Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Quần thư trị yếu 360

Quần Thư Trị Yếu 360 - Thầy Thái Lễ Húc giảng (Tập 21)

Thứ sáu - 04/08/2017 19:37

TU THÂN - TỀ GIA - TRỊ QUỐC - BÌNH THIÊN HẠ

Các vị trưởng bối tôn kính, các vị học trưởng, xin chào mọi người!

“Quần Thư Trị Yếu 360” trong mấy tiết học qua của chúng ta đều bàn về bộ phận “quân đạo - tu thân”. Lần trước nói đến là bộ phận “thiên thiện” của “tu thân”. Chúng ta đã nói đến giáo huấn trong “Luận Ngữ” của Khổng Lão Phu Tử: “Ba người cùng đi, hai người kia ắt là thầy của ta, chọn những điều thiện mà học hỏi, còn những khuyết điểm thì lấy đó làm gương để cải sửa chính mình”. Những giáo huấn này trên thực tế đối với tu dưỡng đạo đức mở rộng công danh của chúng ta đều có sự giúp đỡ vô cùng to lớn, gọi là “học nhi thời tập chi, bất duyệt thuyết hồ”. Chúng ta học một câu, nếu như có thể thật sự thực tiễn được một câu thì nhất định sẽ có niềm vui, sẽ được pháp hỷ. Vì sao vậy? Giống câu này, chúng ta thật sự là xử sự đối người tiếp vật đều có thể nhìn thấy được ưu điểm của người khác, tiếp đến lại noi theo học tập thì tất nhiên chúng ta sẽ “đức tiến dần, lỗi ngày giảm”, mỗi ngày đều nâng cao. Đây là sự việc vui thích nhất của đời người, mỗi ngày trôi qua đều không luống công. Vậy chúng ta hiện tại học rất khó có được pháp hỷ, nguyên nhân vẫn là ở việc chưa thật sự đi làm, chưa thật sự thể hội, chưa thật sự noi theo, cho nên chúng ta hãy bình tĩnh xem lại mức độ thực tiễn khi học tập câu Kinh.

Lúc trước đã nói qua với mọi người, chúng ta suy nghĩ về năm người mà chúng ta khâm phục nhất trong cuộc sống. Ưu điểm của họ thì chúng ta đã nhìn thấy được bao nhiêu? Nhìn thấy vẫn chưa đủ. “Trạch kỳ thiện giả nhi tùng chi”, chữ “tùng” này là tuân theo, noi theo. Khi chúng ta chân thật bình tĩnh lại suy nghĩ, rất có thể ngay cả ưu điểm cũng đều chưa thấy được rõ ràng. Giả như ngay cả thấy cũng không được rõ ràng, thì việc học tập sẽ rất khó khăn. Cho nên câu này cũng là nhắc nhở chúng ta phải trân trọng nhân duyên khó được của đời người, đến thân cận những người có đức hạnh ở bên cạnh chúng ta, học tập theo họ. Phải quý trọng cái duyên mới có thể có thu hoạch.

Rất nhiều bằng hữu viết trong đó có cha mẹ, bởi vì cha mẹ có ân đức lớn nhất đối với chúng ta, thời gian chung sống với chúng ta cũng là lâu nhất. Chúng ta viết cha mẹ ra, nhưng trên thực tế những ưu điểm của cha mẹ có thể chúng ta học theo cũng rất giới hạn. Không học theo ưu điểm của cha mẹ là do nội tâm của chúng ta không đủ tâm cung kính, không đủ tâm thành kính. Vì sao sư đạo lại được xây dựng trên nền tảng của hiếu đạo? Chúng ta đối với cha mẹ đều không có lòng chân thành cung kính, tiếp đến noi theo đức hạnh của họ, vậy thì rất khó để noi theo một người nào khác, khó noi theo người có đức hạnh. Cho nên ý nghĩa của câu “sư đạo xây dựng trên nền tảng hiếu đạo” vô cùng sâu sắc. Tâm yêu thương, tâm cung kính của con người đều là từ việc đối với cha mẹ mà lưu xuất ra. Lại mở rộng ra là đối với hết thảy người lớn, hết thảy thân bằng hữu hảo. Chúng ta cứ như vậy mà suy nghĩ mới có thể quan sát được thiếu sót của chính mình. Quan sát được điều chưa đủ cũng không nên ăn năn hối tiếc, cũng không nên tự mình phủ định, việc này đối với chính mình không có một chút lợi ích nào. Nhìn thấy điều bất thiện, quan trọng nhất là sửa đổi lại là được. “Lỗi mà có thể sửa thì có thiện nào bằng”. Bởi vì xã hội hiện tại lòng tự tin của con người không đủ phát hiện khuyết điểm của chính mình, càng ngày càng không có lòng tin, cho nên nhất định phải nhận thức được chân tướng. “Nhân chi sơ tánh bổn thiện”. Chúng ta có bổn thiện, chúng ta có minh đức, cho nên nhất định không thể phủ định chính mình, đối với chính mình phải có lòng tin. Tất cả những tập nhiễm không tốt đều là “cẩu bất giáo tính nãi thiên”, do ngày sau đã nhiễm ô. Vốn có thì nhất định có thể khôi phục. Phải có lòng tin. Những tập tánh ô nhiễm đó không phải là chân thật cho nên có thể trừ bỏ, có thể buông bỏ được, chỉ cần có quyết tâm, có nghị lực thì “Thánh và Hiền, dần làm được”. Cho nên, “kỳ bất thiện giả”, chúng ta phải mau suy nghĩ lại, tự mình cải chính.

Chúng ta hiện tại có rất nhiều câu Kinh vì sao không thể áp dụng? Vẫn là trong tâm công phu có vấn đề. Những người bên cạnh ta, trên thực tế ai cũng đều có ưu điểm, nhưng thật không dễ dàng nhìn thấy được. Bởi vì tâm ngạo mạn quá nặng, cảm thấy mình tốt hơn họ, có lúc cảm thấy mình học cao hơn họ, mình đẹp trai hơn họ, mình có điều kiện bên ngoài nào đó tốt hơn họ, tâm ngạo mạn liền khởi lên. Tâm ngạo mạn đã nổi lên thì không thể nào học tập ưu điểm của người khác. Chúng ta nhìn người khác bằng tâm thái như thế nào? Thánh và phàm khác biệt là ở trên tâm tánh.

Chúng tôi còn nhớ, tiết học thứ hai chúng ta đã nói đến Đại Vũ dạy dỗ đời sau của ông: “Huấn hữu chi, nội tác sắc hoang, ngoại tác cầm hoang”. Mọi người đều có thể đọc thuộc, vậy thì quá tốt rồi! Đây gọi là ôn cũ biết mới. Trong đoạn văn này Đại Vũ đã nói đến: Dư thị ngu phu ngu phụ, giai thắng ư dư”. Ông xem lão bá tánh từ nam đến nữ, mỗi một người đều vượt hơn so với ông. Đó là khiêm bi đến cùng cực, nhìn mỗi một người đều có thể thấy được ưu điểm của người đó, tiếp đến là có thể học tập theo họ. Tâm cảnh của Thánh Nhân cảm thấy chỉ có mình là học trò, đều học ưu điểm của người khác. Thái độ này quá đáng quý! Cho nên không thể học ưu điểm của người khác vẫn là do ở trong tâm chúng ta có bệnh. Bệnh ở đâu vậy? Ngạo mạn. Có khi gặp được rất nhiều người có đức hạnh cao hơn chúng ta, chúng ta vẫn là không chịu học. Vì sao vậy? Vì tâm đố kỵ quá mạnh. Tâm đố kỵ này vừa khởi tác dụng thì, “có gì hay đâu chứ, tôi có chỗ nào đó cũng không tệ”, cái tâm này sẽ rất khó học được đức hạnh và sở trường của họ. Bởi vì Kinh Điển và tâm của chúng ta không thể tương ưng, cho nên quyết định hạ thủ vấn đề từ ở trong tâm thái, buông bỏ những tập nhiễm này thì sự “thấy thiện” này mới có thể “theo”.

Thấy người “bất thiện” chúng ta không chỉ không phản tỉnh chính mình, mà thấy người ta bất thiện lại trở thành đối lập với người ta, có thành kiến với người ta, vậy thì trong tâm đều là những tâm thái không tốt rồi. Làm gì phải có thành kiến với người chứ? “Nhân chi sơ tánh bổn thiện”, tin tưởng con người đều vốn thiện, đều có minh đức. Thấy người ta bất thiện thì thương xót họ, giúp đỡ họ sửa đổi, thậm chí là nội tâm còn lo lắng hơn cả họ. “Bạn ơi, bạn có minh đức mà, nhất định đừng để cho tập khí làm ô nhiễm làm chướng ngại chứ”. Đây là tâm yêu quý người khác, làm sao có thể có thành kiến với người khác chứ? Cho nên, trong nội tâm đều có thể thấy rõ được sự ngạo mạn, đố kỵ, thành kiến, hoài nghi người khác. Buông những sai lầm trong tâm bỏ thì câu giáo huấn này liền có thể thọ trì. Thọ trì giáo huấn có độ sâu, có độ rộng.

Từ trên độ rộng mà nói, đối với người thì phải “thấy người hiền muốn giống họ, thấy bất thiện thì tự phản tỉnh”. Đối với hết thảy vạn vật cũng có thái độ học tập giống như vậy.

Bạn xem, từ trên Kinh Điển đều nói đến phải học giống như nước, “thượng thiện giống như nước, nước khéo làm lợi vạn vật mà không tranh với ai”. Bao gồm cả việc học tập trời đất, mặt trời mặt trăng, “trời đất vô tư che chở, mặt trời mặt trăng vô tư soi chiếu”. Tâm khiêm bi thì nơi nơi đều có chỗ để ngộ. Đây là độ rộng. Bạn học tập đối với người, đối với hết thảy vạn vật, hiện tượng đều có tâm hiếu học.

Chúng ta rất quen thuộc một đoạn Kinh văn: “Trí họ rộng sâu ví như biển cả, oai quang nơi thân vượt xa mặt trời mặt trăng, tâm họ khiết bạch ví như núi tuyết, nhẫn nhục như đất, hết thảy bình đẳng”. Các vị xem, tâm bao dung và nhẫn nhục đó giống như đại địa, thanh tịnh như nước, tẩy trừ chư trần cấu. Người có đức hạnh thì tâm cung kính, tâm hiếu học của họ luôn luôn được duy trì. Đây là độ rộng, vậy độ sâu thì sao? Tâm học tập noi theo này không thể làm cho ra vẻ.

Chúng ta thấy, làm ra vẻ là háo danh. Giống như Vệ Linh Công thời Xuân Thu, thiên hạ đều truyền nhau rằng ông rất tôn hiền. Kết quả, khi Khổng Tử đi đến nước Vệ, trên thực tế ông cũng không thật sự trọng dụng Khổng Tử, bởi vì ông vẫn háo danh xưng đẹp chứ không phải chân thật yêu quý tôn trọng hiền tài.

Vào thời Trinh Quán, một ngày nọ, Đường Thái Tông cùng các đại thần có một buổi yến tiệc. Ngồi bên cạnh ông là quan Hoàng Môn Thị Lang Vương Khuê. Trong buổi yến tiệc, có một mỹ nữ ngồi bên cạnh ông để hầu ông. Người con gái này vốn dĩ là tỳ thiếp của Lô Giang Vương Viện (chính là vợ của Lô Giang Vương Lý Viện). Vào khi xưa, Lý Viện phạm sai lầm cho nên vợ của ông đã bị tiến nạp vào trong cung. Kết quả, khi Thái Tông nói với Vương Khuê về việc Lô Giang Vương không giữ đạo đức, đã sát hại người chồng của cô gái này, sau đó lại cướp lấy cô làm vợ, bạo ngược đến mức độ như vậy thì làm gì có đạo lý không bị diệt vong. Kết quả, sau khi Vương Khuê nghe xong liền đứng dậy, tiếp đến lại nói với Đường Thái Tông: “Bệ hạ, người cảm thấy Lô Giang Vương giết chết chồng của người ta, sau đó lại đoạt lấy vợ của người ta là đúng hay sai?”. Đường Thái Tông nghe xong kinh ngạc: Vấn đề đơn giản đến như vậy mà cũng hỏi trẫm sao?. Thái Tông liền nói: “Làm gì có chuyện giết người ta rồi còn cướp vợ người ta mà khanh lại hỏi trẫm là đúng hay là sai chứ? Đây là đạo lý gì chứ? Không lẽ ngay cả việc này mà ta cũng không phân biệt được hay sao?”. Thế là Vương Khuê lại tiếp tục nói: “Hạ thần đã từng xem qua một quyển sách gọi là “Quản Tử” có nói, khi Tề Hoàn Công đi qua Quách quốc (bởi vì Quách quốc đã bị diệt vong rồi), ông liền hỏi  một ông lão ở đó rằng: “Quách quốc vì sao mà lại bị diệt vong vậy?”. Ông lão này trả lời: “Vì ưa thích thiện hạnh, chán ghét ác hạnh”. Tề Hoàn Công vừa nghe xong rất kinh ngạc: “Thái độ như vậy là tốt mà. Ưa thích thiện hạnh, chán ghét ác hạnh; thấy hiền nghĩ đến hiền, thấy không hiền liền phản tỉnh. Giả như là nói như vậy thì ông nhất định là hiền quân rồi, làm sao lại diệt vong chứ?”. Tiếp đến ông lão lại nói: “Nhưng lại không như lời nói như vậy, không phải chỉ có nhìn bề ngoài. Hoàng đế của Quách Quốc không thể dùng người thiện, người ác thì không thể bỏ, cho nên mới bị diệt vong. Hoàng đế tuy rằng ưa thích thiện hạnh nhưng lại là bề ngoài, muốn được sự tán dương của người khác, trên thực tế lại không hề dùng đến người có đức hạnh”. Kỳ thực, tự mình giành được danh tiếng tốt mà ngược lại xem nhẹ đi người hiền, lâu ngày dài tháng người ta cảm thấy không được tôn trọng, liền ra đi. Người có đức hạnh luôn muốn vì quốc gia, vì nhân dân mưu cầu phúc lợi, họ cũng không cầu gì khác, cho nên bạn không tôn trọng họ, không trọng dụng họ, họ nhất định sẽ ra đi. Ngược lại thì hiền nhân không ở, hiền nhân còn trách móc. “Người ác thì không thể bỏ”. Bạn chán ghét ác hạnh, nhưng ngược lại không thể bỏ đi những người không có đức hạnh này, không sa thải họ, không khiến họ phải rời xa mình, cho nên những người ác biết sẽ không được trọng dụng, nhưng lại không bị sa thải, họ sẽ nghĩ hoàng thượng suy cho cùng vẫn sẽ không trọng dụng, họ chất chứa thù hận trong lòng, cho nên sẽ oán hận. Người hiền oán trách, người vô đức thì hận, vậy thì đất nước đó rất nguy nan? Cho nên cái thiện thiện  ác ác này kỳ thực là thực hiện ở công phu bề ngoài mà thôi.

Hiện tại, vị phu nhân này lại vẫn còn ở bên cạnh hoàng thượng, cho nên trong lòng thần tử suy nghĩ là hoàng thượng cảm thấy để người phụ nữ này ở lại là đúng, nếu không thì người làm sao lại để cô ấy ở bên cạnh. Giả như bệ hạ cảm thấy khi đó Lô Giang Vương giành vợ của người ta là không đúng, nhưng ngược lại hiện nay lại để cô ấy ở bên cạnh, đó là người biết là không đúng nhưng lại không có mau mau xử lý. Đây cũng là “người ác mà không thể bỏ”, vậy thì vấn đề không phải là giống với vấn đề của Hoàng đế nước Quách hay sao? Rõ ràng biết là sai mà không sửa, sai rồi không sửa chữa, không xử lý. Nói thật ra, không xử lý việc này thì nhiều người biết được người ta sẽ nói: “Xem kìa, bệ hạ để người phụ nữ đó ở bên cạnh”. Càng nhiều người biết được thì uy tín của Thái Tông Hoàng đế sẽ càng giảm sút”. Thái Tông nghe xong rất hài lòng, việc này thật hiếm có, được thần tử khuyên đúng lúc, nên ông rất cảm kích. “Xưng vi chí thiện”, cảm thấy thần tử nói rất hay, sau đó lập tức đưa trả người phụ nữ này về với dòng tộc của cô. Cho nên Thái Tông Hoàng đế vẫn là rất phụng hành.

“Kỳ bất thiện giả nhi cải chi”,  biết rõ việc này là bất thiện liền mau tu sửa lại, quyết định không hằng thuận theo cái sai của mình, không thuận theo dục vọng của chính mình.

Chúng ta tiếp theo câu này, cũng là nói đến sửa lỗi: “Thấy người hiền, muốn được như họ” là hướng thiện, thấy bất hiền trong tâm phản tỉnh” là sửa lỗi. Câu này là ở quyển thứ hai.

Kinh văn nói: “Tử viết, quá nhi bất cải, thị vị quá hỷ”.

Tục ngữ có câu: “Người không phải Thánh Hiền, ai mà không có lỗi. Lỗi có thể sửa, thì thiện gì bằng”. Con người khi chưa khế nhập vào cảnh giới của Thánh Hiền thì không thể nào không có lỗi lầm. Đáng quý là khi có lỗi lầm có thể lập tức trân trọng chính mình, sau đó lại sửa đổi lỗi lầm. Cho nên tự yêu thương mình nhất định là từ sửa đổi lỗi lầm mà bắt đầu, không sửa lỗi thì không thể bàn đến việc tự trọng được. Không biết tự thương mình thì càng không thể nói đến yêu thương người khác. Cho nên cha mẹ vì thành tựu con trẻ phải làm tấm gương tốt cho con cái, cho nên họ sửa đổi bản thân, luôn luôn ảnh hưởng tốt cho con cái, đó chính là xuất phát từ lòng yêu thương con cái chân thật. Cho nên, muốn yêu người thì trước tiên phải tự yêu mình.

Câu Kinh văn này nói: “Tử viết, quá nhi bất cải, thị vị quá hỷ”. Một người có lỗi lầm mà không sửa đổi, đây chân thật gọi là lỗi lầm nghiêm trọng. Trong “Đệ Tử Quy” nói với chúng ta: “Biết sửa lỗi, không còn lỗi. Nếu che giấu, lỗi chồng thêm”. Sửa chữa trở lại rồi thì lỗi lầm đã không còn nữa, thậm chí là sau khi sửa chữa rồi còn làm ra tấm gương rất tốt cho con cái, gọi là “lãng tử hồi đầu vàng không đổi”. Giả như có lỗi rồi còn che giấu, đó chính là sai càng thêm sai. Lỗi chồng thêm là gia tăng thêm sai lầm. Vả lại, che giấu lỗi lầm, xem mặt mũi sĩ diện quá nặng không chịu thừa nhận (ưa sĩ diện chính là tham danh), những dục vọng này đều sẽ ngăn trở minh đức của chính mình, lương tri lương tâm không thấu lộ ra được. Chân thành không thấu lộ ra được đều là bị sự che đậy giấu diếm này chướng ngại mất. Ông trời muốn khai phá trí huệ của con người, gọi là “trời chỉ giúp những người có chí cầu tiến, biết tự cố gắng”. Một người có thể không tự lừa dối mình, không che giấu, có thể sám hối, phấn chấn, thì ông trời mới có thể giúp được họ. Cho nên sửa lỗi đối với đề cao tu dưỡng, mở rộng công danh của cuộc đời, nâng cao đối với đạo đức của chính mình là trọng điểm, đối với cải tạo vận mệnh cũng là trọng điểm. Sửa đổi, hành thiện thì con người mới có phước đức. Sửa đổi, uốn nắn rồi thì con người mới có trí tuệ. Tu phước, tu huệ đều phải từ sửa lỗi mà bắt đầu.

Chúng ta bình tĩnh mà suy nghĩ lại, chúng ta mỗi ngày có thể nhìn thấy được lỗi của mình hay không? Không thể thấy lỗi thì không biết bắt đầu từ đâu, cho nên phải thường có thể quán chiếu sự khởi tâm động niệm, lời nói việc làm của chính mình mới có thể phát hiện được sai lệch ở chỗ nào. Khổng Tử đã từng nói: “Dĩ hỷ hồ, ngô vị kiến năng kiến kỳ quá nhi nội tự tụng giả dã”. Khổng Tử đã cảm thán chữ “dĩ hỷ hồ” này thật là không dễ, thật là khó! “Ta chưa thấy qua người có thể thấy được lỗi của mình mà còn có thể tự phản tỉnh mình”. Thời đại của Khổng Tử, Ngài đã có sự cảm thán này rồi. Con người vào thời của Ngài Khổng Tử đức hạnh, tâm tánh vượt cao hơn chúng ta mà Ngài còn cảm thán đến như vậy, cho nên chúng ta hãy bình tĩnh mà thể hội câu nói này.

Quan sát lỗi lầm đều không phải là dễ dàng, đặc biệt là ở tại thời đại của chúng ta, cả tư tưởng và giá trị quan đều tương đối hỗn loạn, những cách nói nghe tưởng đúng mà lại sai rất nhiều. Ví dụ như thế nào gọi là thành công? Có thể cách nhìn của rất nhiều người đều không như nhau. Hiện tại cách nhìn phổ biến nhất chính là có tiền thì gọi là thành công, vậy thì người có tiền họ cảm thấy thật là kiêu ngạo, thật là ngạo mạn, họ có thể nhìn thấy được vấn đề của mình hay không? Họ có thể còn cảm thấy sự ngạo mạn đó khiến họ cảm thấy cuộc đời của họ thật là tốt, nên khoe khoang với người khác, khiến con người ta đều cảm thấy không còn mặt mũi còn họ thì cảm thấy rất đắc ý. Bản thân họ đều cảm thấy đắc ý thì làm sao họ có thể nhìn thấy được sự ngạo mạn của mình. Hiện tại là xã hội chủ nghĩa công lợi dường như chỉ vì kiếm tiền, bất kỳ thân bằng hữu hảo nào cũng phải tạo thuận lợi cho họ. Chúng ta vì kiếm tiền mà có thể mấy tháng không về thăm cha mẹ, vẫn cảm thấy đó là bình thường. Thậm chí cảm thấy bản thân đem tiền về cúng dường cho cha mẹ nhiều hơn những anh chị em khác, khi cả nhà tụ hội lại thì cái khí thế đó càng trở nên cao ngạo, “mình đưa 1.000, còn các anh em khác thì chỉ đưa 300”. Thậm chí đối với cha mẹ, bản thân mình cũng không phát hiện ra sự ngạo mạn, cảm thấy bản thân mình đang rất có hiếu, mình đưa tiền nhiều hơn so với người khác. Các vị xem, thấy lỗi của mình thật không dễ dàng. Đặc biệt là trong tâm khi tham - sân - si - mạn khởi tác dụng đều sẽ khiến người ta rất khó chịu.

Có một ông chủ nọ gây dựng sự nghiệp tại nơi mình ở cũng rất lớn. Sau khi học xong mới biết lỗi lầm hồi trước là quá đáng, lúc chưa học thì đều cảm thấy người khác là sai. Một lần nọ, hình như đã tiêu hết hơn mười ngàn để tổ chức một bàn tiệc, mời các anh em trong nhà cùng ăn đêm giao thừa. Tốn hơn mười ngàn cũng không phải là ít. Kết quả, anh em đều không đến, ông mới phát hiện ra sự ngạo mạn của mình, sự kiêu ngạo khiến cho anh em khó chịu. Đây là cảnh tỉnh người trong mộng. Sau đó, ông thật sự thừa nhận cái sai của mình, hối lỗi cái sai của mình, tiếp đến lại sửa sai cái lỗi đó. Ông trở về nhà, pha một chậu nước nóng, giúp mẹ ông rửa chân. Kết quả, mẹ của ông giật mình mà co chân lại nói: “Ôi trời, tôi không dám để cho đổng sự trưởng rửa chân đâu!”. Các vị xem, trong lời nói của mẹ ông, bà nhìn con của mình mà không thấy con của mình, bà nhìn thấy là đổng sự trưởng. Bởi vì ông trở về nhà khí thế của một đổng sự trưởng cũng không giảm đi một chút nào, làm mưa làm gió, ngay cả người mẹ của ông cũng cảm thấy bị áp lực.

Vừa rồi chúng ta có một câu nói: “Thấy bất hiền thì tự mình phản tỉnh”. Nghe đến chỗ này lại nghĩ: “Tôi nếu làm đổng sự trưởng có lẽ về sau sẽ không làm như vậy”. Kỳ thực, sự ngạo mạn này đều có thể khởi ra bất kỳ lúc nào, chỉ cần không cẩn thận. Ví dụ như nói chúng ta ở trong nhà, trước tiên học “Đệ Tử Quy”, trước tiên học văn hóa truyền thống, trong lòng liền cảm thấy cha mẹ mình không hiểu, người trong nhà không hiểu, chỉ có mình hiểu, vào lúc này thì không phát giác ra được sự ngạo mạn của mình đang tăng trưởng. Sau đó trở về nhà, quở trách những điều mình cảm thấy không đúng, quở trách những cái không phải. Học cho nhiều sau cùng lại trở thành như là phán quan, cảnh sát. Người trong nhà nhìn thấy chúng ta, chúng ta vừa ngồi xuống thì họ liền đứng lên: “Tôi đi uống một ly nước cái đã, anh cứ ngồi đi nhé”, rất sợ nói chuyện với chúng ta. Chúng ta vừa mở miệng liền muốn làm thầy của người khác. Cho nên những thứ này đều do không nhìn thấy lỗi lầm của chính mình. Vừa rồi chúng ta đã nhấn mạnh, hiện nay đạo lý nghe có vẻ đúng mà lại sai rất nhiều. “Nhận sai là đúng” đều có.

Ví dụ nói trốn thuế là sai, nhưng rất nhiều người lại cảm thấy họ có bản lĩnh. Người ta nghĩ không ra, họ thì nghĩ ra. Hiện nay biến thành như thế nào? Chơi trò khôn lỏi mà tưởng là bản lĩnh, nhận sai thành đúng, ngược lại thật thà y theo luân lý đạo đức thì bị người ta cười là ngốc, cảm thấy rất ngốc. Đó là nhận sai làm đúng. Nếu ở trong nếp sống xã hội như vậy mà thật sự có thể đứng vững không lay, tuân thủ đạo đức, người như vậy tất sẽ có hậu phước, tất sẽ có đại phước, ông trời nhất định sẽ chiếu cố họ, gọi là “đạo trời không thiên vị, thường giúp người thiện nhân”. Nhất định không đi ngược lại đạo đức, không trái ngược lương tâm.

Chúng tôi quen biết một vị trưởng giả, các anh em của ông đều rất phát đạt. Phụ thân của ông thì rất lão thật, là người làm quan chức. Mấy mươi năm trước, khi con cái còn nhỏ, trong nhà cũng khốn khó, đúng lúc có được một món tiền, mọi người đều tham ô mà cha của ông thì kiên trì nhất định không thể lấy tiền của nhà nước, người nào cũng lấy, chỉ có cha của ông là không lấy. Về sau, trở về ông nói với người vợ của mình tình trạng này. Người vợ của ông liền tán thành ý kiến của ông: “Đây là tiền mô hôi nước mắt của lão bá tánh, chúng ta nhất định không lấy một đồng một xu nào. Dù vất vả hơn nhưng chúng ta tâm an lý đắc”. Gặp những cảnh giới khảo nghiệm của cuộc đời mà có thể như như bất động thì tất sẽ có hậu phước. Về sau, cả ba người con của ông đều là ở vị trí cao nhất trong các ngành khác nhau. Vị trưởng giả này của chúng ta sau này mới biết được câu chuyện của người cha như vậy, ông liền đột nhiên thể hội được, ngày nay họ phát triển được như vậy đều là nhờ sự thanh liêm khi xưa của người cha đã che chở cho họ. “Nhà tích điều thiện tất có nhiều niềm vui”.

Trong thời đại này chúng ta không thể mặc tình trôi theo sóng nước, đúng và sai phải phân biệt rõ ràng. Bởi vì đúng sai không vì thời gian không gian thay đổi, mà đều là phù hợp với Hiếu - Đễ - Trung - Tín - Lễ - Nghĩa - Liêm - Sỉ thì mới chân thật là “đúng”, còn ngược lại thì chính là “sai”, nhất định không có một ranh giới mơ hồ nào. Cho nên muốn nhìn thấy lỗi, trước tiên phải phán đoán đúng sai cho rõ. Cho dù có thể phán đoán được đúng sai, cũng biết được việc này của mình sai nhưng không sâu sắc phản tỉnh, cũng thừa nhận là sai nhưng phản tỉnh không đủ sâu, vì sao vậy? Bởi vì thái độ bảo thủ quá mạnh, tới đâu hay tới đó, chưa hạ quyết tâm để phản tỉnh, để sửa đổi. Cho nên sự bảo thủ cũng là một cái bệnh, thậm chí là không có chí cầu tiến, rõ ràng biết là không đúng nhưng cho là “tôi cũng hết cách”, “tôi năng lực có hạn”, “tôi sửa không được”. Việc này sẽ rất khó sâu sắc phản tỉnh.

Còn một loại nữa là hữu khẩu vô tâm, ngoài miệng thì nói “được, xin cảm ơn, tôi biết rồi”, nhưng vẫn là phản tỉnh không đủ độ sâu, nên chưa chắc sẽ sửa đổi. Sự phản tỉnh này có người thì phản tỉnh quá mức, phản tỉnh đến cuối cùng mất hết cả lòng tin, không vực trở dậy được. “Hăng quá hóa dở”. Cho nên có thể tự mình phản tỉnh là điều đáng quý. Có thể biết sai, có thể nhận sai, tiếp đến không phải cứ ở đó mà ảo não, chán chường, quan trọng hơn là phải không để tái phạm nữa. Sửa đổi, sám hối nghĩa là về sau không phạm nữa, đây mới chân thật là tâm thái chính xác tích cực đối diện với lỗi lầm mà sửa đổi trở lại. Muốn thấy lỗi, muốn hối lỗi, muốn sửa lỗi vẫn là phải trở về sự công phu ở trên tâm địa, cho nên bệnh là bệnh ở trong tâm.

Đầu tiên phải uốn nắn. Con người không bằng lòng buông bỏ những dục vọng này, mỗi ngày chính là bị những ham muốn vật chất dắt mũi mà đi, làm sao mà sửa. Mỗi ngày nhìn thấy những dụ hoặc này liền nhẫn không được thì không làm chủ được. Đầu tiên phải có thể “cách vật, trất dục”. Dục vọng phải biết tiết chế, dần dần mới có thể sửa đổi lỗi lầm.

Tiếp đến, tập khí của chính mình không thể làm chủ, phải tùy thuận Kinh điển, không thể tùy thuận tập khí phiền não của chính mình. Ví dụ như bản thân ngạo mạn thì bạn không thể tùy thuận, tự mình tâm tư hóa thì không thể tùy thuận. Chúng ta thường hay nói: “Cá tính con người của tôi là như vậy đó”, vậy thì sẽ sửa không được, luôn chừa cho mình bậc thang để đi, đưa ra cho mình đầy những lý do. Bởi vì dục vọng là chướng ngại, là tập khí. Người có tu dưỡng thì làm gì có tính cách riêng chứ? Tính cách đều là mượn cớ. Người có tu dưỡng nhân từ bác ái, niệm niệm đều suy nghĩ cho người khác. Còn có nhiều lý do, mượn cớ thì đều sẽ chướng ngại sự sửa đổi lỗi lầm. Cho nên đối với tập khí của chính mình phải đuổi cùng diệt tận, phải có thái độ như vậy. Đối với người thì phải phúc hậu ba phần.

Tiếp đến vẫn còn một loại, đó là phong tục trong cuộc sống của chúng ta. Khi đã thâm nhập vào tập tục rồi sẽ không phân biệt được đúng sai thị phi, sau cùng không có cách nào tự thoát ra khỏi. Ví như vì người xử sự quan trọng nhất là đạo nghĩa, “lễ nghĩa” là chuẩn mực, là thước đo của hành vi. Nhưng nếp sống hiện nay là chỉ biết theo đuổi lợi ích, chủ nghĩa công lợi. Lúc này chúng ta có thể sẽ suy nghĩ: “Mọi người đều như vậy”. Nếu mọi người đều như vậy thì phía sau sẽ thêm một câu là: “Như vậy cũng rất bình thường”. Trong vô hình trung sự nhận biết này sẽ chướng ngại chính mình mạnh dạn sửa sai. Dũng cảm tùy thuận giáo huấn của Kinh điển nhưng dũng khí này không đề khởi được, thấy nghĩa phải dũng mãnh lên.

Ngày nay chúng ta đều nhìn tiền bạc nhưng không nhìn thấy được mong muốn của cha mẹ, nhìn không thấy được sự nguy cấp của thân bằng quyến thuộc. Trong lòng chúng ta còn suy nghĩ là: “Người không vì mình thì trời tru đất diệt”. Toàn bộ đều đã bị lối sống thế tục ô nhiễm mất.

Chúng tôi đã từng cùng với rất nhiều bằng hữu cùng nhau xem bộ phim của Tiên sinh Bạch Phương Lễ. Các vị xem, ông ấy khó khăn đến như vậy, cả đời tích góp được 5.000 tệ đều đem ra xây trường hết. Ông không tùy thuận công danh lợi lộc, ông cảm thấy cả đời vô tư, cả đời vui sướng nhất chính là việc nào cần nên làm thì tận tâm tận lực mà làm. Đây là không bị thế tục làm ô nhiễm. Không phải tới đâu hay tới đó thì mới có thể biết lỗi, hối lỗi, tiến đến là sửa lỗi.

QUẦN THƯ TRỊ YẾU 360 Tập 22

Đây là nói đến sửa lỗi. Để có thể biết lỗi thì trước tiên họ đối với thị phi, thiện ác, chánh tà, tốt xấu phải có thể phán đoán được rõ ràng. Điểm này còn phải thông qua việc học nhiều Kinh điển. Trong “Chư Tử Trị Gia Cách Ngôn” có nói: “Tổ tiên tuy mất đã lâu nhưng việc tế bái không thể không thành kính, con cháu tuy ngu dốt nhưng Kinh điển không thể không tìm đọc”. Thị phi, thiện ác không phải là học cao mà biết được. Học lực cao là học những thứ về chuyên môn, tri thức tương đối phong phú. Thị phi, thiện ác chân thật ở trong Kinh điển xưa nay không hề thay đổi.

Chúng ta gần đây nhìn thấy rất nhiều thanh thiếu niên phạm lỗi, tổn hại cha mẹ, thậm chí là sát hại cha mẹ. Chúng ta nghe đến những tình huống này vô cùng kinh hãi, rất lo âu, tiến một bước nữa là mau mau dạy luân lý đạo đức cho con cái. Có một người đến Nhật Bản du học năm năm. Có một lần, người mẹ gửi tiền cho cậu. Đi du học Nhật Bản đời sống ở đó rất cao. Người mẹ cũng rất hiếm có, thắt lưng buộc bụng, cứ như vậy chỉ trong một khoảng thời gian là đã có thể chuyển tiền qua cho cậu. Một lần nọ, cảm thấy chuyển tiền quá ít, cậu trở về nước, vừa xuống máy bay (vẫn còn ở sân bay), vừa nhìn thấy người mẹ, câu đầu tiên nói ra một cách đầy phẫn nộ: “Bà lần trước tại sao gửi tiền cho tôi ít như vậy”. Người mẹ vừa mới bắt đầu giải thích một chút về tình cảnh, nó liền lấy con dao ra liên tục đâm nhiều nhát vào mẹ của nó. Những người bên cạnh đều không dám can ngăn. Sau khi người mẹ gục ngã xuống, chỉ có một người Mỹ đến đưa mẹ của nó vào bệnh viện. Trong nhận thức thông thường nhất, để đi du học ở Nhật Bản thì phải có trình độ học tập xuất sắc nổi bật, nhưng ngược lại, lại nhẫn tâm với người mẹ của mình như vậy. Trong lòng nó có thị phi không, có thiện ác không? Lẽ nào không đáng để cho người làm cha mẹ, người làm thầy cô chúng ta và cả những người làm trong bộ giáo dục của chính phủ phải phản tỉnh hay sao? Chúng ta bồi dưỡng ra thế hệ học trò học lực rất cao, ngược lại lại làm ra những sự việc hết sức tàn nhẫn như vậy, vậy thì gia đình chúng ta còn có hy vọng hay không, cả xã hội vẫn còn hy vọng hay sao? Cho nên vấn đề nghiêm trọng nhất là xem trọng học tập tri thức, học tập kỹ năng nhưng xem nhẹ đạo đức, xem nhẹ căn bản. Đầu đuôi lẫn lộn như vậy thì làm sao có thể dạy dỗ ra những đứa con tốt được?

Cho nên ở trong quyển “Đại học” nói với chúng ta: “Đức giả bổn dã, tài giả mạc dã”. Chúng ta hiện tại đều chỉ nhìn thấy tài năng, nhìn thấy học lực, nhìn thấy tri thức thành tích, ngược lại xem nhẹ giáo dục đức hạnh. Đây là việc nghiêm trọng nhất. Bởi vì những hiện tượng này xuất hiện, nó không phải là ngẫu nhiên, nó có thể sẽ càng ngày càng nhiều. Bởi vì đã xem nhẹ giáo dục hết mấy mươi năm, mất trâu rồi mới mau mau lo làm chuồng. Mọi người mau mau cùng nhau học tập Kinh điển của lão tổ tông thì mới biết cách phán đoán. Vả lại đọc một lần, đọc hai lần cũng chưa đủ, phải trường kỳ huân tu. Số lần chưa đủ thì bạn gặp cảnh giới sẽ không thể đề khởi lên được. Không cần nói người thông thường, chúng ta một ngày không đọc thì năng lực quán chiếu cũng không đủ, sai rồi mà vẫn không biết, cho nên không ngừng duy trì dụng công huân tập mới có thể quán chiếu được lỗi lầm và tiến đến việc sửa đổi. Nếu không, mỗi ngày đều bị tập khí làm chủ mà không biết thì sẽ rất khó đề cao. Mỗi ngày sớm tối đều phải có bài khóa đọc Kinh điển cố định, không thể gián đoạn. Công phu đủ thì trở ngại sẽ thông. Bạn không thể đọc một ngày lại nghỉ ngơi hai ngày, nhất định sẽ thối lui. Cho nên, ngày trước người đọc sách đã nhắc nhở chúng ta: “Ba ngày không đọc sách, mặt mũi liền khó coi”.

Chúng ta hãy dùng khoa học để phân tích. Chúng ta hiện tại bao nhiêu lâu không đọc sách thì mặt mũi khó coi? Thật tình mà nói, chúng ta hiện nay dù mỗi ngày đọc nhưng mặt mũi vẫn khó coi, vì sao vậy? Bởi vì tập nhiễm quá nghiêm trọng, thậm chí vừa đọc vừa hoài nghi: “Làm người nhất định phải làm một cách vất vả như vậy sao?”. Vẫn cứ hoài nghi cái này, lựa chọn cái kia, chọn lựa đến cuối cùng đều không phải là học tập Thánh Hiền mà tự học với chính mình, tùy thuận vào sự yêu ghét của chính mình mà lĩnh hội Kinh điển. Con người tự biết mình mới gọi là người minh bạch. Không sai, ngày ngày đọc mà mặt mũi cũng khó coi. Vì sao vậy? Bởi vì mỗi ngày chỉ đọc nửa giờ đồng hồ, không đủ. Vậy phải làm sao? Vì sự thành công mà tìm phương pháp. Đọc một giờ, đọc hai giờ, huân tập đến trình độ nào vậy? Khi không đọc Kinh, hễ gặp phải sự tình gì thì những câu Kinh này có thể lan tỏa ra, vậy thì tùy thời tùy lúc đều đang huân tập, đều đang nhắc nhở chính mình.

“Đạo dã giả, bất khả tu du ly dã”. Con người một khi không giữ chánh niệm thì sẽ nghĩ tưởng lung tung. Cho nên tinh tấn không giải đãi, hễ có thời gian thì mau nghe Kinh đọc Kinh, hễ có sự việc gì liền chân thành, tận tâm tận lực, một lòng cung kính, cẩn thận mà xử lý sự tình. Trong quá trình xử lý thì luôn luôn đối chiếu giáo huấn trong các Kinh điển, như vậy thì sự dụng công không gián đoạn. Không gián đoạn thì mới có thể nâng cao. Cho nên trong Kinh điển có thí dụ, người tu hành giống như dùi cây lấy lửa, bạn phải dùi đến khi nảy ra lửa. Nếu bạn xoay được một chút liền nói: “Ôi, mỏi tay quá”, liền ngừng lại một chút thì việc dùi lửa đó không phải là uổng công rồi hay sao? Cho nên công phu phải sâu, “có công mài sắt có ngày mới nên kim”, công phu không thể gián đoạn. Nếu như mọi người không tin, ví dụ như chúng ta dụng công được một - hai tuần, chỉ cần xem phim đánh đánh giết giết một chút thì toàn bộ công phu của hai tuần đó mất hết. Đương nhiên bạn không nhất định phải thử, tôi chỉ là ví dụ một chút. Chúng tôi ngày trước đều có kinh nghiệm này. Dụng công được một thời gian, mới tiếp xúc ô nhiễm được một chút thì tâm tà niệm, ác niệm liền sinh ra. Nhất định phải giữ gìn tốt chính mình, phải tự mình biết mình. Khi công phu vẫn còn chưa đủ phải biết tiến thối. Nếu vẫn chống không nổi những ô nhiễm này phải mau lấy thối làm tiến. Chân thật có định lực rồi thì được. Trước khi còn chưa có định lực thì phải biết tránh né ô nhiễm.

Chúng ta xem, công phu của Nhan Hồi xem ra cũng rất tốt, nhưng Khổng Tử đã dạy ông bắt đầu hạ công phu từ chỗ nào? “Phi lễ chớ xem, phi lễ chớ nghe, phi lễ chớ nói, phi lễ chớ làm”. Chỗ thấy, chỗ nghe, chỉ cần ảnh hưởng đến tâm thanh tịnh, tâm cung kính thì nhất định phải tránh. Việc này chính là hộ niệm sự tu hành của chính mình. Nhan Hồi dụng công như vậy huống hồ là chúng ta. Cho nên “Đệ Tử Quy” nói với chúng ta: “Không sách thánh, bỏ không xem. Hư thông minh, che tâm trí”. Cho nên muốn sửa đổi, đầu tiên phải có thể tránh được những ô nhiễm này. Bản thân có định lực, có trí huệ rồi, chân thật người ta có nhu cầu, bạn lại không bị ô nhiễm, như vậy thì có thể nói đến việc giúp đỡ người khác. Nếu không, dù chúng ta có lòng tốt thì cũng như Bồ Tát bằng đất qua sông, còn khó giữ được chính mình. Chúng ta có được sự trường kỳ huân tu, như vậy khi gặp phải một số cảnh duyên có thể khởi sự quán chiếu, phát giác được vấn đề, tiếp đến là phản tỉnh, sau đó sửa đổi cải chính một cách cụ thể. Cho nên sửa lỗi là một quá trình, không phải chỉ chốc lát là xong. Lý có đốn ngộ, sự có tiệm tu, phải đối trị tập khí từng chút từng chút một.

Ví dụ, chúng ta đều biết tham - sân - si không tốt, sự sân hận này làm tổn hại thân tâm của chính mình, sau đó cũng khiến con người đau khổ. Chúng ta hiểu đạo lý này, chúng ta đã buông bỏ được tâm tư hay chưa, đã buông bỏ tâm sân hận hay chưa? Lý đã đốn ngộ rồi, sự tình vẫn là phải hạ công phu từng chút từng chút một. Chúng ta có cách cụ thể để đối trị với những tính khí xấu này hay không? Giả như chúng ta biết tính khí xấu là không tốt, nhưng lại không tỉ mỉ sửa đổi, vậy đây cũng là “người ác thì không thể bỏ đi” rồi. Biết sai mà vẫn không mau mau trừ bỏ những tập khí xấu này, vẫn để cho chúng ngày ngày làm ô nhiễm chính mình.

Chúng ta làm sao trừ bỏ tính khí xấu? Đầu tiên, mỗi ngày đọc Kinh điển.“Lời nhường nhịn, tức giận mất”, “sắp cho người, trước hỏi mình”. Càng rõ lý, càng có thể phát hiện được lỗi lầm. Lại nữa, con người hễ nóng vội thì sẽ dễ dàng nổi tính xấu, cho nên bình thường mỗi lời nói việc làm phải thong thả, hễ mà vội thì có lúc sẽ dễ bị bốc hỏa. Cụ thể, bất kỳ sự việc gì phát sinh, hễ có việc không vui, đầu tiên hãy nhắc nhở chính mình “ta sai ở chỗ nào?. Một khi phản tỉnh thì việc bốc hỏa sẽ hạ xuống. Lửa giận con người mà không hạ được thì sẽ chỉ biết nhìn vào điều không đúng của người khác. Chúng ta chưa bàn đến người khác đúng hay không, trước tiên hãy suy nghĩ xem chúng ta có gì không đúng. Tập thành tính tự phản tỉnh khi gặp vấn đề cũng là đối trị với tâm sân hận.

Cũng như “Chư Tử Trị Gia Cách Ngôn” có nói: “Nhân vì việc mà tranh giành nhau, biết đâu chừng mình đây là người không phải. Nên bình tâm ngầm nghĩ ngợi. Người người tự trách thì trời yên biển lặng”. Việc này đều là nhắc nhở chúng ta, bất kỳ sự việc gì trước tiên hãy bình tĩnh mà phản tỉnh. Bởi vì một bàn tay vỗ thì không kêu, chỉ cần xung đột, kỳ thực là kẻ tám lạng người nửa cân, vừa phản tỉnh thì lửa giận liền giảm xuống. Ngoài việc tự mình tỉnh giác, còn phải dùng tâm chân thành để khải thỉnh những người bên cạnh nhắc nhở chính mình: “Nếu như anh nhìn thấy tôi bắt đầu nổi giận thì anh hãy giậm chân tôi một cái, được không?”. Ngầm ý như vậy liền sẽ được nhắc nhở. “Người trong cuộc thì mê, người ngoài cuộc thì rõ”. Việc này cũng rất quan trọng.

Lần trước, chúng ta nghe bà Tổng tài Lưu Phương có nói, mỗi lần bà ở bên cạnh chồng của mình, khi chồng của bà sắp sửa nổi giận thì phía dưới gầm bàn bà sẽ đưa tay qua ấn lên bàn tay của chồng. Chồng của bà vốn dĩ sắp bộc phát ra, người vợ vừa nhắc nhở thì đã nhanh chóng hạ xuống. “Phẫn tư nan”. Sau khi phẫn nộ sẽ rất khó thu hồi trở lại, đương nhiên người vợ này cũng rất có trí huệ, nhắc nhở người chồng, muốn anh giữ thể diện. Rất nhiều người vợ không hiểu đạo lý này, không thấu hiểu nhân tình thế thái, khi chồng mắc lỗi liền lập tức ngay trước mặt đại chúng nói: “Ôi trời, anh nổi cáu như vậy để làm gì?”. Xem ra có vẻ cô đang khuyên anh, nhưng hiệu quả ngược lại. Chúng ta hiện nay rất có thể khi khuyên người khác, “kỳ lạ thật, làm sao mà càng khuyên dường như vấn đề lại càng nghiêm trọng hơn?”. Việc này đều là không có chú ý đến nhân tình thế thái, gọi là “điều tễ nhân tình”. Trong lòng họ có thể tiếp nhận thì mới có thể “phát minh sự lý”. Bởi vì bạn điều hòa được nhân tình thế thái, trong tâm họ dễ chịu rồi, họ cảm thấy bạn vì muốn tốt cho họ. Cho nên, khuyên người nhất định phải khiến đối phương cảm thấy bạn mọi việc đều vì họ, họ mới dễ dàng tiếp nhận. Giả như chúng ta đem lại cho đối phương cảm giác như “anh chính là thấy tôi không vừa mắt”, “anh chính là cố nhìn vào điều không tốt của tôi”, thì người ta sẽ rất khó tiếp nhận lời khuyên của chúng ta.

Có một vị đồng nghiệp, một hôm nọ khi chúng tôi giao lưu với nhau, cô nói chồng của cô có điều không đúng, cô liền khuyên bảo anh ấy ngay. Sau đó cô nói: “Chồng của tôi không thể tiếp nhận, nên thôi bỏ đi, không khuyên nữa”. Các vị xem, những lời của cô sau cùng là “thôi bỏ đi, không khuyên nữa”. Đây là kết luận của cô. Các vị học trưởng, trong “Tứ Thư”, trong các Kinh điển thì có câu nói “thôi bỏ đi, không khuyên nữa” hay không? Không có. Trong Kinh điển nói: “Trung yên, năng vật hối hồ”. Bạn nếu như hết lòng đối với người khác, làm sao có thể không nhắc nhở họ, không giáo huấn họ chứ. “Giáo nhân dĩ thiện, vị chi trung” là Mạnh Tử đã nói. Bạn phải tận một phần sức lực này mới là lòng trung. Bao hàm cả “Hiếu Kinh” cũng đã nói: “Tiến thì nghĩ đến việc tận trung, thối thì nghĩ đến việc sửa lỗi”. Bất luận là vợ chồng, bất luận là cha con, bất luận là vua tôi, trong ngũ luân đều có bổn phận khuyên bảo hộ niệm cho đối phương, làm sao có thể nói “thôi bỏ đi, không khuyên nữa”. Đó gọi là gì? Đó gọi là không có tính nhẫn nại, không có thiện xảo, là tính xấu đang làm chủ. Trong lòng nổi giận nên “mặc kệ anh”. Cho nên chúng ta xem ra thì đang học tập cổ Thánh tiên Hiền, trên sự thực hễ không chú ý thì đã tùy thuận phiền não tập khí của chính mình rồi. Cho nên trong “Hiếu Kinh” đã nói rất hay: Chẳng phải phép mặc của tiên vương, không dám mặc. Tất cả thái độ trong cuộc sống đều phải tương ưng với tinh thần của Thánh Hiền. Chẳng phải phép nói của tiên vương, không dám nói, tất cả những gì đã nói đều là tương ứng với Kinh điển. Quen riết thành tự nhiên, sau cùng nói như thế nào đi nữa đều là giáo huấn của Thánh Hiền. Miệng không để mà vẹn vẹo ngôn ngữ, thân không để mà ép uổng hành vi. Ngôn ngữ dẫy đầy thiên hạ nhưng hiếm có lời xằng bậy. Cho nên nhất định phải tập thành thái độ tùy thuận giáo huấn của Thánh Hiền thì mới không tạo nghiệp. Mỗi ngày tùy thuận tập khí để nói chuyện, làm việc lại tạo tội nghiệp. Đương nhiên việc này là có quá trình, tiến tiến thối thối thì cũng là bình thường, nhưng mà cho dù bẻ mấy cũng chẳng cong, càng thất bại càng phấn đấu. Vị đồng nghiệp này cũng được tham dự buổi giảng của thầy Hồ Tiểu Lâm vào Tết nguyên đán năm nay tại Singapore. Cô nghe được người ta nói: “Thầy Hồ Tiểu Lâm làm đến mức khiến cha mẹ rất hoan hỷ”. Mẹ của thầy còn nói bà tôn trọng nhất chính là Sư trưởng Ngài. Vì sao vậy? Bởi vì nhờ Sư trưởng Ngài đã dạy dỗ được con của bà trở thành hiếu tử. Vị đồng nghiệp của chúng ta nghe đến chỗ này thì liền rất buồn: “Anh xem, vị Hồ Đổng này người ta làm được tốt đến như vậy. Tôi làm sao lại lại kém cỏi như vậy?”. Các vị xem, cô lại lạc vào trong sự chán chường, sau đó thì tự trách. Kinh điển không có dạy chúng ta chán nản, cũng không có dạy chúng ta tự trách, làm sao mà chúng ta lại rơi vào trong quán tính của chính mình mất rồi? Việc “sai mà không chịu đổi” này, chúng ta phải có năng lực quán chiếu cao độ thì mới có cách. Chúng ta đã tiêu tốn quá nhiều thời gian và sức lực vào trong những tập khí này, khi đó phải nghĩ đến “chớ tự chê, đừng tự bỏ. Thánh và Hiền, dần làm được”. Việc này rất là có ý nghĩa. Rõ ràng trong đĩa giảng của thầy Hồ, câu nói này được nhấn mạnh nhiều lần, kết quả thì chúng ta lại không có ấn tượng gì với câu nói này, lại còn tự mình rơi vào trong sự chán nản. Rõ lý rồi thì hãy mau làm như mới đúng, không nên xen tạp những mặt trái của tâm tư của mình.

Vừa rồi chúng ta đã nói đến, chúng ta dù đã biết chúng ta có tâm sân hận, dùng phương pháp để đối trị như thế nào? Từ điểm này, từ tính khí của mình, chúng ta suy một mà ra ba. Ví dụ chúng ta phát giác ra mình không có sự bền lòng, vậy phải làm sao? Ví dụ làm từ thời khóa sớm tối nhất định không để gián đoạn, tập thành sự bền tâm. Ví dụ như mỗi ngày kiên trì rèn luyện thân thể từ nửa giờ trở lên, tập thành thói quen, như vậy sẽ luyện sự bền lòng cho chính mình. Đều phải từ trên những công việc cụ thể, chân thật gìn giữ cho được sự bền lòng. Giống như chúng ta cùng nhau đọc tụng Kinh điển, đây đều là nuôi dưỡng sự bền lòng. Bao gồm cả việc “mỗi ngày làm một việc thiện” trước khi ngủ hoặc khi chiều tối, xem bạn mỗi ngày có hành thiện hay không? Bao gồm cả việc mỗi ngày đều nhìn vào ưu điểm của người khác, không ngừng ở việc chính mình phải hành thiện mà vẫn còn phải luôn “thấy người tốt, nên sửa mình”. Ai có ưu điểm, ai tốt với ta, hãy ghi chép lại. Tiếp đến tập thành thói quen “mỗi ngày phản tỉnh một điều lỗi”, hôm nay ta có ý niệm nào chưa đúng, câu nói nào là đúng thì viết ra, ấn tượng sẽ rất sâu, sẽ không dễ tái phạm. Mỗi ngày không lắng đọng như vậy thì tình tính khí sẽ sốc nổi, rất dễ dàng tùy thuận tập khí làm sai việc, sau đó sẽ tuần hoàn ác tính. Cho nên con người nhất định phải có công phu bình tĩnh phản tỉnh. Công phu đều đến từ việc duy trì sự bền lòng mới nâng cao lên được. Cho nên công phu “nước chảy đá mòn” quan trọng. Đây là từ sự bền lòng. Thậm chí, nếu chúng ta không thực tiễn mỗi một câu Kinh điển trong “Đệ Tử Quy”, bản thân mình sẽ rất khó sửa lỗi, bởi vì mỗi một câu Kinh điển đều là tập thành thói quen tốt, trừ bỏ thói quen xấu.

Ví dụ như: “Phàm nói ra tín trước tiên”. Đây là thói quen rất quan trọng, đây cũng là cung kính đối với người. Chúng ta thất tín với người, tăng thêm phiền não cho người ta, nhưng chúng ta có lúc sẽ tùy thuận sự tiện lợi của chính mình, bản thân sẽ lơ là, sẽ quên mất. Tình trạng như vậy sẽ xuất hiện một lần, hai lần, rồi ba lần, chúng ta có suy nghĩ ra phương pháp cụ thể nào để khắc phục hay không? Từ chỗ này chúng ta liền nhìn thấy được chúng ta có cung kính đối với học vấn hay không, chúng ta đối với người khác có cung kính hay không? Một lần, hai lần, ba lần phạm cùng một lỗi nhưng vẫn không chịu sửa sai, thái độ này thật không thỏa đáng. Khi phát giác ra được chúng ta phạm cùng một lỗi lầm lặp lại nhiều lần, thì hãy mau mang theo bên mình một tờ giấy hoặc quyển sổ nhỏ, người ta vừa giao phó liền ghi chép lại. Đây đều là phương pháp sửa đổi cụ thể. Việc này gọi là thái độ chịu trách nhiệm. Thậm chí là lúc chiều tối cũng vậy, lúc ban đêm cũng vậy, xem lại thử việc đáng lẽ phải làm hôm nay thì đã làm trọn vẹn hay chưa? Nếu chưa, nếu còn sót thì hãy mau xử lý.

Tử Lộ có một ưu điểm đáng để chúng ta học tập. Tử Lộ là người “không có lời hứa cũ”, khi vừa hứa với ai thì nhất định phải làm cho xong, nhất định không có việc hôm nay nhận lời ngày mai mới làm. “Lời hứa cũ” chính là không để qua đêm, nhận lời rồi trong ngày hôm đó liền làm cho xong. Cho nên chúng ta cũng tập thành thói quen, gọi là “việc hôm nay, hôm nay làm”. Nếu không, cứ dồn lại càng ngày càng nhiều, sau cùng có thể xử lý không xong thì lại thất tín với người ta.

Chúng ta xem câu kế tiếp. Việc này ở trong quyển thứ hai của luận ngữ cũng có nói. Tử Cống nói: “Lỗi lầm của người quân tử giống như nhật thực nguyệt thực. Mắc lỗi lầm thì ai ai cũng đều thấy, sửa đổi rồi thì như quang minh tái hiện sau nhật thực nguyệt thực, người người đều kính ngưỡng”.

Tử Cống đã nói đến lỗi lầm của người quân tử giống như nhật thực và nguyệt thực. Khi nhật thực là mặt trăng che khuất ánh sáng mặt trời, nguyệt thực thì đúng lúc trái đất nằm chính giữa che khuất ánh sáng của mặt trời. Đây chỉ là ví dụ. Khi quân tử có lỗi lầm thì giống như hiện tượng nhật thực, nguyệt thực, người người đều nhìn thấy. Cho nên phạm phải lỗi lầm, mọi người đều nhìn thấy. Đặc biệt là khi chúng ta là bậc làm cha làm mẹ, chúng ta làm thầy cô dạy học, chúng ta là người lãnh đạo của một đoàn thể, gọi là “quân - thân - sư”, đây là tam bảo của văn hóa truyền thống. Cha mẹ ảnh hưởng đến con cái, thầy cô ảnh hưởng rộng khắp các học trò, người lãnh đạo thì ảnh hưởng đến nhân tâm của cả đoàn thể. Bởi vì trên làm dưới theo, vả lại bởi vì con cái, học trò, cấp dưới mỗi ngày đều nhìn thấy “quân - thân - sư”, trong lòng họ rất tôn trọng, cho nên rất tập trung nhìn vào. Chúng ta nếu làm sai, họ liền nhìn thấy được. Bạn xem, con cái tôn trọng cha mẹ như vậy, cha mẹ ngày ngày tùy thuận tập khí thì con cái khó chịu nhất. Chúng tin tưởng vào tâm tánh của cha mẹ, là thiên tánh, là tự nhiên, nhưng cha mẹ vẫn cứ để tập khí làm chủ, thậm chí có lúc nổi giận đánh con cái, dần dần lòng tín nhiệm của con cái sẽ không còn nữa, sau cùng trở thành hoài nghi cha mẹ. Con cái không thể tín nhiệm cha mẹ, chúng ta không thể cứ trách con cái, vẫn là phải phản tỉnh chúng ta đã làm ra những hành vi có đức hạnh hay chưa? Phải giữ gìn thiên tính đó của con cái.

Con trai từ nhỏ khâm phục nhất chính là người cha. Tôi hiện nay sắp  bốn mươi tuổi rồi, tôi cũng khâm phục nhất chính là cha của tôi. Tôi rất hoan hỷ học theo cha của mình, bao gồm cả người thầy. Chúng tôi ở trường dạy học những đứa trẻ, chúng tôn trọng chúng tôi. Khi chúng thấy người thầy của mình có rất nhiều hành vi không đúng, nội tâm của chúng sẽ vật lộn, vướng mắc. Chúng ta làm sao lại nhẫn tâm chướng ngại trẻ nhỏ, tổn hại trẻ nhỏ như vậy.

Khi tôi còn dạy học ở trường, tôi xem thấy câu nói này thì rất cảm động. Có lúc bị tập khí làm chủ, bản thân rõ ràng cư xử sai lầm, vẫn đang ở đó “che giấu”, đang mượn cớ. Trẻ nhỏ tâm địa rất thanh tịnh, thầy cô vừa mượn cớ, tâm địa của học trò liền cảm nhận được một cách tự nhiên. Nghe ta đang ở đó giải thích, chúng ngồi đó mà càng nghe sắc mặt càng khó coi. Chúng nghe mà không lọt tai thì chúng cũng không giả vờ. Chúng không có bất kỳ mong cầu nào, chúng sẽ thẳng thắn biểu lộ ra “thầy sao lại đang giả vờ mượn cớ vậy chứ”, sắc mặt rất khó coi. Tôi vừa nhìn thấy vẻ mặt của chúng, càng lúc càng nói không ra lời. Đây cũng là còn biết ăn năn hối lỗi. Lập tức chuyển đổi ý niệm, phải thừa nhận lỗi lầm thì mới được. Ngay lúc đó liền nói với học trò: “Việc này là thầy không đúng, thầy có chỗ nào sai thì cho thầy xin lỗi các em”. Tôi cúi đầu với chúng một cái. Khi tôi ngước đầu lên thì nét mặt của chúng đều thay đổi hết, trở nên sáng lạng, đôi mắt cũng mở to ra, ngược lại cũng bội phục thầy đã dũng cảm nhận sai. Cho nên, “khi phạm lỗi thì người người đều nhìn thấy”. Nếu ngay lúc đó chịu nhận sai, chịu sửa sai, “sửa đổi rồi thì người người đều kính ngưỡng”, thì sẽ chiếm được sự tín nhiệm và lòng bội phục của học trò. Cha mẹ, thầy cô như vậy, một người lãnh đạo của đoàn thể cũng phải có thái độ như vậy thì mới có thể lắng đọng được nhân tâm. Không chịu thừa nhận sai lầm thì lòng tin của người ta đối với chúng ta liền mất đi.

Đường Thái Tông là một vị minh quân, ở điểm này thì ông vô cùng đáng quý. Mọi nơi trong “Trinh Quán Chính Yếu”, trong lịch sử của Đường triều đều thấy được sự dũng cảm thừa nhận lỗi lầm đáng quý của Đường Thái Tông. Có một lần, con ngựa ông yêu thích nhất bị người nuôi làm chết, thế là ông rất giận liền muốn giết chết người này. Người vợ của ông rất nhu hòa, đã kể cho ông nghe một câu chuyện về Tề Cảnh Công ngày xưa. Tề Cảnh Công thời Xuân Thu cũng là một người rất thích ngựa, cũng bị một thuộc cấp làm chết ngựa, lúc đó cũng muốn giết người nuôi ngựa. Kết quả là ông Án Anh cũng rất khéo léo, ngay lập tức nói: “Hoàng thượng, người này thật đáng chết, để hạ thần xử lý hắn”. Trước khi hắn chết, hãy để hắn được biết rõ ràng, đó là hắn đã sai ở chỗ nào, hắn đã phạm phải ba sai lầm nghiêm trọng. Thứ nhất là đã làm chết con ngựa yêu quý nhất của hoàng thượng, đây là tội đáng chết. Thứ hai, hắn sẽ khiến cho người trong cả nước biết được Tề Cảnh Công vì một con ngựa mà giết lính của mình, sẽ khiến cho người cả nước đều xem thường Tề Cảnh Công, đây là tội đáng chết thứ hai. Tội thứ ba chính là khiến cho tất cả các nước khác xem thường Tề quốc chúng ta, vì sao vậy? Hoàng thượng chỉ vì một con ngựa mà giết thuộc hạ của mình. Là ba cái đại tội này. Nói xong thì Tề Cảnh Công liền nói: “Thôi được rồi, thả hắn đi, thả hắn đi!”. Câu chuyện này nói xong Đường Thái Tông nghe cũng hiểu ra, đáng quý ở chỗ nào? Đó là chỉ cần người ta nói là đạo lý, ông lập tức có thể nguôi giận. Phía sau vẫn còn vài ví dụ.

Sau khi nghe xong, Đường Thái Tông lại nói với các đại thần ở bên cạnh: “Ta thật may mắn có được người vợ tốt như vậy ở bên cạnh, mỗi lần vợ ta nói đều đem lại cho ta sự khởi phát rất to lớn”. Ông không những tiếp nhận, mà còn sinh khởi tâm cảm ơn, trân trọng sự giúp đỡ của người vợ. Đường Thái Tông có thể lập tức buông bỏ lỗi lầm của mình, sau khi sửa lỗi thì người người đều ngưỡng mộ, người trong thiên hạ, người ở bên cạnh càng cảm phục. Một con người dũng cảm sửa lỗi mới thật sự có được sự tôn trọng của người ở bên cạnh. Một người tu dưỡng mà không dũng cảm sửa lỗi, thậm chí ngay cả người bạn đời thân thiết nhất cũng sẽ không tôn trọng chúng ta. Người ta không tôn trọng thì chúng ta cũng không thể trách người khác, mà trách chính mình “đức vị tu, cảm vị chí”.

Đây là câu sửa lỗi thứ hai.

Chúng ta xem tiếp câu sửa lỗi thứ ba. Chúng ta cùng nhau đọc một lần.

“Chế độ của các quân vương anh minh trước đây, sử quan có mặt ghi chép lỗi lầm, nhạc công đọc tụng thơ từ khuyên răn, bá tánh thảo luận trên đường, thương nhân nghị luận trong chợ, như thế quân vương mới nghe được những sai sót của mình. Nghe thấy mình sai liền sửa đổi, nhìn thấy những việc thích hợp với đạo nghĩa thì làm theo, đó là nguyên nhân giúp họ có được thiên hạ lâu dài”.

Đoạn này kỳ thực chính là của đạo Nho chính thống. Khí phách đó của cổ Thánh tiên Vương cứ như vậy mà truyền qua từng đời từng đời. Cho nên vừa mở đầu đã nói, các quân vương anh minh trước đây (chính là những đấng quân vương ngày xưa khi trị vì đất nước), về thái độ cho đến trên những phương sách cụ thể đều là hy vọng có thể nghe được những sai lầm của mình.

Ví dụ như Nghiêu Thuấn ở trước cửa triều đình nơi làm việc đều có để cái trống, cái chiêng. Người dân có nỗi oan khuất gì, hoặc là quân vương có điều gì không đúng, lão bá tánh có thể chỉ ra sai lầm cho vua. Thậm chí là việc hiện nay chúng ta nhìn thấy bảng chỉ đường đều là có liên quan với đức hạnh của Nghiêu Thuấn. Họ ngày trước chính là dùng bảng chỉ đường, lão bá tánh có ý kiến gì thì có thể viết lên trên bảng chỉ đường, họ luôn sợ không thấy biết được lỗi lầm của chính mình. Cho nên, đức hạnh của các Thánh vương này thật sự là đáng để chúng ta học tập. Ở đây cụ thể đã nói, những vị thiên tử quân vương này làm sao để thấy biết lỗi lầm của mình? Bên cạnh lúc nào cũng có quan sử, quan tả sử ghi lại việc làm, quan hữu sử ghi lại lời nói. Mỗi lời nói việc làm của họ đều phải ghi chép vào lịch sử, thì họ sao dám không lo sợ bất an, sao dám không thận trọng. Vì vậy, sử quan có mặt ghi chép lỗi lầm, sử quan ngồi bên tả bên hữu ghi chép lại lỗi lầm của họ.

“Nhạc công đọc tụng thơ từ khuyên răn”. Nhạc công viết ra những khúc nhạc, nói ra những lời thoại khuyên bảo hoàng thượng, có lúc là ẩn dụ. Những lời ca này, hoàng thượng vừa nghe liền tự tỉnh ngộ, cải đổi chính mình. Ví dụ như nói: “Quan quan thư cưu, tại hà chi châu, yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu”. Việc này là nhắc nhở những người tại vị phải xem trọng đức hạnh, không thể xem trọng vẻ đẹp bề ngoài. Lựa chọn người làm vợ cũng như vậy, lựa chọn thần tử cũng như vậy, không nên chọn người đẹp, đặc biệt là biết nói lời dễ nghe, mà phải trọng ở đức, không thể trọng ở sắc, không thể trọng ở dục.

“Bá tánh thảo luận trên đường”. Những người dân thường họ thảo luận những lời này ở trên đường. Phản ánh những tình huống này họ đều vô cùng thận trọng để tìm hiểu. Kỳ thực đây đều là lòng từ bi niệm niệm nghĩ đến lợi ích nhân dân, lo sợ bản thân mình có lỗi.

“Không cầu có công, chỉ mong không có lỗi”, đây là tâm cảnh đáng quý.

“Thương nhân nghị luận trong chợ”, những thương nhân, lữ khách này bàn tán ở trên chợ, họ đều đi tìm hiểu tình hình, sau đó thì hoàng thượng có thể thường xuyên hiểu được, nghe được lỗi lầm của chính mình.

Tốt rồi, tiết học này chúng ta chỉ giao lưu đến đây! Xin cảm ơn mọi người!

A Di Đà Phật!

Chia sẻ học tập “Quần Thư Trị Yếu 360” (tập 21 và 22)

Giảng ngày 28 tháng 05 năm 2011 tại Trung tâm Giáo dục Văn hóa Trung Hoa Malaysia.

Người giảng: Thầy giáo Thái Lễ Húc

Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ, Mộ Tịnh Cư Sĩ, Phước Tịnh Cư Sĩ

 

 

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 111


Hôm nayHôm nay : 6971

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 208912

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 10284355

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?