hữu chi, nhược kỷ hữu chi”, người ta có năng lực thì ta vui mừng giống như họ vậy. “Đức tốt của người khác, đại thần ấy thật lòng ưa thích. Người ta có đức hạnh, có tri thức của Thánh Hiền, thì ta ở bên cạnh ngưỡng mộ. Điều này quá tốt. Phải nên nghe lời của Khổng Phu Tử. Người như thế xem ra không phải là rất có tài, nhưng họ là trụ cột, là người không đố kỵ mới có thể đề bạt người khác, có thể bao dung người khác thì mới có thể cổ vũ người khác. Điều này là từ trường trong vô hình.

Tiếp theo nói: “Người khác có tài  đem lòng ghen ghét đố kỵ”. Lại có hạng người khác, người ta có năng lực thì liền đố kỵ, phá hoại, cản trở thì không phải là rường cột của quốc gia. Người Phúc Kiến nói: “Nuôi chuột cắn bao bố”, có nghĩa là nuôi chuột để nó đi cắn nát tất cả các bao gạo. Đề bạt họ lên rốt cuộc là để phá hoại đoàn thể.

Đoạn tu dưỡng này của Phu Tử gợi ý cho chúng ta rất nhiều về việc đối nhân xử thế. Tăng Tử rất khéo học tập, đối với bản thân hạ thủ công phu rất sâu. “Tam tỉnh ngô thân”, tuyệt đối không giải đãi.

Sự thành bại là ở “trung tín”. Trong “Đại Học” có một câu nói: “Người quân tử có đạo lớn,  ắt phải có được bằng lòng trung tín  và sẽ mất đạo ấy bởi lòng kiêu ngạo và thói xa hoa. Sự hưng vượng của một quốc gia, một đoàn thể đều dựa vào “trung tín”. Các vị xem, một đoàn thể phụ trách công việc tận tâm tận lực, thành thật đối xử với người, nói được làm được, thì chắc chắn hưng vượng. “Ban đầu là vậy đấy, ít khi duy trì được đến kết thúc. Có những đoàn thể lúc mới bắt đầu thì rất tốt, nhưng rất khó duy trì, bởi vì duy trì không được. Vì sao duy trì không được? Chỉ cần tập khí kiêu thái của họ nổi lên thì sẽ phá hủy hết. Kiêu là kiêu ngạo, thái là gì? Là xa xỉ, phóng túng. Vì vậy mọi người xem, những lý lẽ này đều tương thông với nhau.

Trong “Hiếu Kinh” dạy các nước chư hầu: “Ở trên không kiêu căng, ngôi cao mà không nguy hiểm, ở vị trí rất cao mà không bị nguy hiểm. “Tiết chế giữ gìn pháp độ, đầy mà không đầy tràn. Tiết chế cẩn độ nghĩa là không xa xỉ, không nên phóng túng, đều ở trong từ “kiêu thái” này. Không nên phạm thói xấu này thì kiêu thái sẽ mất đi.

Mọi người hãy bình tĩnh mà xem một người đã có trung tín thì học vấn và sự nghiệp của họ mới có thể thành tựu. Lấy học vấn ra mà nói, chúng ta học đạo của Thánh Hiền phải tận tâm tận lực vì dân tộc, phải kỳ vọng bản thân mình là rường cột của dân tộc, thậm chí là phải vì thế hệ sau này mà đào tạo ra những trụ cột. Đây là trung. Những người có sự kỳ vọng như thế, họ học tập không cần ai thúc đẩy. Đôi vai này của ta là phải gánh vác sự truyền thừa của dân tộc.

Sự truyền thừa của văn hóa là “trung” và “tín”. “Tín” của tổ tiên chúng ta không chỉ là tín ở trên hành vi. Bản thân đã khởi lên ý niệm này, đã phát điều thệ nguyện này, dù không có bất kỳ người nào biết, thì cả cuộc đời phải tận bổn phận với sự thành tín này. Họ vì sao không có động lực vậy? Một người không có động lực thì “trung tín” không có.

Các vị xem khí phách của Quý Trát qua kiếm: “Thủy ngô dĩ tâm hứa chi”, tâm của ta đã nói với họ. “Khỉ dĩ tử bội ngô tâm tai”, không thể vì cái chết của họ mà làm trái ngược với cái tâm của ta, trái ngược với lương tâm của ta. Trong tâm của chúng ta đã phát nguyện như vậy rồi, cả đời phải tận tâm tận lực đi theo mục tiêu này. Đây là động lực để thành tựu học vấn. Trong gia đình cũng như vậy, các vị phải hết lòng với cha mẹ, hết lòng với người bạn đời, hết lòng với gia đình, thì các vị đã có trách nhiệm rồi. Đối với người bạn đời của mình phải thành tín, bản thân mình phải không có bí mật, nếu không thì sẽ trở nên giả dối, giấu diếm, không thể chí thành cảm thông. Vì vậy các vị xem, “trung tín”, học vấn cũng là như vậy, gia nghiệp cũng là như vậy.

Khổng Lão Phu Tử dạy học, Khổng Lão Phu Tử tứ giáo văn - hành - trung - tín. Khổng môn tứ khoa. Đức hạnh tương ưng với cái hành này. Lời nói; lời nói phải giữ chữ tín, là một chuẩn mực rất là quan trọng. Chánh sự; chánh sự là vì quốc gia phục vụ, hết mực trung thành. Văn học, tinh thần của nó phải tương ưng. Chúng ta xem, văn - hành - trung - tín này. Văn dùng Kinh điển và chánh tri chánh kiến của người lớn, gọi là “phát kỳ mông”. Khi chúng ta chưa đọc Kinh điển, không hiểu rất nhiều đạo lý. Các vị xem, những lời giáo huấn của Phu Tử chúng có thứ tự “phát kỳ mông”. Chúng ta mê muội, dựa vào Kinh điển để biết được đúng - sai, thiện - ác, tà - chánh. Đây là phần “văn”. Hành “tích kỳ đức”. “Hành” là đức hạnh. Đức hạnh phải không ngừng tích lũy; đừng thấy việc thiện nhỏ mà không làm, đừng thấy việc ác nhỏ mà làm. Vì vậy, cái “hành” này phải “tích kỳ đức”. Trung “lập kỳ tiết”. Phải có tiết khí, “lập kỳ tiết”. Tín “toàn kỳ trung”. Một người có thái độ thành thực giữ chữ tín, cả cuộc đời của họ phụng hành lời giáo huấn của Thánh Hiền, tiến thêm bước nữa là họ thực hiện lời nguyện họ đã phát. Đây là “toàn kỳ trung”.

Các vị xem Tử Lộ trả lời Phu Tử: “Lời giáo huấn của Ngài, cả cuộc đời phụng hành”. Ông chết vì bị sát hại, ý tứ cuối cùng lúc lâm chung là điều chỉnh cái mũ cho ngay ngắn. Ông nói: “Phu Tử dạy tôi mũ phải ngay ngắn”­­­. Các vị xem, ý niệm trước khi chết vẫn vâng theo lời giáo huấn của người thầy. Cái tâm này thật là hiếm có! Cho nên “toàn kỳ trung” có thể thành tựu cho đức hạnh của họ được hoàn mỹ. Đây là cả một sự hướng dẫn tu học “văn - hành - trung - tín”. Tứ khoa: đức hạnh - ngôn ngữ - chánh sự - văn học, đức hạnh bày ra ở trước mắt, vì sao vậy? Vì đây là cái gốc. Cái gốc là ở đức hạnh, cái ngọn là văn học, nói từ gốc đến ngọn là rất hợp lý.

*************

Kinh văn: “Thiên tử không nói những lời bông đùa. Một khi đã mở miệng nói ra đều có sử quan ghi chép lại, rồi dùng lễ nghi để hoàn thành nó, dùng trống nhạc để ca tụng nó”.

Đây là một tích truyện vào thời Chu Thành Vương, đời nhà Chu. Chúng ta thấy đoạn cuối cùng của chương này là “Đường thúc ngu giả”. Đường Thúc Ngu, “Chu Thành Vương đệ dã”, em trai của Chu Thành Vương, đúng vào hôm Thành Vương và Thúc Ngu đi chơi. Thành Vương là thiên tử, tuy vẫn là trẻ con, nhưng đứa trẻ là thiên tử. Đang chơi đùa, Chu Thành Vương cắt cây bào đồng thành hình dạng của viên Ngọc Khuê. Cắt xong, đứa trẻ thích thú cắt thành viên Ngọc Khuê, sau đó đưa cho Thúc Ngu: “Này cầm lấy, ta cấp cho ông một mnh đất”, liền đưa cây bào đồng gọt thành viên Ngọc Khuê cho Thúc Ngu. Kết quả là viên sử quan ghi chép lại, sau đó nói với Chu Thành Vương: “Thưa Thành Vương! Khi nào thì tiến hành ban thưởng? Ngài nên chọn ngày tốt đi, phải phong thưởng chứ!. Rốt cuộc Thành Vương nói: “Ta đùa với ông ấy thôi, không phải chuyện thật, chỉ là đùa với ông ấy. Kết quả là sử dật viết chính là câu nói này: “Thiên tử vô hí ngôn”, thiên tử thì không có nói đùa.

Thưa chư vị đồng đồng học, chẳng lẽ thiên tử không được hí ngôn sao? Học vấn đạo đức của chúng ta không phải là vì đùa giỡn mà đánh mất hay sao? Đùa giỡn đến mất thận trọng. “Đạo ấy là cái không thể rời ra được phút chốc vậy. Các vị đùa giỡn, nói thật đối với người là không có đủ sự cung kính, đúng không? Học vấn là sự cung kính thành tâm.

Tôi đã giảng xong đoạn này, các vị mỗi ngày không nên xụ mặt xuống để cho người ta nhìn. Sự đùa giỡn mà tôi vừa nói nghĩa là các vị không nên đem người khác ra đùa giỡn. Đối với mọi người các vị không cung kính như vậy, điều này sẽ trái ngược lại với đạo. Hóm hỉnh thì có thể, có thể hóm hỉnh một chút. Hóm hỉnh với chính mình chứ không phải với người khác. Cho nên tất cả đều phải cung kính, đối với mọi người đều nên có thái độ này. Cho nên “thiên tử vô hí ngôn”, “tả sử ký ngôn, hữu sử ký sự”. Lời nói, hành động đều được ghi lại, phải chịu trách nhiệm với ngàn đời vạn kiếp sau này.

Thưa chư vị đồng học, chúng ta có chịu trách nhiệm với ngàn đời vạn kiếp sau này không? Ngay đời này phải thành tựu đức hạnh, sửa đổi thói quen xấu. Sự nghiệp này có lớn lao không? Lớn hơn bất kỳ sự nghiệp nào ở trên thế gian này, đúng không? Những người thành công này đều rất cung kính, cẩn thận. Hơn nữa, huống hồ chi trong đời này của chúng ta muốn thành Thánh, thành Hiền, vì vậy phải luôn luôn duy trì cái tâm cung kính này.

Thiên tử vô hí ngôn, ngôn tắc sử thư chi”, lời nói ra liền được sử quan ghi chép lại. “Lễ thành chi”, cử hành lễ nghi, thận trọng thực hiện. Như vậy hoàng đế nói chuyện phải vô cùng thận trọng, hễ nói ra thì đó là quy củ của thiên hạ. “Lễ thành chi”, lập tức thực hành lời nói của thiên tử. “Nhạc ca chi”, các vị đang ở trong nghi lễ tấu nhạc, là âm nhạc nghiêm túc trang trọng sẽ có sự thu nhiếp vô cùng mạnh mẽ đối với mọi người. Cấp dưới bẩm báo sự việc với hoàng thượng thì không dám xem thường, rất thận trọng để thực hiện tốt. “Ư thị toại phong thúc ngu ư đường”, đem đất của nhà Đường cấp cho Thúc Ngu là em trai của ông. “Quân vô hí ngôn”, vì vậy hôm nay trong lời nói của chúng tôi làm cho mọi người không được vui vẻ, có đụng chạm, vẫn là phải xét lại mình. Thái độ của bản thân không được thỏa đáng, đồng thời có lúc thích đùa giỡn, đùa giỡn đến cuối cùng chắc chắn mất đi chuẩn mực, rốt cuộc là bạn bè tốt từ đó không còn gặp mặt nữa. Đùa giỡn quá đáng thì rất phiền phức. Các vị nói tôi đùa giỡn không nên quá mức là được rồi, có được hay không? Có trái tim thì nhất định sẽ gặp phải việc thái quá, làm gì có sự khống chế tốt như vậy. “Không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm”, “thánh hiền và kẻ điên chỉ khác nhau ở một niệm”. Phản tỉnh bản thân thì phải bắt đầu từ chỗ khởi tâm động niệm.

Được rồi, hôm nay xin giao lưu với mọi người đến chỗ này! Xin cám ơn mọi người!

Chia sẻ học tập “Quần Thư Trị Yếu 360” (tập 27 và 28)

Giảng ngày 28 tháng 05 năm 2011 tại Trung tâm Giáo dục Văn hóa Trung Hoa Malaysia.

Người giảng: Thầy giáo Thái Lễ Húc

Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ, Mộ Tịnh Cư Sĩ, Phước Tịnh Cư Sĩ

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 110


Hôm nayHôm nay : 3092

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 189324

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 11152026

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?