Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Quần thư trị yếu 360

Quần Thư Trị Yếu 360 - Thầy Thái Lễ Húc giảng (Tập 23 - 24)

Thứ bảy - 26/08/2017 16:11

TU THÂN - TỀ GIA - TRỊ QUỐC - BÌNH THIÊN HẠ

Các vị trưởng bối tôn kính, các vị học trưởng, xin chào mọi người!

Chúng ta tiếp theo tiết học trước, đến các phần như “quân đạo - tu thân - cải quá”. Câu nói này là trong “Hán Thư”. Những vị vua thánh minh ngày trước họ rất sợ việc không thể hiểu thấu được những lỗi lầm của mình, bởi vì hiểu được lỗi rồi thì có thể sửa đổi, mới có thể chân thật làm tốt công việc chính trị, lợi ích cho lão bá tánh, cho nên dùng tâm lo sợ đó để chăm lo cho lão bá tánh, để làm tốt mỗi một việc làm. Quân vương thiên tử ở trong thâm cung thật không dễ gì hiểu được tình hình trị nước, cho nên rất nhiều phương thức đều là vì muốn có thể hiểu được tình trạng hiện tại, tình hình thực tế của lão bá tánh.

Vừa rồi chúng ta vừa cùng nhau xem qua trong Kinh văn đã nói: “Sử quan có mặt ghi chép lỗi lầm”, các quan sử luôn có mặt ở trước và sau, bên trái và bên phải của vua để ghi chép lại mỗi lời nói việc làm của vua, vua mới cẩn thận cảnh giác không dám phóng dật. “Quan bên trái ghi chép việc làm, quan bên phải ghi chép lời nói”. Kỳ thực, mỗi một người chúng ta đều là vị vua của chính cuộc đời mình, làm chủ tể cuộc đời của chính mình, phải khiến cuộc đời này đi qua một cách có ý nghĩa. Có câu: “Đời người xưa nay ai không chết, hãy để lòng son chiếu sử xanh”. Giả như có được tâm cảnh như vậy, hy vọng rằng cuộc đời này chân thật đối với gia đình, đối với xã hội, đối với quốc gia dân tộc có thể làm ra sự cống hiến chân thật, thì trước tiên phải thành tựu đức hạnh, lời nói việc làm đều không thể phóng dật, đều xem như luôn có người theo bên mình để ghi chép lại lịch sử của mình. Không chỉ quân vương phải có thái độ cảnh giác, thái độ hoang mang lo lắng như vậy, kỳ thực mỗi một người khi kinh doanh cuộc đời của mình đều là như vậy. Có tâm thái như vậy thì sẽ có được công phu “thận độc”, nghĩa là khi không có một ai bên cạnh đều phải yêu cầu chính mình cẩn thận mỗi một cử chỉ hành động. Đây gọi là “Sử quan có mặt ghi chép lỗi lầm”.

“Nhạc công đọc tụng thơ từ khuyên răn. Chữ “công” là ý nói những thầy nhạc công. Những vị thầy nhạc công này thật không đơn giản, viết ra những ca khúc để thức tỉnh nhà vua, tình hình trị nước của vua. Chúng ta lúc trước cũng đã cùng nhau học tập qua, nhạc công của Ngụy Văn Hầu là nhạc sư Sư Kinh. Có một hôm đang diễn tấu một khúc nhạc, Ngụy Văn Hầu đột nhiên nói: “Việc khiến cho ông cảm thấy vui nhất chính là tất cả thần tử đều nghe theo ông”, ông cảm thấy đây là sự việc khiến ông hoan hỷ nhất. Chính ngay lúc Ngụy Văn Hầu đang ngâm nga đoạn này thì nhạc sư Sư Kinh đột nhiên cầm cây đàn lên, nhào người qua tông vào Ngụy Văn Hầu. Việc xảy ra đột ngột khiến Ngụy Văn Hầu trở tay không kịp. Trong lúc né tránh tự ông cũng bị té ngã, sau đó những viên ngọc đính ở trên mão cũng bị rơi xuống đất. Ngụy Văn Hầu là vua, Sư Kinh là thần tử mà lại đi tông vào ông như vậy, đương nhiên hoàng thượng vô cùng phẫn nộ. Ngay lúc đó lấy lại tinh thần, câu đầu tiên là nói: “Bề tôi tông vào hoàng thượng thì đáng tội gì đây?”. Những thần tử ở bên cạnh đều nói: Tội đáng phải nung nấu!” (nung nấu nghĩa là đem nấu trên lửa cho đến chết). Bởi vì nếu như tổn thương đến hoàng thượng thì thuộc về tội danh rất lớn, cho nên những quân sĩ ở bên cạnh đã bắt giữ lấy Sư Kinh. Sư Kinh là người mù. Bởi vì làm về âm nhạc, hy vọng có thể làm ra những bài nhạc hay để giáo hóa nhân tâm, lại sợ đôi mắt của chính mình bị phân tán sức tập trung chú ý, muốn hoàn toàn có thể dùng sự nhạy bén của lỗ tai để mà cảm nhận âm nhạc, để làm tốt các nhạc khúc, nên đã tự đâm cho mình mù đôi mắt. Việc xả mình vì người của người xưa khiến cho chúng ta rất khâm phục. Bởi vì đôi mắt của ông đã mù, ông chỉ có thể nghe được âm thanh của hoàng thượng và sau đó đã nhào người qua. Kết quả là quân sĩ đã bắt giữ Sư Kinh. Khi bị dẫn đi chấp hành hình phạt, đột nhiên vị Sư kinh này đã nói ra một câu với một trạng thái rất tự tại. Ông nói: “Hoàng thượng! Hạ thần sắp chết rồi, có thể nào trước khi thần chết, nghe thần nói một câu?”. Hoàng thượng nói: “Được rồi! Khanh sắp phải chết rồi, khanh muốn nói điều gì hãy nói đi!”. Ông nói: “Bẩm hoàng thượng! Thần nghe nói, ngày trước, khi Hạ, Kiệt, Thương, Trụ làm thiên tử, tất cả mọi người đều nghe họ; còn Nghiêu Thuấn - những vị Thánh vương như vậy thì đều sợ thần tử không nói ra vấn đề của mình, họ cũng rất e dè lo lắng cho nên tiếp nhận những lời khuyên can, e sợ bản thân mình làm sai, nhưng những vị vua hung bạo kia thì đều là bạo ngược cố chấp, việc gì cũng phải nghe lời họ. Bởi vì vừa rồi hạ thần cảm thấy dường như là đã nghe được Hạ, Kiệt, Thương, Trụ đang nói chuyện, cho nên hạ thần muốn nhào người tông vào Hạ, Kiệt, Thương, Trụ, chứ không phải là muốn tông vào hoàng thượng”. Những lời này vừa nói xong, do những hoàng đế ngày xưa đều đọc sách Thánh Hiền, cho nên họ đã có trồng thiện căn, gặp được duyên có người nhắc nhở họ thì họ liền tiếp nhận được, liền sanh tâm hổ thẹn, đề khởi được chánh niệm: “Phải rồi, thái độ vừa rồi của mình là không đúng!”. Sau đó nhà vui nói: “Được rồi! Thả Sư Kinh ra đi, đây không phải là lỗi của Sư Kinh mà là lỗi của trẫm”. Không những là thừa nhận sai lầm, đáng quý là ở chỗ nào vậy? Đã hạ lệnh đem cây đàn của Sư Kinh (bởi vì lúc tông vào người có thể là đã làm hỏng cây đàn rồi): “Hãy đem cây đàn này đặt ở cửa thành, để người trong thiên hạ biết được lỗi lầm của ta, luôn tiện cũng là nhắc nhở cho ta. Còn cái mão này đã bị hư hỏng thì cũng không cần phải sửa lại, để cho mỗi một lần đội cái mão này lên nhìn thấy mấy viên ngọc bị mất thì ta sẽ nhớ lại lỗi lầm mà hôm nay đã phạm”. Cho nên, tâm cảnh của những Thánh vương này rất đáng quý, mà những thần tử này cũng không ngại cái chết để khuyên hoàng thượng. Việc khuyên bảo hoàng thượng là một tấm lòng trung thành và cũng là một tấm lòng nhân ái, bởi vì hoàng thượng mà sai lệch điều gì thì người chịu khổ chịu nạn chính là lão bá tánh. Trung với vua, trung với dân và đất nước, cho nên cũng đều rất chính trực, trung thành.

Bởi vì những nhạc công này biết sáng tác ra những ca khúc nhắc nhở, khuyên bảo hoàng thượng, cho nên mới nói là “nhạc công đọc tụng thơ từ khuyên răng, bá tánh thảo luận trên đường”. Những câu chuyện mà người dân ở trên đường bàn luận thì hoàng thượng đều thông qua một số phương pháp để thấy biết được, thậm chí là những biển chỉ dẫn, biển chỉ đường đều có thể để cho người dân phản ánh dân tình lên đó. “Thương nhân nghị luận trong chợ”, thương nhân và những người lữ hành đang nghị luận ở trên chợ đều có thể khiêm tốn để nghe biết những tình trạng này, như thế quân vương mới nghe thấy được những sai sót của mình. Từ trên thái độ của quân vương. chúng ta cũng suy nghĩ lại việc tự mình tu thân, tự mình tề gia, tự mình chăm lo cho sự nghiệp.

Ví dụ như bạn chăm lo cho sự nghiệp, bạn là ông chủ, bạn là chủ quản đơn vị thì phải có thể tiếp nhận rộng rãi lời khuyên chính đáng, cũng phải có thể nắm rõ được lỗi lầm của mình thì mới có thể làm tốt công việc. Vào lúc này có thể nghe thấy lỗi lầm của chính mình mà có thể sanh tâm hoan hỷ, bởi vì biết lỗi lầm thì mới có thể làm được tốt. Không sẵn lòng nghe lại lỗi lầm thì sỉ diện vẫn làm chủ. Vẫn còn rất sỉ diện thì có thể sự tổn hại chính là đức hạnh của chính mình, tổn hại chính là lợi ích của đoàn thể. Vì vậy, Thánh Hiền biết phải thành tựu chính mình, thành tựu người khác, quyết định không che giấu lỗi lầm của chính mình, thậm chí là hy vọng người khác chủ động đến nhắc nhở vấn đề của họ. Cho nên người biết kinh doanh, chăm lo sự nghiệp đều phải có sự độ lượng rộng rãi, lắng nghe lời thật lòng, không thể che đậy cảnh thái bình giả tạo để nghe lấy những lời nói lọt tai, vậy thì phiền phức rồi. Bao hàm cả việc chúng ta tự mình chăm lo cho gia đình cũng phải chân thật nghe lấy lời khuyên của một nửa còn lại, hoặc giả là nghe lời khuyên của cha mẹ, thậm chí là bạn bè nhắc nhở chúng ta, đều phải trân trọng. Bạn không thể cảm thấy thẹn quá hóa giận rồi nói: “Chuyện nhà tôi anh đừng có xen vào!”, vậy thì phiền phức rồi. Nghe lỗi giận, nghe khen vui. Bạn xấu đến, bạn hiền đi, bên cạnh sẽ đều là những người nịnh hót bợ đỡ. Phải nên “nghe khen sợ, nghe lỗi vui”. Chân thật là “người hiền lương” thì những người thân bạn bè chúng ta liền sẽ hoan hỷ mà sống chung với chúng ta. Cho nên nghe lời khuyên của người khác, lắng nghe người khác chỉ ra lỗi lầm cho chúng ta, thì đạo nghiệp của chúng ta sẽ có được sự giúp sức rất lớn. Họ nói đúng thì hãy mau mau sửa đổi. Nếu họ nói không đúng, chúng ta cũng không phản bác, bởi vì một khi phản bác thì về sau người ta sẽ không sẵn lòng nói cho ta nghe nữa. Họ nói không đúng thì cũng giống như khảo nghiệm chúng ta. Khảo nghiệm điều gì? Đó là: “Người không biết thì không giận”. Người ta nói không đúng mà chúng ta vẫn không có một ưu tư nào, vẫn có thể tiếp nhận. Họ giả như thật sự là nói chưa đúng, trải qua một thời gian lâu ngày sẽ thấy rõ lòng người, họ sẽ phát hiện ra. Ngày trước nói lỗi lầm của chúng ta nhưng lỗi đó chúng ta không có phạm, họ sẽ suy nghĩ: “Mình khuyên mà người ta vẫn không phân bua biện bạch gì”. Sự tu dưỡng như vậy càng nâng cao thì được sự tín nhiệm và bội phục của bạn bè, như vậy mới là dùng “đức” để phục người.

Chúng ta thấu hiểu nhân tình thế thái, khi bạn bè người thân chúng ta sẵn lòng khuyên bảo, họ cũng đã đề khởi dũng khí. Họ chịu nói thì đã rất đáng quý rồi. Khi họ nói mà chúng ta lại ra vẻ trầm ngâm, còn phản bác lại, sẽ khiến họ không dám nói nữa, điều đó sẽ chướng ngại lời thẳng thắn của họ. Chúng ta phải có thể hiểu, kỳ thực họ muốn nói với chúng ta thì cũng đã phải dồn nén dũng khí rất lớn rồi, cho nên khi họ nói thì cũng không nên chống đối lại, hãy để họ mở rộng lòng ra mà nói. Dù nói không đúng thì cũng không sao cả, hãy bao dung, cảm kích tấm lòng quan tâm yêu thương của họ đối với ta thì mới đúng. Lâu ngày dài tháng người ta nói sai về chúng ta thì cũng đừng để bụng tính toán, rồi họ sẽ khâm phục đức hạnh của bạn. Vả lại, về sau khi họ nói với chúng ta điều gì cũng sẽ rất thoải mái, sẽ không băn khoăn, sẽ chân thật là “người hiền lương, dần gần gũi”.

“Nếu bao dung, đức càng lớn”, có bao dung thì phước sẽ lớn. Phước lớn nhất là luôn có người chịu khuyên chúng ta, chúng ta lại chịu lắng nghe, người như vậy là có đại phước. Không chỉ là người khác khuyên họ chịu nghe, mà khi đối diện với Kinh điển, đó là sự khuyên bảo của Thánh Hiền, tổ tông đối với chúng ta. Đọc mỗi một câu Kinh văn đều cảm thấy chính mình thật sự có thể tiếp nhận được, vậy thì người đó đang kinh doanh cuộc đời này của mình bằng trí huệ của 5.000 năm, làm gì có đạo lý cuộc đời này không có thành tựu được.

Tiếp theo, Kinh văn nói: “Nghe thấy mình sai, thì liền sửa đổi”. Thông qua những phương pháp như vậy họ có thể nghe được lỗi lầm của mình. Càng quan trọng hơn, sau khi nghe được thì phải đem lỗi lầm sửa trở lại.

Vào thời Đường Thái Tông, hoàng đế trị vì thiên hạ đặc biệt coi trọng những lời khuyên can của hạ thần đối với mình. Sau khi khuyên bảo ông thì ông cũng thật sự điều chỉnh bản thân mình để sửa đổi trở lại, ông chân thật là chịu “nghe điều sai của mình”, ngay lúc đó liền “sửa đổi sai lầm”. Vả lại, khi khuyên nhất định phải phù hợp với đạo nghĩa, cho nên ông nhìn thấy việc thích hợp đạo nghĩa thì làm theo. Chỉ cần thần tử nói đó là đạo nghĩa, sau khi nghe xong thì lập tức sẽ làm theo, cho nên họ có được thiên hạ dài lâu. Họ có thể sửa lỗi, có thể hành đạo nghĩa, vậy thì nhất định sẽ có được lòng dân. Việc này là nguyên nhân để có thể có được thiên hạ lâu dài. Nguyên nhân rất quan trọng là đang sửa đổi, đang hướng thiện, đang hành nghĩa.

Khi Trinh Quán năm thứ hai đã xảy ra một sự việc, một tình huống có thật. Có một vị quan triều Tùy, tên là Trịnh Nhân Cơ. Con gái của ông khoảng mười sáu - mười bảy tuổi, phẩm đức và dung mạo đều vô cùng xuất chúng, dường như khi đó không có người nào có thể so sánh được với người con gái này. Kết quả là Văn Đức hoàng hậu đã tìm đến người con gái này, giống như là giúp hoàng đế tuyển chọn một người phi tần tốt. Kết quả, đã quyết định sẽ nạp làm “Sung Hoa” ( “Sung Hoa” là một chức vị của Phi Tần trong hậu cung, tương đương với chức quan nhị phẩm, cũng là một phi tần rất quan trọng). Kết quả chiếu thư cũng đã viết rồi, nhưng vị Sử quan sắc phong thì vẫn còn chưa đi đến nhà của cô gái. Ngụy Trưng biết được sự việc người con gái họ Trịnh này đã được hứa hôn cho nhà họ Lục, thuộc dòng dõi họ Lục, ông liền vội đi tìm Thái Tông hoàng đế để bẩm báo sự việc này. Đương nhiên chúng ta biết Ngụy thừa tướng khuyên ngăn cũng rất có trí huệ, không phải vừa bước vào đã nói: “Hoàng thượng, người sao lại đi giành vợ của người ta chứ!”, không thể nào nói như vậy được, mà nhất định sự khuyến cáo đó đều có lý, rất khẩn thiết, tuần tự tiến dần. Trước tiên, ông từng bước đề khởi lên chánh niệm chánh khí cho hoàng thượng. Ông nói: “Bệ hạ, người là mẫu nghi thiên hạ, là cha mẹ thiên hạ, cho nên phải luôn chăm lo cho bá tánh, lo cái lo của họ, vui niềm vui của họ, đây mới là tâm cảnh của việc làm cha mẹ người ta. Mạnh Tử nói: “Người nào lo nỗi lo của dân thì dân sẽ lo nỗi lo của người đó”. Bệ hạ luôn lo lắng chiếu cố đối với bá tánh, bá tánh nhất định cũng sẽ vì thiên tử mà lo nghĩ, vì thiên tử mà ra sức, nghĩa tình này thật ra cũng rất tự nhiên. Người thương yêu họ, đương nhiên họ sẽ thương yêu người. Người vì họ mà lo lắng, đương nhiên họ cũng sẽ san sẻ lại với người. Người vui với niềm vui của dân, dân cũng sẽ vui với niềm vui của người đó. Người luôn luôn vì niềm vui và hạnh phúc của lão bá tánh, vậy lão bá tánh đương nhiên cũng mong muốn vị vua của mình được hạnh phúc vui vẻ. Nếu có thể luôn biết lo nỗi lo của dân, vui niềm vui của dân, việc này chính là nguyên nhân quan trọng để có thể có được lòng của thiên hạ. Dĩ nhiên, chúng ta tin rằng Thái Tông hoàng đế khi nghe những lời này nhất định sẽ luôn gật đầu: “Nói rất hay, ái khanh nói phải lắm!”.

“Tự cổ hữu đạo chi chủ”, nghĩa là những quân vương có đạo đức. Bạn xem, câu câu đều là khuyên bảo hoàng đế, đều là lấy tâm của bá tánh làm tâm, đặt mình vào vị trí bá tánh để mà suy nghĩ. Những vị quân vương này xây dựng cung điện nhất định suy nghĩ đến nơi ở của nhân dân có được an ổn hay không, khi họ ăn thức ăn thì nhất định nghĩ đến bá tánh có phải chịu đói chịu rét hay không, chính là trong cuộc sống luôn luôn nghĩ đến sự an nguy của lão bá tánh. Mà trọng điểm là chính mình khi ở cùng với các thần thiếp, đặc biệt là cùng với vợ của mình cũng phải suy nghĩ đến lão bá tánh: “Không biết vợ của họ, gia đình của họ có an định hay không?”. Việc này cũng nêu ra hoàng thượng đang chung sống rất tốt với vợ của mình cũng phải nên khiến cho mỗi gia đình lão bá tánh đều có được niềm vui của thiên luân.

“Nhân chủ chi thường đạo dã”. “Nhân chủ” chính là luôn luôn phải suy nghĩ cuộc sống của mình tốt rồi thì cũng suy nghĩ đến phải khiến cho cuộc sống của lão bá tánh được tốt. Đoạn đạo lý này xem như đã nói xong, chúng ta xem tiếp.

“Người con gái họ Trịnh hiện tại từ sớm đã được hứa hôn cho người ta, mà bệ hạ muốn nạp phi lại, không có điều tra cho rõ ràng. Giả như, tin tức này lan truyền ra ngoài thì người trong thiên hạ đều nghe được sẽ nói: “Ồ, sao hoàng đế lại đi giành vợ của người ta, việc này không phải là việc mà mẫu nghi trong thiên hạ nên làm””. Dĩ nhiên Ngụy thừa tướng cũng ứng đối tiến thoái rất khéo léo, ông liền nói tiếp: “Hạ thần nghe được cũng không nhất định là hoàn toàn chính xác, nhưng mà nếu đã có truyền nói như vậy thì rất có khả năng sẽ làm hao tổn đến thánh đức của hoàng thượng, cho nên tình hình này cần phải được đi tìm hiểu cho rõ ràng triệt để. Bởi vì hoàng thượng hiện tại nhất cử nhất động đều được các quan sử ghi chép lại. Nếu như hoàng thượng cả đời đều tốt nhưng chỉ vì sự việc này có thể sẽ một lần sảy chân mà ân hận nghìn đời, cho nên xin người phải lưu ý, phải suy nghĩ cho rõ ràng”. Thái Tông hoàng đế nghe đến đây thì vô cùng kinh hãi, lập tức viết một bức thư muốn làm sáng tỏ sự việc này, liền tự mình phản tỉnh, tự mình kiểm điểm, sau đó cho ngừng việc sắc phong lại. Vì quan sắc phong vẫn chưa đi, sau đó đã ra lệnh mau đưa người con gái này trả lại cho dòng tộc mà cô được hứa gả, không thể tiến nạp. Kết quả là Tả Bộc Xạ, Phòng Huyền Linh, Trung Thư Lệnh, Ôn Ngạn Bác, lễ bộ thượng thư, ngự sử đại phu Vi Đĩnh,… (những người này đều là những vị quan lớn quan trọng) nói: “Việc cô con gái họ Trịnh đã hứa hôn cho nhà họ Lục dường như là không có chứng cứ rõ ràng nào, vả lại hoàng thượng cũng đã ra chiếu thư rồi, có lẽ việc hôn sự này không thể dừng lại được rồi”. Nhiều vị đại thần như vậy đều tán thành, vẫn là nên lấy cô ấy, nói rằng không có chứng cứ gì rõ ràng cả. Lúc đó, lại thêm nhà họ Lục (nơi được họ Trịnh hứa hôn gả con gái) đã dâng tấu lên hoàng thượng. Trên tấu biểu nói là: “Cha của hạ thần có qua lại với nhà họ Trịnh, có giúp đỡ lẫn nhau, nhưng không hề nghe nói đến sự việc kết thông gia này”. Ý nói cho hoàng thượng biết rằng người này và cô gái đó không có sự việc hôn nhân gì cả, nghĩa là hoàng thượng có thể lấy cô gái này. Vả lại, người này còn nhấn mạnh có thể là người ngoài không biết rõ cho nên đồn thổi mà thôi. Ngoài ra, cũng có nhiều quan đại thần đều khuyên hoàng thượng nên tiếp tục việc hôn sự này. Đường Thái Tông nghe nhiều người nói như vậy nên cũng có một chút nghi hoặc, lại đi hỏi Ngụy Trưng: “Khanh xem, mọi người đều nói là không có vấn đề gì cả, ngay cả nhà họ Lục đó người ta cũng nói Trịnh gia không có hôn sự gì với họ”. Kết quả Ngụy Trưng đã trả lời: “Hãy để thần phân tích sự việc này. Nhà họ Lục một mực nhấn mạnh họ và Trịnh gia không có hôn ước, phản ứng đó của họ có thể lý giải được, bởi vì họ nghĩ biết đâu hoàng thượng cũng có thể sẽ giống như Thái Thượng Hoàng thì sao. Bởi vì khi xưa Thái Thượng Hoàng khi còn làm hoàng đế đã lấy vợ của thuộc cấp (là lấy vợ của Tân Xử Kiệm để nạp làm thiếp), sau đó sau khi người thiếp này được sủng ái, cũng đúng lúc Tân Xử Kiệm đang làm quan phục vụ dưới quyền của Thái Tử ở Đông cung, có nhiều lúc lại gặp mặt hoàng đế là Đường Cao Tổ. Đường Cao Tổ nhìn thấy Tân Xử Kiệm thì không được vui, bởi vì vợ của Tân Xử Kiệm hiện nay đang được ông sủng ái. Nhìn thấy ông chồng trước này trong lòng không thoải mái, kết quả liền điều chuyển Tân Xử Kiệm ra khỏi cung, điều về huyện Vạn Niên. Đương nhiên Tân Xử Kiệm cũng ngày đêm lo lắng hoảng sợ tai họa sẽ giáng xuống đầu ông. Bởi vì đã từng có tiền lệ như vậy cho nên nhà họ Lục cũng rất lo lắng, không biết hoàng đế này có giống người cha khi xưa hay không, đến lúc đó lại thù hằn. Hoàng đế lại nghĩ, ta lấy người vợ này mà đáng lẽ phải gả cho người khác, đến lúc đó thì lại giáng họa cho chúng ta, vậy thì thật là xui xẻo. Cho nên họ chắc hẳn sẽ suy nghĩ về sau có thể bị nạn, vì vậy mau mau thuận theo ý của hoàng đế vậy, cứ để hoàng đế lấy người vợ này đi”. Sau khi Thái Tông nghe đến chỗ này thì liền cười: “Sở dĩ ý kiến của người ngoài có tình trạng như vậy cũng rất bình thường, có thể mọi người cũng là muốn thuận theo ý của ta”. Vả lại, những lời mà hoàng đế nói ra thì người ta cũng chưa hẳn đã tin, dù người đi giải thích thì người ta cũng chưa chắc đã tin, cho nên hoàng đế liền lập tức viết chiếu thư. Sau khi nghe xong lời của Ngụy Trưng, hoàng đế liền hạ chiếu thư: “Nay nghe được chuyện của cô con gái họ Trịnh đã được hứa hôn cho Lục gia, cũng đã nhận lấy lễ vật của người ta, trẫm ngày trước ra chiếu thư là bởi vì trẫm chưa biết rõ về tình hình, đây là lỗi của trẫm, cũng là lỗi lầm của các vị quan khanh, vì vậy sự việc này dừng lại, không thể tiếp tục được nữa”. Chiếu thư này vừa hạ thì tất cả lão bá tánh đều hoan hỷ, đều vỗ tay bảo hay.

Mọi người xem, nếu thật sự lấy cô gái đó thì lão bá tánh có bàn tán sự việc đó hay không? Sao lại có vị Thánh vương ô uế vậy chứ, nói thẳng ra thì sự việc này có lẽ là sự thật. Cho dù không phải là thật thì cũng không nên làm, vì sao vậy? Không phải thật sự người ta đều đã đồn đại như vậy sao, không có nhưng có thể người ta hiểu lầm là có, người là quân vương thì phải nên tạo dựng lòng tin cho thiên hạ, sao lại vì một chữ “sắc” mà làm mất đi chữ tín của chính mình. Vì vậy Thái Tông liền có thể hiểu được tình hình, điều chỉnh bản thân, sửa đổi bản thân, việc này là vô cùng đáng quý. Sở dĩ có thể trở thành người chủ thiên hạ đều là do có mối quan hệ trực tiếp với việc dũng cảm sửa sai của ông.

Chúng ta trong phần nói về “quân đạo” này thường hay lấy tấm gương của Thái Tông, khiến cho chúng ta sâu sắc hiểu là “Trinh Quán chi Trị” của Thái Tông không phải ngẫu nhiên, mà là tu thân làm gốc.

Tiếp theo đoạn trước, trong “Thư Kinh” cũng có một câu, đó là “ngôn chi giả vô tội, văn chi giả túc dĩ giới”. Bất luận là lời nói của thần tử hay là lão bá tánh, tình trạng của việc phản ánh cho dù có chỗ chưa đúng nhưng tuyệt không giáng tội họ. “Ngôn chi giả vô tội”, nhưng người nghe thì “văn chi giả túc dĩ giới”, hoàng đế cũng vậy, hoặc là người làm quan làm lãnh đạo nghe cũng vậy, đều đủ để có thái độ tự mình cảnh giác.

Tiếp theo, câu sau cũng là câu Kinh sửa lỗi ở trang 803, quyển thứ sáu.

Kinh văn: “Điều kiêng kị lớn nhất của con người là biết mình sai nhưng không chịu sửa, dẫn tới làm tổn thương thân tâm, thậm chí đánh mất sanh mạng. Hành sự như vậy có thể gọi là điều đại kị của con người”.

Chúng ta nhìn thấy chữ “đại kỵ” này thì hiểu được, đời người giả như phạm phải những vấn đề này có thể cuộc đời sẽ bị hủy hoại mất, cho nên những cấm kỵ này đều là ơn trạch của người xưa đối với chúng ta, vì yêu thương mà nhắc nhở chúng ta. Chúng ta cũng từ trong câu Kinh mà thể hội điều kiêng kỵ lớn nhất là biết lỗi lầm của chính mình nhưng lại không chịu sửa đổi. Mấy câu này của chúng ta kỳ thực là trọng điểm của sửa lỗi. “Sai mà không chịu sửa, vậy mới đúng gọi là sai”. Khi có lỗi lầm mà không chịu sửa đổi, đây chân thật là đại lỗi lầm.

Vả lại, con người không sửa đổi thì tâm tánh sẽ không ngừng đi xuống, tập tánh không ngừng tăng trưởng, vậy thì chắc chắn những ác hành này sẽ không ngừng được tích lũy, đại họa cuộc đời sẽ đến với họ. “Điều thiện không tích chứa thì không đủ để thành danh, điều ác không chất chứa thì không đến nỗi diệt thân”. Không sửa sai, điều ác nhất định sẽ được tích lũy lại hàng ngày. Cho nên điều kiêng kỵ lớn nhất là ở chính mình có lỗi nhưng không sửa, dần dần lỗi lầm này nó sẽ sản sinh ra tác dụng phụ. “Dĩ tặc kỳ thân”, là nhất định sẽ làm tổn hại thân tâm của chúng ta. “Nãi tang kỳ khu”, nghĩa là còn nguy hiểm đến tính mạng, làm tổn hại đến sinh mạng thân thể của mình. Nói như thế nào đây? Chúng ta nếu không sửa lỗi thì linh tánh, đức hạnh đi xuống.

Ví dụ: bạn tham tài, tham sắc, tham ăn uống (chúng ta ngày trước nói đến những giới tham này rồi) đều không muốn sửa đổi, đầu tiên là sức khỏe nhất định không tốt. Buông thả dục vọng thì làm sao có thể tốt được chứ? Không chỉ buông thả dục vọng, trong quá trình buông thả đó nhất định sẽ tạo ác, tạo nghiệp chướng, tội ác chồng chất, đương nhiên sẽ mất đi tuổi thọ, gọi là “đa hành bất nghĩa tất tự tang”, “họa phước vô môn”. Con người tự tạo, vậy làm gì có khả năng không tổn hại thân tâm và nguy hiểm tính mạng chứ? Vả lại, chúng ta hãy thể hội một chút, con người vì sao không có động lực dũng khí để sửa lỗi? Bởi vì tâm trách nhiệm của họ không khởi, tâm hiếu của họ không khởi dậy, họ không có một loại động lực để nỗ lực tiến lên. “Tâm thiện” không khởi lên, “tâm trách nhiệm” không khởi lên, “tâm hiếu” không khởi lên, ngược lại đã tiếp nhận phải sự ô nhiễm dục vọng, họ khống chế chính mình không được thì liền buông xuôi, mặc kệ.

Chúng ta nhìn thấy người trẻ tuổi hiện tại có đang làm những việc tổn hại đến thân và tâm hay không? Có lúc từ mười - mười một giờ đêm chúng ta quan sát thấy có rất nhiều thanh niên đều bắt đầu các hoạt động của mình như ca hát, hò hét rất náo nhiệt, không thèm suy nghĩ đến sự ảnh hưởng đối với cuộc sống của người khác, phóng túng dục vọng. Đây đều là việc bị tổn phước. Nhìn thấy tình trạng như vậy, họ không phải chỉ đến nửa đêm, mà đến tận ba - bốn giờ sáng, đây không phải là việc tổn hại thân thể hay sao? Đảo lộn thói quen sinh hoạt ngày đêm như vậy, có thể hai - ba mươi tuổi thì sức khỏe đã bắt đầu đi xuống rồi. Cho nên, hiện tại bệnh mãn tính cùng các bệnh ung thư mới không ngừng trẻ hóa. Đây là việc chống lại ông trời, buông lung dục vọng, về cơ bản là không khởi tâm hiếu. Việc này cũng phản ánh việc thiếu vắng giáo dục của gia đình và nhà trường trong thời đại này của chúng ta.

Giả như có dạy hiếu đạo, có dạy “hiếu kinh”: “Thân thể tóc da có được từ cha mẹ, không dám tổn hại”, là mở đầu của việc hiếu. Lập thân hành đạo, dương danh hậu thế, làm cha mẹ vinh hiển, đó là chung cuộc của việc hiếu. Nếu họ yêu quý thân thể, yêu quý danh tiết, yêu quý phẩm tánh, thì làm sao lại phóng túng như vậy chứ. Cho nên, thói quen thành tự nhiên, những thái độ làm người quan trọng này phải xây dựng từ nhỏ. Thật sự, những nhận biết của chúng ta hiện nay bởi vì không học tập tốt giáo huấn của lão tổ tông, đã lơ là một cách nghiêm trọng, sau đó lại làm một việc gọi là “mất trâu mới lo làm chuồng”.

Bởi vì sức khỏe hỏng rồi, phẩm đức hỏng rồi, rất có thể chiêu cảm đến đại họa cho cuộc đời. “Hành sự như vậy”, khi có những hành vi này xuất hiện chính là không sửa đổi ở tâm. “Biết ác mà không sửa”, đây là “đại kỵ” của đời người. Cuộc đời cũng bởi vì như vậy mà đọa lạc, thậm chí là dẫn đến đại họa, cho nên những câu này khiến cho chúng ta đề khởi sự sửa sai.

Có một đoạn giáo huấn rất đáng quý: “Trời giáng sự trừng phạt trước tiên đoạt đi khí phách, trời giáng điều phước lành trước tiên khai mở trí huệ”. Thượng đế ở trên trời muốn ban phước cho người nào trước tiên sẽ khai mở trí huệ cho người đó. Những người như thế nào thì ông trời sẽ giáng phước, sẽ âm thầm hộ niệm cho họ vậy? Người “tàm quý”, nghĩa là người có tâm hổ thẹn; người “phấn phát” nghĩa là rất có chí khí, tự lập tự cường, dũng cảm “sửa sai”, đây là điềm lành, “trời sẽ khai trí huệ”. Còn như mỗi ngày đều không biết sửa sai, đây là điềm báo “trời đoạt đi khí phách”, cho nên mỗi ngày đều uể oải lờ đờ, mờ nhạt và mơ hồ, rất lười nhác, không phấn chấn lên được, ăn no rồi thì ngủ, ngủ dậy rồi lại ăn, được ngày nào hay ngày đó, sau đó lại “che giấu” việc làm sai, vẫn là che giấu lỗi lầm của mình, không dám thú nhận. Một người che giấu không thừa nhận thì người khác sẽ không giúp gì được, lại còn tự dối gạt, tự mình lừa gạt chính mình, những điều này chính là “ông trời đoạt đi khí phách”. Kỳ thực, những đạo lý này nếu chúng ta bình tĩnh mà quan sát, một người hoàn toàn không thể nghe lọt những lời khuyên của cha mẹ và người khác, dần dần đôi mắt của họ sẽ ngây dại ra. Một người chịu nghe lời khuyên của cha mẹ, của người khác, chịu nghe lời khuyên của Thánh Hiền thì ánh mắt của họ sẽ sáng rỡ. Vậy vì sao mà ánh mắt lại dần dần trở nên vô thần và ngây dại? Toàn bộ đã bị tập khí chướng ngại mất, đã bị đoạt đi khí phách, hồn phách không biết đã bay đi về đâu rồi.

Cho nên, giả như bản thân chúng ta thường hay đột nhiên thất thần, lờ đờ lẫn thẫn, cứ mơ tưởng đi đâu, mười mấy phút sau mới định thần trở lại, việc này đều là tướng trạng của tội nghiệp. Phải thật cảnh giác! Ngồi nghe giảng mà ngủ gật, không lấy lại tinh thần được, việc này cần phải rút kinh nghiệm xương máu, phải khắc phục.

QUẦN THƯ TRỊ YẾU 360 Tập 24

Tiếp theo, chúng ta xem câu kế tiếp ở quyển thứ chín, trang 1.216. Chúng ta cùng nhau đọc một lần.“Người xưa từng nói có hai việc mà con người khó làm được, vui vẻ tiếp nhận ý kiến của người khác khi chỉ ra sai lầm của mình và biết sửa đổi, rất khó làm được; đem khuyết điểm của mình nói với người khác, cũng rất khó làm được”.

Câu nói này cũng rất triết lý nhân sinh. Chúng ta xem, vừa mới bắt đầu đã nói “người xưa từng nói”, chính là những tổ tiên ngày trước đã để lại cho chúng ta những triết lý nhân sinh quý báu. Cho nên, truyền thống này của dân tộc là một điều rất đáng quý, đó là một dân tộc “hiếu”. “Hiếu” chính là cha con một thể, cha mẹ và con cái gắn bó không thể tách rời, con cháu và tổ tiên mật thiết không thể tách biệt. Tổ tiên, cha mẹ luôn luôn nghĩ đến con cháu, nghĩ đến đời sau, niệm niệm đều vì thành tựu con cháu, cho nên cả nền văn hóa có thể truyền thừa tiếp nối đều nhờ vào hiếu đạo, dựa vào lòng từ ái của cha mẹ đối với con cái. Tất cả nền văn minh cổ trên thế giới đều không còn nữa, vậy vì sao chúng ta vẫn còn truyền thừa được 5.000 năm, hiện tại vẫn chưa suy? Đều là nhờ vào giáo dục gia đình, đều là nhờ vào sự yêu thương của cha mẹ. Mỗi một dân tộc (cũng như chúng ta biết ở Trung Quốc đại lục thống kê ra được khoảng năm -mươi sáu dân tộc), mà những câu ngạn ngữ của mỗi một dân tộc để lại đều không như nhau, đều rất đáng quý.

Ví dụ, trong tiếng của người Mân Nam Phúc Kiến, tất cả mọi mặt đều dẫn dắt chúng ta rất nhiều, đều là tương ưng với Kinh điển. Cho nên di sản của cả dân tộc thật sự là quá phong phú, chỉ cần con cháu chúng ta chịu nghe giáo huấn thì nhất định sẽ được đại phước.

Các vị xem, cũng như những câu Kinh văn trong ký ức của chúng ta: “Lỗ hổng nhỏ không bù được lỗ hổng lớn thì bạn sẽ rất gian khổ”. Đây là trọng yếu của việc sửa lỗi. Khi vấn đề vừa mới xuất hiện, bạn không tu sửa cho tốt, đợi cho đến khi nó trở nên nghiêm trọng rồi thì bạn sẽ giải quyết không nổi. Phải ngăn chặn ngay từ đầu. Tập khí cũng như vậy, khi vừa mới có thì mau mau đối trị, đợi đến khi nó trở thành thói quen rồi thì bạn sẽ hủy hoại cuộc đời của chính mình. Trị thân, tu thân là như vậy, bạn dạy dỗ con cái cũng là phải đề phòng cẩn thận. Lúc nhỏ ăn cắp một quả trứng thì lúc lớn có thể sẽ ăn cắp một con gà. Lúc nhỏ ăn cắp trái bầu, khi lớn ăn cắp con bò. Khi còn nhỏ hái cắp của người ta hoa quả cây trái, đến lúc lớn có thể dắt mất con trâu của người ta. Cho nên, chúng ta nhìn thấy chỗ nói “người xưa có câu” thì cảm kích tổ tiên của mỗi một dân tộc.

Các vị xem, chúng ta ở tại Malaysia, người Quảng Đông, người Hải Nam, người Hẹ, người Triều Châu…, còn sót ai nữa không? Nhiều dân tộc đều có trí huệ đáng quý như vậy, đều phải trân quý. Cho nên điều mà người xưa để lại nói: “Con người có hai sự việc rất khó làm được”. Một người muốn nâng cao đức hạnh của mình thì phải: “Khó hành mà có thể hành, khó nhẫn mà có thể nhẫn, khó làm mà có thể làm”, phải có sự gánh vác thì mới có thể đột phá được, phải “khó xả mà có thể xả”. Đặc biệt là phải xả bỏ tự tư tự lợi, nếu không thì tu đạo sẽ không thành được. Đương nhiên khi mới bắt đầu việc xả bỏ tự tư, xả bỏ tập khí, nói thật ra thật sự không dễ dàng, cũng như một sự cướp bóc vậy, bởi vì thói quen này đã bám quá lâu ở trên người rồi, gỡ không được. Nhưng mà chỉ cần có quyết tâm, quyết tâm có thể đột phá, tập khí buông bỏ từng chút từng chút một, nó không còn như một gánh nặng nữa. Bởi vì tập khí này không đổi, sự gánh vác của thân tâm rất nặng, trở thành nô lệ của nó. Cho nên tập khí buông bỏ được từng chút một, thân tâm nhẹ nhàng, pháp hỷ sung mãn, gọi là “học đi đôi với làm, không niềm vui nào bằng”.

Chúng ta biết cuộc sống tinh thần của Khổng Lão Phu Tử an vui đến như vậy, mới thể hội được nếu bạn không thật sự làm, không thật sự buông bỏ, thì câu Kinh văn ấy vẫn là câu Kinh văn mà thôi, không phải là cuộc sống của chúng ta, không phải cảnh giới chân thật của chúng ta.

Tiếp theo, nói đến hai điều nào là khó khăn? “Vui vẻ tiếp nhận ý kiến của người khác khi chỉ ra sai lầm của mình và biết sửa đổi”, chính là biết được lỗi lầm của chính mình họ sẽ cảm thấy rất hoan hỷ. Thánh Nhân là “nghe thiện ngôn mà bái phục”. Đại Vũ là một tấm gương, chỉ cần người ta khuyên bảo đúng thì ông sẽ cảm kích họ, đảnh lễ với họ, cảm ân họ. Tử Lộ là hiền nhân, nghe thấy thiện ngôn thì hoan hỷ, người ta chỉ ra lỗi lầm của ông thì ông vô cùng vui vẻ. Kỳ thực, người ta chỉ ra lỗi lầm mà chúng ta hoan hỷ, thì chân thật là người biết tự thương mình. Bởi vì biết được những điều ác này mà không trừ thì đạo nghiệp của chính mình liền thành tựu không được, liền biến thành tự mình cam chịu đọa lạc. Người ta chỉ ra cho chúng ta thì chúng ta mới có thể nâng cao được. Cho nên, người biết tự ái thì nhất định phải “nghe lỗi mà vui”. Nghe lỗi mà không thấy vui thì không phải là người biết tự ái tự trọng, vẫn là cứ thuận theo sự làm chủ của sỉ diện và tập khí, bị tập khí dắt mũi đi. Cuộc đời như vậy thì rất là khổ. Không sửa đổi thì thời gian cứ như vậy trôi qua, ba năm - năm năm, tuổi tác lớn rồi càng muốn sửa đổi thì lại càng không dễ. Biết lỗi liền nhanh chóng sửa đổi thì trí huệ định lực của chính mình sẽ không ngừng nâng cao lên, cuộc đời này mới có thể làm chủ được. Làm chủ được thì mới có thể tự tại.

Vào năm Trinh Quán thứ năm, từ khi Thái Tông còn là Thế Tử, chưa phải là hoàng đế, thì Thái Tông đã đi cùng vị quan Phòng Huyền Linh rồi, vả lại còn vào sanh ra tử, đánh trận rất nhiều lần, cho nên tình nghĩa của họ vô cùng sâu đậm. Thái Tông đã nói với Phòng Huyền Linh là từ xưa đến nay nhiều đế vương đều rất dễ dàng mặc sức làm càng, thuận theo sự yêu ghét của mình mà làm việc, thích thì khen thưởng, người không có công trạng gì mà cũng được khen thưởng; chán ghét thì người vô tội cũng bị đem đi xử trảm, vậy thì phiền phức rồi. Có những lúc không vui thì còn lạm sát, khi vui vẻ thì khen thưởng lung tung, lạm dụng khen thưởng. Vào lúc này thì thiên hạ liền hỗn loạn, bởi vì quân vương không phải là người chiếu theo luân lý đạo đức, không phải chiếu theo kỷ cương để làm việc, mà chiếu theo sự vui buồn của mình để mà làm việc. Có câu: “Trên làm thế nào, dưới theo thế đó”. Thái độ này của họ đến một lúc tất cả thần tử đều học theo rồi thì thiên hạ sẽ loạn. Cho nên, những quân vương ngày xưa đều là thất bại ở việc làm việc theo tình cảm, tính khí, làm việc theo sự ưa ghét. Vì thế, Thái Tông cảm thấy ông phải luôn lấy điều này làm gương, không dám phạm những lỗi lầm như vậy, xác thực là phải luôn giữ gìn tính cảnh giác như vậy.

Chúng ta xem thấy rất nhiều hoàng đế, rất nhiều người lãnh đạo, khi mới bắt đầu cũng không tệ, nhưng qua được một thời gian thì dần dần lại làm ra một số sự việc, có được một số công lao thành tích thì bắt đầu không kiềm chế được ngạo mạn. Tùy Văn Đế là vị vua khai quốc của Triều Tùy. Ông là Bắc Triều, còn Nam triều là Tống, Lương, Trần, dưới cùng là Trần Quốc. Ông thống nhất được Trần Quốc thì cả Trung Quốc liền biến thành một triều nhà Tùy. Kết quả, vì thống nhất được cho nên ông bắt đầu ngạo mạn, quả thật bản lĩnh quá lớn. Kết quả không bao lâu thì nhà Tùy diệt vong. Việc gì cũng có mở đầu, nhưng nhiều việc không có kết thúc. Có một mở đầu rất tốt, nhưng vì bắt đầu tham trước, bắt đầu ngạo mạn, bắt đầu cảm thấy mình giỏi giang, thì sẽ bảo thủ cố chấp, thất bại liền xuất hiện. Cho nên, người luôn biết cẩn trọng như mới bắt đầu rất ít.

Tính cảnh giác của Thái Tông tương đối cao. Không chỉ bản thân có tính cảnh giác cao như vậy, mà ngay lúc đó đều là nhắc nhở những đại thần cấp dưới của mình: Các khanh bất cứ lúc nào cũng phải khuyên can ta, thẳng thắn trực tiếp khuyên can ta (thẳng thắn chính là không nên sợ), các khanh hiểu được thì hãy nói hết cho ta nghe, không nên sợ, không sao cả”. Cho nên việc này là “nghe nói lỗi lầm mà vui vẻ chấp nhận”. Khi Đường Thái Tông nói đoạn này thì họ cũng không quên nhắc nhở Phòng Huyền Linh, kỳ thực cũng là nhắc nhở tất cả thần tử: “Công đẳng, các khanh đều là người lãnh đạo cũng phải nên tiếp nhận lời khuyên của người khác”. Cho nên Thái Tông ngoài việc lấy thân làm gương ra, ông cũng không quên giáo dục các thần tử dưới quyền của mình.

Trong “quân - thân - sư” này, ông làm một chữ “quân”, ông là người lãnh đạo có trách nhiệm. Ở điểm này Thái Tông đã làm được rất tốt, tùy lúc mà nắm lấy cơ hội để nhắc nhở giáo huấn thần tử. Cho nên lãnh đạo còn phải có thể giáo dục, còn phải có thể dạy bảo, còn phải có thể khuyên nhủ cấp dưới. Người lãnh đạo càng cao, kỳ thực trách nhiệm của họ càng nặng, càng không nhẹ nhàng, muốn làm tốt đích thực là phải đưa ra công phu rất lớn.

Đặc biệt là thời đại này, người trẻ tuổi cũng thiếu đi nền tảng luân lý đạo đức, cho nên chúng ta làm thầy người khác, làm cha mẹ người khác, làm người lãnh đạo người khác thì càng phải có tâm nhẫn nại mới được. Cho nên, khuyên bảo những vị đại thần này: “Các khanh khuyên gián ta, đồng thời các khanh tự mình cũng phải tiếp nhận lời khuyên can của cấp dưới của mình”. Làm sao lại có thể khi người ta nói lời không vừa ý thì lại không thể tiếp nhận, thậm chí là che giấu khuyết điểm của chính mình, như vậy không thỏa đáng.

Trên “Lục Tổ Đàn Kinh”, Đại sư đã giáo huấn chúng ta, trong đó có một câu: “Sửa lỗi tất sanh trí huệ”. Phiền não nhẹ thì trí huệ liền tăng. “Hộ đoản tâm nội phi hiền”, nghĩa là che giấu khuyết điểm của chính mình, cái tâm thái khi đó đã thiên lệch ra khỏi đạo, tâm liền không còn đức hạnh tài năng, tâm rơi vào trong việc cố che đậy khuyết điểm, rơi vào trong việc ưa sỉ diện, thậm chí là còn rơi vào trong tâm sân hận. Nhìn thấy người ta không vừa mắt thì phiền phức rồi.

“Nhược bất năng thụ gián, yên năng gián nhân”, nghĩa là nếu như chúng ta chính mình đều không thể tiếp nhận người khác khuyên gián, vậy thì chúng ta có tư cách gì để có thể khuyên can người khác. Kỳ thực, chính mình còn không nhìn thấy được vấn đề của mình, sao có thể nhìn thấy được rõ ràng vấn đề của người khác. “Dục tri nhân giả tiên tự tri”, bạn tự mình có đức hạnh rồi thì có thể tiếp nhận lời người khác khuyên, lại đi khuyên người thì người ta sẽ phục, người ta khâm phục đức hạnh của bạn. Cho nên, kỳ thực câu nói này rất có thâm ý. Một người không thể tiếp nhận khuyên can, người đó cũng không có tư cách để khuyên người khác. Một người không phải là một học trò tốt, người đó cũng không có tư cách để làm thầy. Một người không phải là người con hiếu thì người đó cũng không thể nào trở thành người cha tốt. Một người không phải là một cấp dưới tốt thì người đó nhất định cũng không thể là một người lãnh đạo tốt. Căn bản là họ không có gốc, không có nền tảng. Vì thế, “quân tử vụ bổn, bổn lập nhi đạo sanh”. Con người chúng ta hiện tại không có những nhắc nhở này, đều là mơ ước hảo huyền, đều không chịu thật thà xây trồng đức hạnh và năng lực căn bản, đều muốn một bước thành công.

Các vị xem người trẻ tuổi, họ tốt nghiệp thạc sĩ, tốt nghiệp đại học, họ liền nghĩ mình bước ra thì phải làm chủ quản. Tâm thái này, bản thân đều là không đúng. Họ không bắt đầu làm từ căn bản, họ làm sao biết thái độ của người làm cấp dưới, họ làm sao tích lũy được trí huệ, làm sao tích lũy được năng lực. Chỉ nghĩ là mình lập tức trở thành chủ soái, giống như nhảy dù xuống, quả thực giống như bàn việc binh trên giấy, không có cách nào cảm động lòng người. Rất nhiều nhà doanh nghiệp quả thực không hiểu được việc này, bỗng dưng để cho con cái vào làm tổng giám đốc, làm những chức vụ lãnh đạo cao cấp. Đó là đại kỵ, nhất định sẽ xảy ra vấn đề. Chân thật là người lãnh đạo, nhà doanh nghiệp có kiến giải thì đều sẽ âm thầm mà rèn luyện con cái, để cho con cái bắt đầu làm từ căn bản nhất. Nó chân thật trở thành một cấp dưới tốt thì về sau mới là một người lãnh đạo tốt, vả lại bởi vì nó làm từ căn bản thì nó sẽ rất thấu hiểu sự vất vả của người cấp dưới. Vì vậy mà những hoàng đế khai quốc đều rất có nhân tình, họ chính là cùng với những người bên cạnh này gian nan lập nghiệp, rất khó khăn để có được sự nghiệp, cho nên họ sẽ niệm nhớ tình nghĩa xưa, nhớ ân, rất tình nghĩa. Vả lại, bởi vì họ trưởng thành ở ngoài nhân gian, trước khi khai quốc thì đa phần đều là bình dân nên họ có thể hiểu được nỗi khổ của người dân. Một hai hoàng đế sau khi khai quốc đều là những vị hoàng đế tốt, dần dần thì rất nhiều những hoàng đế phía sau bởi vì vừa sanh ra thì đã làm hoàng đế rồi, họ sẽ làm mưa làm gió, đôi khi còn tiêm nhiễm rất nhiều tập khí.

Nhà Thanh từ khi bắt đầu đến khi kết thúc đều không có vị hôn quân nào, điểm này thật không dễ dàng. Họ biết rằng, nhất định phải làm tốt giáo dục, không thể để cho những vương công quý tộc này phóng dật. Từ thái tử cho đến hoàng tử, mỗi ngày hơn ba giờ sáng đều phải thức dậy, không thể để cho thói quen cuộc sống làm mất tập trung. Mỗi ngày làm việc và nghỉ ngơi đều rất quy củ. Cho nên việc giáo dục người phú quý kỳ thực độ khó cũng rất cao, chút nữa đây chúng ta cũng sẽ bàn về câu Kinh văn này.

Cho nên “quân tử vụ bổn”, chúng ta phải chân thật có thể nuôi dạy tốt con cái, cũng phải khiến cho chúng hiểu được đạo lý của phận làm con, đạo làm con cháu, đạo làm thần tử, đạo làm học trò Thánh Hiền, chúng mới có nền tảng của việc làm người. Vì vậy, câu nói này cũng đồng thời nhắc nhở chúng ta.

Chúng ta hiện tại tuy rằng có thể đã làm cha mẹ rồi, đã làm người lãnh đạo, cũng có thể đã làm thầy rồi, nhưng chúng ta “người quý tự biết”. Kỳ thực, tự mình cũng chưa ra dáng vẻ là đệ tử của một Thánh Hiền cụ thể nào, kết quả tự mình lại đi làm thầy, sự việc này tương đối là hổ thẹn. Càng không phải chỉ luôn nói người khác, mà nói chính mình. Đối chiếu chính mình thì phải mau hạ công phu, khiến cho mình chân thật giống như học trò của Thánh Hiền, có như vậy mới có thể không làm xấu gia phong của Thánh Hiền. Chúng ta nhất định không dám bôi xấu lên mặt của Thánh Hiền. Tuy rằng có thể chúng ta hiện tại đang dạy học, căn bản không có thì ngay cả chính mình làm học trò cũng không có tư cách, cho nên vào lúc này lòng dạ bất an, phải mau xây dựng bù đắp nền tảng thì mới được. Bao gồm cả việc làm cha mẹ, kỳ thực chúng ta ngay cả đạo lý con cái cũng không thực tiễn được. Chúng ta là người lãnh đạo, có thể khi chúng ta đối với người cấp trên của mình cũng không phải là một cấp dưới tốt. Mà có thể hổ thẹn sám hối thì mới có thể rõ ràng được chỗ chưa đủ, mới có thể tự nâng cao cho tốt chính mình, như vậy mới không dễ dàng tự mãn.

Cho nên, điều khó khăn thứ nhất trong cuộc đời chính là “vui vẻ tiếp nhận khi người khác chỉ ra điều sai trái”. Chúng ta cũng vừa mới nêu ra một ví dụ, Thái Tông rất hoan hỷ khi các quan chỉ ra vấn đề cho ông. “Đem lỗi lầm của mình nói với người khác là khó”. Đem những khuyết điểm lỗi lầm của mình nói cho người khác nghe, việc này cũng là việc khó, việc này cũng như là “phát lộ sám hối”. Đem lỗi lầm của mình nói ra trước đại chúng, việc này tương đối cần có dũng khí. Có câu nói: “Biết thẹn là đã gần với có dũng”. Con người có tâm hổ thẹn, nhất định phải nên sửa đổi thì dũng khí của họ sẽ có. Họ không đem lỗi lầm giấu ở trong lòng, họ đem nó nói ra hết, đem tội nghiệp sám trừ. Con người chân thành phải thấu xuất ra hết, trong tâm không thể có những thứ cặn dơ này, không thể có những sự lấp liếm che giấu nào, có thể trong sáng vô tư. Người trong sáng mới có thể chân thành. Thậm chí là sám hối ra rồi, cảm động người ở bên cạnh, họ cũng có thể lấy chúng ta làm gương để nhắc nhở cho cuộc đời của họ. Con người muốn có thể sám hối thật sự cũng là có thể buông xả sỉ diện, thậm chí quyết tâm đó như chuyện “đập nồi dìm thuyền” vậy, là một sự quyết chí đến cùng. Sám ra hết rồi khiến cho mọi người đốc thúc chính mình, không thể giãi đãi lười biếng, vậy thì tính cảnh giác của họ liền nâng cao.

Cho nên, những việc khó làm mà chân thật chịu làm, tự mình liền có được lợi ích rất lớn.

Chúng ta xem, ở trong giới doanh nghiệp, thầy Hồ Tiểu Lâm toàn bộ đức hạnh nâng cao rất nhanh. Thầy đã làm được “hai điều khó” này rồi, vẫn còn “vui vẻ tiếp nhận điều sai của mình”. Người ta nói lỗi lầm của thầy cho thầy nghe, thầy cảm thấy đó là giúp đỡ cho đạo nghiệp của mình. Vả lại, thầy tự mình có lỗi thì thầy có thể đối trước đại chúng “phát lộ sám hối”. Đây là tấm gương rất tốt cho chúng ta, chúng ta cũng nhìn thấy người ta tu dưỡng rất đắc lực. “Khó hành mà có thể hành”, rất quan trọng.

“Đôn thân”

Chúng ta hôm nay bàn về năm câu này đều là “sửa lỗi”. Tiếp theo chúng ta bàn về phần “đôn thân”. Một vị quân vương thì cũng phải tề gia, “tề gia sau đó mới trị quốc”. Gia đình của quân vương nếu không an định, thì họ làm gì có thể chuyên tâm vào việc trị vì thiên hạ, vả lại họ không thể tề gia thì họ cũng không có năng lực để trị quốc. “Tu thân sau đó mới tề gia, tề gia sau đó mới trị quốc”. Mà chúng ta xem “đôn thân”, chữ “đôn” này là đôn hậu, rất nhân hậu, rất chân thật. Mà nhân hậu thì sẽ không cay nghiệt, sẽ không có việc không nói tình nghĩa, cho nên nhất định sẽ tận tâm tận lực chăm lo tốt cho người nhà, đặc biệt là chăm lo tốt người thân bạn bè. Ngũ luân này họ có thể toàn tâm toàn lực thực hiện “đôn thân”.

Chúng ta xem câu thứ nhất trong quyển thứ hai, là “Hiếu Kinh”, Thiên Tử chương đệ nhị. Kinh văn nói đến “Hiếu Kinh” là Khổng Tử không hỏi mà tự nói, học trò không hỏi mà tự Ngài chủ động tuyên giảng bộ Kinh này cho Tăng Tử. Bởi vì Tăng Tử là con chí hiếu cho nên truyền thừa cho Tăng Tử. “Hiếu” là đại căn đại bổn của đức, cũng là tinh thần quan trọng nhất trong văn hóa truyền thống. Bởi vậy “Hiếu Kinh” là bảo điển để tề gia, bảo điển để tu thân, mà cũng là một quyển Kinh điển tốt nhất cho việc quản lý doanh nghiệp.

Chúng ta xem Kinh văn ôû “Thiên tử chương đệ nhị”.

Khổng Tử nói: “Thiên tử thực sự yêu thương cha mẹ mình thì không dám ghét bỏ cha mẹ người khác, thực sự tôn kính cha mẹ mình thì không dám khinh mạn cha mẹ người khác. Thiên tử hết lòng yêu thương phụng dưỡng cha mẹ và đem đức hạnh này giáo hóa tuyên truyền đến khắp nhân dân, làm mẫu mực trong thiên hạ, đó là đạo hiếu của thiên tử”.

Trong nền văn hóa của chúng ta, hạt nhân quan trọng nhất là luân thường. Trong ngũ luân, “phụ tử hữu thân”, nó là một điểm nguồn “ái nhân”. Nguyên điểm của chữ “ái” này chính là thiên tính khởi phát một cách tự nhiên giữa cha mẹ và con cái. Lại từ tấm lòng yêu thương này đối với cha mẹ mở rộng ra đối với anh em, với người nhà, với thân tộc. Lại mở rộng ra đối với hàng xóm láng giềng và xã hội đại chúng, mở rộng ra đến những quốc gia dân tộc khác. Cho nên, “trung thần xuất thân từ người con hiếu”. Họ hiếu thuận, tấm lòng yêu thương chân thành của họ sẽ phát ra, họ về sau trị vì thiên hạ thì họ sẽ hiểu được tình yêu thương. Bởi vì, “người cùng một lòng, lòng đồng một ý”, họ yêu thương cha mẹ là từ chân tâm, họ nhìn thấy cha mẹ người khác thì sự tôn trọng đó lại khởi dậy. Họ yêu thương anh em của mình, họ nhìn thấy anh em của người khác thì cũng sẽ cảm động lây. Vì vậy, một người chân thật yêu thương thân ái cha mẹ của chính mình, tâm yêu thương của họ khởi dậy rồi thì nhất định không dám chán ghét người khác, không chán ghét tha nhân. Bởi vì họ có tâm thương yêu thì làm sao có thể chán ghét người khác, đặc biệt là khi nhìn thấy cha mẹ của người khác thì họ làm sao có thể khinh mạn chán ghét được. Người ta vừa giới thiệu: “Đây là ba của tôi, đây là mẹ của tôi”, họ liền nghĩ đến cha mẹ của mình, thêm phần cung kính chứ làm sao lại chán ghét được kia chứ. Vả lại, một người chân thật hiếu thuận cha mẹ đều biết rằng, cha mẹ hoan hỷ nhất chính là họ có đức hạnh tốt. Có người cha người mẹ nào lại không hy vọng con cái có đức hạnh, có cha mẹ nào lại không hy vọng con cái sau khi có đức lại có thể làm lợi ích cho nhiều người hơn, lợi ích cho xã hội? Họ cảm thấy đây là sự việc quang vinh nhất. Họ lập thân hành đạo, dương danh hậu thế, vinh hiển cha mẹ, vậy đương nhiên có cha mẹ nào lại không hy vọng rằng khi họ còn sống, con cái có thể làm rạng danh, làm vinh quang cho cha mẹ? Đương nhiên cha mẹ sẽ rất hoan hỷ. Cho nên, cha mẹ rất coi trọng đức hạnh của con. Con cái có thể cảm nhận được, vào lúc này mỗi hành vi lời nói, nhất cử nhất động của họ đều là khiến cho cha mẹ yên lòng, không thể khiến cha mẹ lo âu. Cho nên họ coi trọng sức khỏe của mình, coi trọng sự nâng cao đức hạnh của mình, họ sẽ không dám mắng người. Họ mà mắng người ta, lời này truyền đi rồi truyền đến tai cha mẹ của họ: “Ôi, con của tôi sao lại không có tu dưỡng như vậy, sao lại đắc tội với người ta như vậy”. Bạn xem, cha mẹ sẽ lo âu rất nhiều.

Giả như biết chung sống hòa thuận với người khác, việc này khi truyền đến tai của cha mẹ, thì: , cả đời này của mình không cần phải bận tâm nữa rồi”. Cho nên, hôm nay nếu như chán ghét người khác, đức hạnh sẽ bị tổn, cha mẹ biết được sẽ đau buồn biết mấy. Thật sự yêu thương cha mẹ thì sẽ không dám khiến cho cha mẹ lo lắng thêm, không dám chán ghét người. Từ trên sự đồng cảm, từ trên sự cảnh giác lo sợ, tu dưỡng đức hạnh mà nói, họ đều không dám chán ghét cha mẹ người khác. Thật sự tôn kính cha mẹ mình thì không dám khinh mạn cha mẹ của người. Có thể tôn kính với cha mẹ của mình, sự cung kính trong bản tánh của họ cũng dẫn phát ra. Cho nên họ cung kính rồi thì họ cũng không dám ngạo mạn, thờ ơ đối với người khác, thậm chí là còn cung cung kính kính đối với cha mẹ người khác. Chúng ta tự mình ở nhà đều là cung kính, hầu hạ cha mẹ, cũng không thể không cung kính đối với người khác và cha mẹ người khác. Không cung kính đối với người khác thì sẽ tùy thuận tập khí, sẽ chểnh mảng đạo đức của mình, vậy thì cha mẹ lại phải lo lắng cho chúng ta. Nếu như chúng ta sớm một ngày thành tựu đạo đức thì cha mẹ sẽ sớm một ngày không phải lo lắng. Cho nên, một người đề cao tu dưỡng nhất định là tự động tự giác. Nếu như không thể tự động tự giác thì tâm hiếu vẫn chưa thật sự phát ra. Nếu đức hạnh không thể nâng cao, đều là do hiếu đạo có chỗ thiếu sót, đều là tâm từ bi thiếu sót, tập khí làm chủ. Vẫn là phải xem lại chỗ thiếu xót của mình, hạ công phu từ những chỗ căn bản này. Chân thật dụng tâm, dùng tâm chí thành để hiếu dưỡng cha mẹ. Trong quá trình phụng dưỡng cha mẹ phải luôn luôn nhìn tại tâm địa của mình có chỗ nào sai lệch, có chỗ nào không kiên nhẫn với cha mẹ, có chỗ nào không cung kính với cha mẹ. Vừa phát hiện phải rút kinh nghiệm, phải mau đối trị.

Nếu như một vị thiên tử có thể đem thái độ yêu thương cung kính cha mẹ để đối đãi với hết thảy người, hết thảy bá tánh, thì họ chính là tấm gương tốt nhất cho lão bá tánh. “Đem đức hạnh này giáo hóa tuyên truyền đến khắp nhân dân”. Đạo đức cao quý này của họ đã làm ra thân giáo rất tốt cho nhân dân, liền đạt được hiệu quả giáo hóa trăm họ. “Hình ư tứ hải”; chữ “hình” này chính là tấm gương, trở thành hình mẫu để noi theo cho người trong thiên hạ.

Chúng ta xem các vị đế vương, họ chỉ cần là hiếu tử, cả xã hội vào khi đó sẽ đặc biệt xem trọng hiếu đạo. Mọi người chú ý lật xem trong quyển câu chuyện đức dục “nhị thập tứ hiếu”, thì triều đại có người hiếu nhiều nhất là triều Hán. Triều Hán lấy hiếu để trị thiên hạ, tất cả thiên tử đều thêm một chữ “Hiếu” vào tên. Như: Hiếu Văn Đế, Hiếu Cảnh Đế, Hiếu Vũ Đế, đều có thêm chữ “Hiếu” như vậy. Vả lại, họ cũng không phải chỉ đề xướng mà tự mình làm được. Chúng ta xem: “Cha mẹ bệnh, nếm thuốc trước. Ngày đêm hầu, không rời giường” Văn Đế đã làm được. Việc ông hầu hạ mẹ của ông là chí hiếu. Cho nên xác thực là đạo lý đã nói ở trong “Hiếu Kinh” đều đã được ấn chứng trong lịch sử.

Hiện tại chúng ta cũng nhìn thấy rất nhiều xí nghiệp đoàn thể đang học tập văn hóa truyền thống, cũng đang nỗ lực thực hiện. Ngày trước, đại hội công nhân viên cuối năm chỉ là ăn uống, ca hát những nhạc khúc thịnh hành, chè chén say sưa một chút rồi qua đi, hiện tại thì trong buổi đại hội như vậy đều có mời cha mẹ của công nhân viên cùng nhau đến tham dự, sau đó công ty cũng bày tỏ lòng cảm kích đối với người nhà và cha mẹ của công nhân viên. Thậm chí là ông chủ công ty cũng mời cha mẹ đến, đích thân mình lễ bái cha mẹ, rửa chân cho cha mẹ. Tấm chân tình đó lưu lộ ra, cả đại hội khi đó mọi người đều cảm động đến rơi nước mắt. Ông là chủ của doanh nghiệp, ông lại có thể kính yêu phụng dưỡng cha mẹ như vậy, đức giáo của ông cũng sẽ truyền đến cho nhân viên của mình, các công nhân viên khâm phục đức hạnh của ông đến tận đáy lòng. Ông cũng là “hình ư tứ hải”, làm kiểu mẫu cho công ty. Cho nên “Hiếu Kinh”, mỗi một người lãnh đạo là tấm gương tốt nhất.

Ở đây đã nói đến “cái thiên tử chi hiếu giả”, đây chính là thiên tử hành hiếu đạo. Hiếu đạo của thiên tử không chỉ là phụng dưỡng cha mẹ của mình mà còn có thể dùng thân giáo của mình khiến cho người trong thiên hạ đều biết hiếu thảo, thiên tử mới tận được hiếu đạo. Cho nên, hôm nay chúng ta ở thân phận nào, ở góc độ nào, nếu như chúng ta chưa có thể “đôn luân tận phận” thì chính là bất hiếu, bởi vì đức hạnh của chúng ta còn khiếm khuyết. Chúng ta hôm nay làm công chức mà chưa thể làm được cầu nối tốt nhất giữa chính phủ và người dân, vậy thì cha mẹ chúng ta biết được sẽ rất đau lòng, vậy thì chúng ta đã ăn không bổng lộc của quốc gia rồi. Chúng ta ngày nay dạy học trong trường thì phải có trách nhiệm với thế hệ sau. Giả như chúng ta không tận tâm dạy bảo con cái, thì cha mẹ chúng ta sẽ cảm thấy rất mất mặt: “Sao làm thầy cô mà lại ăn không bổng lộc của quốc gia chứ, còn không tận tâm tận lực dạy dỗ đời sau”. Không đôn luân tận phận nhất định hiếu đạo có tổn giảm. Cho nên, thiên tử có bổn phận thay trời hành đạo, nên gọi là “thiên tử có thiện đức kính yêu cha mẹ”.

“Hiếu Kinh” mỗi một chương đều nói đến một thân phận đã tận hiếu như thế nào, tận bổn phận chức trách của mình như thế nào rất rõ ràng. Sau đó còn có “Chư Hầu chương”, “Khanh Đại Phu chương”, Sĩ chương”, “Thứ Nhân chương”. Chúng ta mỗi một góc độ đều có thể viên mãn áp dụng hiếu đạo. Những câu khác mọi người có thể tìm đọc “Hiếu kinh” và thâm nhập cho tốt. Học tập phải chủ động như sách “Lữ Hình” đã nói, kỳ thực cũng chính là chỉ chương này của “Thượng Thư”. “Lữ Hình” và “Phủ Hình” là cùng một chương.

“Nhất nhân hữu khánh triệu dân lại chi”. Chữ “hữu khánh” chính là có đức hạnh chân thực. Thiên tử có đức hạnh, thiện hạnh chân thật, thiên hạ vạn dân. “Lại chi”, nghĩa là vô cùng tin cậy ở họ, bởi vì họ đáng để nương tựa, họ dẫn dắt lão bá tánh đi lên đất nước trị an lâu dài, đi lên con đường hạnh phúc nhân sinh. Thiên tử đã như vậy, chúng ta thân là cha mẹ cũng vậy, thân là lãnh đạo cũng vậy, hoặc giả là thầy cô cũng vậy, cũng phải dẫn dắt con cái, học trò của chúng ta, công nhân viên của chúng ta đi lên con đường hạnh phúc nhân sinh, như vậy thì chúng ta cũng là áp dụng tinh thần “vạn dân trong thiên hạ đều kính ngưỡng”.

Tốt rồi, tiết học này tạm thời giao lưu đến đây. Xin cảm ơn mọi người.

A Di Đà Phật!

Chia sẻ học tập “Quần Thư Trị Yếu 360” (tập 23 và 24)

Giảng ngày 28 tháng 05 năm 2011 tại Trung tâm Giáo dục Văn hóa Trung Hoa Malaysia.

Người giảng: Thầy giáo Thái Lễ Húc

Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ, Mộ Tịnh Cư Sĩ, Phước Tịnh Cư Sĩ

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 83


Hôm nayHôm nay : 1450

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 225291

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 10596980

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?