Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Quần thư trị yếu 360

Quần Thư Trị Yếu 360 - Thầy Thái Lễ Húc giảng (Tập 17 - 18)

Thứ năm - 20/07/2017 10:39

TU THÂN - TỀ GIA - TRỊ QUỐC - BÌNH THIÊN HẠ

Kính thưa các vị trưởng bối, các vị học trưởng, xin chào mọi người!

Lần trước, chúng ta nói đến câu thứ bảy của “tu thân, giới tham”. Bài học “tu thân, giới tham” này là để trừ bỏ tâm tham của chúng ta. Đối tượng để tham thì rất nhiều: tài, sắc, danh, thực, thùy. Những ham muốn này rất dễ tham chấp, hoàn cảnh rất dễ tham chấp, thậm chí gặp được thuận duyên thì sẽ có tham chấp, tham ái. Vì vậy, việc chúng ta học những câu Kinh này là vô cùng quan trọng, học cách không tham, học cách buông bỏ. Mọi người có cảm giác sau khi học bảy câu này thì thân tâm tương đối nhẹ nhàng hơn hay không? Đều không có! Vậy là nhanh rồi, rất nhanh, rất quan trọng. Học xong thì nên áp dụng mới có thể được sự thọ dụng chân thật.

Người xưa có nói: “Cổ nhân học vấn vô di lực”. Người xưa học đạo lý Thánh Hiền rất chú tâm, không giải đãi. “Thiếu tráng công phu lão thủy thành”, cả cuộc đời chăm chỉ học tập buông bỏ những tập khí, nhiều lúc đến cuối đời công phu mới được đắc lực. “Chỉ thượng đắc lai chung giác thiển”, học từ trên sách vở, bản thân mình cảm thấy rất nông cạn. “Tuyệt như thử sự yếu cung hành”. “Cung hành”  nghĩa là phải thực tiễn, phải thật sự làm được. Hiểu được học vấn là thứ quan trọng nhất cần phải áp dụng trong đời sống, trong công việc, xử sự đối người tiếp vật mới có thể thân tu, mới có thể gia tề, thì gia đình mới được lợi ích, mới có thể quốc trị, đoàn thể của mình mới có được lợi ích. Tiến thêm một bước là lấy gia đình, đoàn thể của mình làm tấm gương cho mọi người. Đây là thiên hạ bình.

Chúng tôi thấy thầy giáo Hồ Tiểu Lâm của chúng ta ở Đại Lục, bản thân thầy cùng với đơn vị của thầy học tập văn hóa truyền thống để cho người Hoa ở khắp nơi trên thế giới noi theo thầy, như vậy mới có được công đức lợi ích cho mọi người. Thầy giáo Hồ đã làm được “thấy người tốt, nên sửa mình”, chúng ta có làm được hay không? Không có phản ứng gì! Mọi người chú ý,  học tập quý ở việc lập chí, có lập chí thì mới có thể nâng cao động lực sửa đổi lỗi lầm. Phải nên nhớ một câu nói rất quan trọng: “Chớ tự chê, đừng tự bỏ. Thánh và Hiền, dần làm được”. Câu thứ bảy này chủ yếu là buông bỏ sự háo danh.

Chúng ta xem đến quyển thứ mười, vừa mở đầu nói: “Nhân chủ chi đại hoạn”. Mối họa lớn nhất, hoạn nạn khốn khó ở chỗ nào? Là họ ham thích hư danh. “Nhân chủ”, thời xưa là nhà vua, trong thời đại hiện nay có thể là người lãnh đạo của một đoàn thể. Một người lãnh đạo của đoàn thể ham thích vẻ bề ngoài, ham thích hư danh, thì những người cấp dưới rất mệt, rất cực khổ, cuối cùng là làm qua loa lấy lệ, công phu ở bên ngoài. Thật sự công phu ở bên ngoài có thể duy trì được bao lâu? Cái gọi là: “Sống lâu mới biết được lòng người”. Thật sự những người háo danh thì sống vô cùng vô cùng cực khổ. Các vị cũng đừng nhìn họ với vẻ không được vừa mắt. Những người như vậy sống rất chật vật, các vị nên cảm thông cho họ, không nên giận họ.

Thật ra, chúng ta hãy nhìn lại bản thân chúng ta có háo danh hay không? Trong cả quá trình trưởng thành, chúng ta háo danh, thích sĩ diện mà không hay không biết. Ví dụ như lúc đi học nhà trẻ, ta vừa nghe cô giáo nói: “Nhà trẻ có một bé gái thật là xinh” thì tất cả các phụ huynh đều nhìn cháu bé đó: “Ồ, sao mà xinh đẹp quá vậy, mắt ra mắt, miệng ra miệng, mắt sao mà đẹp như vậy, mặt mũi đoan trang như vậy, mắt to như vậy, long lanh như vậy!”. Một người khen, hai người khen, không biết có bao nhiêu vị phụ huynh khen như vậy, cuối cùng cháu gái này khi đi đến lớp học, cứ một lúc thì lấy gương ra ngắm nghía một chút. Cháu bé đã háo danh rồi. Mọi người khen cháu đẹp, dần dần cháu sẽ thích mọi người khen cháu xinh đẹp. Hôm nào không có người khen cháu xinh đẹp, trong lòng của đứa bé cảm thấy như thiếu cái gì đó. Các vị nói xem, cuộc đời như vậy có sung sướng không? Mệt chết được, ở trong lớp học không được chuyên tâm.

Đã tham chấp vẻ đẹp thì tiếp theo đó sẽ tham chấp rất nhiều phương diện khác. Ví dụ như nói rất là đẹp trai thì sẽ tham chấp. Nói đến chỗ này tôi cũng cảm thấy rất vui mừng, may mà mình không đẹp, nếu không thì lại dễ bị háo danh; nói đến tài năng thì cũng không có tài năng. Người có tài đa số là kiêu ngạo, háo danh, thậm chí làm việc tốt thì sợ người ta không biết đã làm công việc gì xuất sắc, đạt được giải thưởng gì, đều phải phô trương một chút. Đây là sự háo danh. Sự háo danh này là tham. Tiếp tục phát triển đến thành niên, nếu có người giỏi hơn họ thì không vừa ý rồi, sẽ đố kị, sẽ sân hận, thậm chí là còn hãm hại, gây trở ngại cho người ta. Sự háo danh này thật sự là hại người. Không những chướng ngại tâm thanh tịnh tự tại của chính mình, sau này còn gây chướng ngại cho người khác, thậm chí là chướng ngại cho tập thể.

Vì vậy, các vị quan đại thần mà háo danh thì sẽ đố kỵ người tài, hãm hại người trung trực thẳng thắn. Việc này là tội rất nặng. Nếu làm vua mà háo danh, không hết lòng quan tâm đến cuộc sống của người dân, dạy bảo người dân, ví dụ như muốn xây cất những cung điện nguy nga tráng lệ để cho mọi người khen, vua rất hiếu chiến ở nơi đó phô trương thế lực, rốt cuộc là làm cho dân chúng lầm than, nhất định sẽ bị mất nước. Vì vậy, ở đây nhắc nhở các vị lãnh đạo là vô cùng quan trọng.

Thật sự đoạn này không những là dành cho vua chúa, mà thật sự nó cũng chi phối sinh mạng của mỗi người chúng ta. Khi đọc đoạn này thì nghĩ lại bản thân chúng ta có bị việc háo danh gây trở ngại hay không? Thật sự là con người chung sống với nhau không tự tại, bị ngột ngạt là do việc háo danh gây ra. Điều này đáng để cho chúng ta khéo quán sát cái tâm của mình trong cuộc sống hàng ngày.

Ở đây có nói đến: “Nhân chủ háo danh tất quần thần tri sở yếu hỷ”. Thói quen háo danh của nhà vua, những vị quan ở xung quanh đều biết được trong lòng của vua cần điều gì.

Phu danh sở dĩ danh thiện giả dã”, đoạn này quay trở lại với mỹ danh, ý nghĩa căn bản của nó là gì? Cái danh này là phải biểu dương việc làm thiện, cái gọi là “khen người thiện, tức là tốt. Người biết được, càng tốt hơn”. Cho nên khen ngợi người khác thì nên tương ưng với đức hạnh, thiện hạnh, nếu không thì trở thành thói xấu.

Các vị xem, chúng ta khen người ta rất xinh đẹp thì thói xấu là gì? Thói xấu là cô ấy mỗi ngày đều phải soi gương, còn đồ trang điểm thì càng ngày mua loại càng đắt tiền hơn, vậy sự khen ngợi của các vị sẽ làm tăng thêm áp lực cho chồng của cô ấy. Các vị xem, cái nhân quả này sẽ phản ứng dây chuyền phải không? Vì vậy, khi khen ngợi vẻ bên ngoài, khen ngợi tài năng, sẽ làm cho con người tăng thêm sự ngạo mạn; khen ngợi đức hạnh thì họ càng tăng thêm việc dụng tâm để nâng cao đức hạnh của họ. Vì vậy, khen ngợi người khác cũng phải có trí tuệ.

Ví dụ như nói thành tích của đứa con rất tốt: “Con thật là giỏi, thi được thành tích xuất sắc như vậy, chẳng ai giỏi bằng con”. Khen ngợi như vậy có tốt hay không? Đương nhiên là không tốt, sự ngạo mạn sẽ vô tình tăng trưởng.

“Con à, lần này thi cũng khá đó!”, đây là có dụng tâm. Đương nhiên là phải cảm ơn thầy giáo, vẫn phải cảm ơn những người giúp mình.

“Lần trước con không biết nên đi hỏi bạn học. Những bạn học đó tận tâm tận lực dạy cho con, ghi nhớ những ân đức này mà không ngừng nỗ lực, học tập tốt. Có bản lĩnh sau này mới có thể phục vụ xã hội”. Nhắc họ việc cảm ơn, nhắc đến trách nhiệm của chúng, cái gọi là “giáo dã giả, trưởng thiện nhi cứu kì thất dã”, tăng thêm thiện tâm của chúng.

Mỗi câu nói của chúng ta làm tăng thêm sự háo danh, tăng thêm tâm ngạo mạn hay là tăng thêm thiện tâm của chúng, chúng ta phải biết rõ. Vì vậy, nếu như cha mẹ hiểu được thì mới có thể dạy con biết lẽ phải; mỗi lời nói việc làm, nhất cử nhất động có làm tăng thêm thiện tâm cho đứa con không?

Vì vậy trong “Gia Nhân Quái” của “Kinh Dịch” có nói: Cha mẹ, trưởng bối, ngôn hữu vật, hành hữu hằng””. Mỗi câu nói phải có lý, hợp với lễ nghĩa; làm việc thì phải bền lòng, nói được thì làm được, có tập quán tốt, làm thân giáo, hoàn cảnh giáo dục cho con cái. Trong điểm này dạy cho chúng ta làm người cha người mẹ tốt.

Trở về với chữ “danh”, bản thân là phải biểu dương thiện hạnh. “Thiện tu nhi danh tự tùy chi”, bản thân thật sự hành thiện thì sẽ thành tựu đức hạnh, thanh danh tự nhiên sẽ đến, không cần phải đi tìm cầu. Cho nên, trong thành ngữ có nói: “Danh hợp với thực”. Hơn nữa rất quan trọng, sau khi có được cái danh rồi thì hết sức lo sợ, phải luôn luôn tự nhắc nhở bản thân mình không ngừng kiên trì nỗ lực.

Phi hiếu chi chi sở năng đắc dã”, không phải thích cái danh này thì có thể đạt được thanh danh. Điều này sẽ trở thành phan duyên, cưỡng cầu.

Cẩu hiếu chi thậm”, giả như việc háo danh quá đáng, quá nghiêm trọng.

Tắc tất vi hành yếu danh”, thì sẽ có thể giả mạo để có được danh tiếng.

Các vị xem, con người hiện nay háo danh, hy vọng bản thân mình lớn lên được mọi người khen ngợi, liền đi chỉnh sửa sắc đẹp. Điều này gọi là không có khái niệm về bảo vệ môi trường, phá hoại quang cảnh tự nhiên. Sau này thì hậu quả rất lớn, năm - mười năm sau thì họ rất khổ sở. Các vị xem, cảnh quan thiên nhiên rất đẹp, con người chúng ta theo ý của mình mà xây dựng nên những phong cảnh nhân tạo, thật sự là chẳng sánh bằng với vẻ đẹp do thiên nhiên ban tạo. Tự nhiên là đẹp nhất. Nếu cưỡng cầu thì bản thân sẽ mệt mỏi, những người xung quanh cũng mệt mỏi. Ví dụ như những người cha, người mẹ rất sĩ diện: Thành tích của con chúng tôi không được tốt. Không được, không được! Như vậy làm tôi mất thể diện quá”, sau đó thì bắt đầu ép con mình, cố ép đứa bé học đến hơn mười một giờ đêm. Vừa nghe các vị giảng bài vừa ngủ gật, các vị vẫn mãi nói, nói một mạch như vậy. Nóng vội thì hỏng việc.

Năm học lớp bốn, mẹ của tôi chuyển trường cho tôi. Tôi học tiểu học, thành tích của tôi lúc đó khoảng hạng hai mươi, thành tích trung bình. Dường như đã trở thành quy định bất thành văn, con của thầy cô giáo thường là hạng nhất, nhì. Nhưng thật là lạ, mẹ tôi trước đến giờ chẳng hề ép thành tích của tôi. Thi không được tốt thì tiếp tục cố gắng, mẹ nhìn tôi cười cười. Mỗi lần tôi thi không được tốt, tôi cũng có lương tâm. Các vị đã hiểu được rồi. Mỗi lần tôi đứng ở cầu thang lầu hai, nghe tiếng xe của ba tôi thì tôi đứng chờ nhận tội. Tôi đứng ở ngay cầu thang. Ba của tôi đi lên. Tôi ở trên lầu sám hối với ba: “Thưa ba, lần này con lại thi không được tốt nữa rồi”. Không ngờ ba tôi cười cười, thật sự là cười rồi nói: “Cố gắng lên, cố gắng lên”. Nhưng có một điều rất quan trọng, bản thân cha mẹ đã hình thành một thói quen đọc sách. Ăn cơm xong, nghỉ ngơi một chút thì ba mẹ đọc sách. Ba chị em chúng tôi cũng có thói quen sau bữa cơm cũng đọc sách. Sau khi ăn cơm, nghỉ ngơi một chút thì bắt đầu xem sách, hình thành thói quen đọc sách. Các vị là cha mẹ có tinh thần trách nhiệm thì con cái dần dần cũng có tinh thần trách nhiệm, do đó chúng xem việc đọc sách là trách nhiệm của bản thân, không phải đợi người khác thúc giục chúng. Sau cùng thì hình thành thói quen, dần dần có được động lực thì làm gì có đạo lý là thành tích không tốt. Điều này không cần nài ép, rất kỳ diệu! Nếu cha mẹ chăm chỉ, hiếu học, không cần trách mắng các vị thành tích không tốt. Không trách mắng thì ta lại càng muốn được trách mắng. Dường như sau khi bị trách mắng, tội lỗi tương đối nhẹ đi một chút. Càng được tin tưởng thì các vị càng không muốn làm mất niềm tin của cha mẹ. Vì vậy, chân tâm của cha mẹ sẽ cảm được chân tâm của con cái. Tâm háo danh thì con cái sẽ cảm thấy bị áp lực, thậm chí là biến chúng thành người háo danh thì cuộc đời của các vị sẽ rất mệt mỏi, cuộc đời của chúng cũng mệt mỏi, cho nên việc háo danh này dần dần trở nên giả mạo để giành được danh tiếng tốt.

Cuộc sống con người hiện nay rất mệt mỏi. Thật sự đã tìm ra được nguyên nhân, buông xuống thì sẽ thoải mái rất nhiều. Nếu bản thân những vị lãnh đạo giở trò để giành được thanh danh, “nhi gian thần dĩ ngụy sự ưng chi”, xung quanh nhà vua sẽ là những vị quan tâng bốc, nịnh bợ, cũng giở trò để đối phó với nhà vua, nhằm để đánh lừa nhà vua.

Lúc nhỏ, chúng tôi có xem quyển sách “Chiếc Áo Mới Của Nhà Vua”. Mọi người còn nhớ không? Các vị xem, người may chiếc áo cho nhà vua nói: “Hạ thần may chiếc áo này rất nhẹ, chất liệu rất tốt, hơn nữa, người thông minh mới nhìn thấy được chiếc áo này”. Vị vua này liền nghĩ: “Nhìn thấy được chiếc áo mới là người thông minh, nhìn không thấy là người ngu ngốc”. Những vị quan biết được tình huống này. Vua sai các vị quan đi xem anh thợ may chiếc áo, vị quan lớn nhìn chẳng thấy gì. Anh thợ may thì vẫn tiếp tục công việc ở đó. “Ông có nhìn thấy không, nhìn thấy không?”. Vị quan cũng nói: “Có thấy”. Cứ như vậy, các vị quan không ai muốn người ta biết mình là người ngu ngốc, cứ như thế mà lừa trời dối đất, tất cả mọi người đều nói là đã nhìn thấy chiếc áo. Đột nhiên một hôm mặc chiếc áo vào, nghĩ: “Để xem trong số người dân, ai là người ngu ngốc, người nào thông minh, để ta đi kiểm tra họ”, liền đi ra ngoài. Thật sự chúng ta không cần đi kiểm tra người khác ngu ngốc hay thông minh, bản thân mình còn chưa biết được là mình ngu ngốc hay là thông minh mà lại đi kiểm tra người ngu ngốc hay thông minh. “Muốn biết người khác thì phải biết mình trước, muốn giúp người khác thì nên giúp mình trước”. Bản thân chúng ta còn chưa dám đảm bảo mà mỗi ngày lại muốn đi giúp người khác. “Muốn cứu người thì nên cứu mình trước”. Chúng ta mỗi ngày vẫn còn phiền não bộc phát, lại muốn giúp người khác giải thoát.

Người dân nhìn thấy nhà vua đi ra bên ngoài, nhưng bởi vì họ cũng nghe nói nhìn thấy được chiếc áo là người thông minh, nhìn không thấy là người ngu ngốc, nên mọi người ở đó đều reo hò: “Rất đẹp, rất đẹp!”. Bỗng nhiên có một cháu bé rất ngây thơ, đôi mắt long lanh chạy đến nói: “Thưa hoàng thượng, làm sao mà Ngài chỉ mặc có một chiếc quần lót vậy? Ây da! Mắc cỡ quá đi!”. Nhà vua bỗng nhiên giật mình, thật sự là mình đang khỏa thân, liền bế đứa trẻ quay trở về. Mọi người đều rất lo lắng, không biết nhà vua có nổi giận giết đứa bé này hay không. Sau đó, nhà vua ban thưởng cho đứa bé vì đã nói lên sự thật. Cuối cùng cũng phá được sự chấp trước của nhà vua háo danh, thích mặc quần áo đẹp, nhà vua cũng biết chăm chỉ thương yêu dân, phải làm một người chân thật.

Các vị xem: “Nhi gian thần dĩ ngụy sự ưng chi”. Những người xung quanh muốn làm vừa lòng sở thích của vua, cả thảy đều nói dối.

Nhất nhân nhi thụ kỳ khánh”. Giá như những câu trả lời cho nhà vua đều là lời nói dối, lời khen ngợi nhà vua.

Nhất nhân nhi thụ kì khánh”. Chữ “khánh” này chính là tán thành nhà vua, khen ngợi nhà vua.

Tắc cử thiên hạ ưng chi hỷ”, những vị quan khác nhìn thấy liền tiếp tục làm theo. Tất cả đều dùng lời nói dối để trả lời. Phong thái của người lãnh đạo càng lúc càng mạnh mẽ, vậy là biến thành cảnh thái bình giả tạo rồi. Báo chuyện vui mà không báo chuyện buồn, rất nhiều vị vua bị mất nước vì họ chẳng hiểu rõ được tình hình. Những người ở xung quanh đều nói hiện tại thiên hạ thái bình, sự thật là thiên hạ đại loạn.

Cho nên, “Quân dĩ ngụy hóa thiên hạ”, vua cũng như người lãnh đạo lấy việc hư ngụy để giáo hóa thiên hạ.

Dục trinh tín đôn phác thành nan hỷ”. Muốn đạt được thì vị quan đó như thế nào? Trung trinh. Chữ “trinh” này là trung trinh. “Tín”, vị quan đáng tin và sống theo lẽ phải. “Đôn” là vị quan đôn hậu, vị quan chân thật, là vị quan chất phác. Như vậy thì rất khó, bởi vì “phương dĩ loại tụ, vật dĩ quần phân”. Có lúc chúng ta làm lãnh đạo, thấy những người xung quanh rất ít khi nhắc nhở chúng ta, đến khi gặp vấn đề không tốt thì nổi giận: “Tại sao không có ai nói với tôi vậy?”. Không phải là không có ai nói cho chúng ta biết, mà là do thái độ của chúng ta không tiếp nhận lời khuyên. Đời người mỗi lần được gặp nhau là do tâm của chính mình chiêu cảm, không nên trách móc người khác, phải tự xét bản thân mình. Có phải chúng ta chưa thiết lập được thái độ “nghe khen sợ, nghe lỗi vui. Người hiền lương, dần gần gũi” phải không?

Trước kia chúng tôi học qua quyển “Khuyến Thái Tông Thập Tư Sớ”. Thừa tướng Ngụy Trưng khuyên Thái Tông mười điều rất thấu đáo, nội dung của “Quân đạo” về cơ bản đều có đủ. Chúng ta ôn lại một chút xem nó như thế nào.

Thành năng kiến khả dục, tắc tư tri túc dĩ tự giới”.

Tướng hữu sở tác, tắc tư tri chỉ dĩ an nhân”.

Niệm cao nguy, tắc tư khiêm xung dĩ tự  mục”.

Cụ mãn dật, tắc tư giang hải nhi hạ bách xuyên”.

Lạc bàng du, tắc tư tam khu dĩ vi độ”.

Ưu giải đãi, tắc tư thận thủy nhi kính chung”.

Quan trọng nhất là đọc câu tiếp theo:

Lự ủng tệ, lo sợ không có ai nói lời chân thật với các vị. “Tấn trung ngôn tắc tư hư tâm dĩ nạp hạ”, vẫn là thái độ khiêm tốn, thái độ tiếp nhận lời khuyên, lo sợ có tin đồn nhảm.

Tưởng sàm tà, sợ người ta đưa ra lời gièm pha. Chánh thân dĩ truất ác”, bản thân các vị có chánh khí nên tà khí chẳng làm ảnh hưởng các vị.

Ân sở gia, tắc tư vô nhân hỷ dĩ mậu thưởng”, đừng có quá phấn chấn mà tặng thưởng lung tung, nhận lời bừa bãi.

Sau cùng là: Nếu dễ nhận, tiến lui sai.

Thậm chí còn có một nếp sống không tốt. Chẳng có công mà nhận nhiều bổng lộc thì không tốt. “Phạt sở cập, tắc tư vô nhân nộ nhi lạm hình”. Trong khi chấp hành luật pháp, không thể vì sự thương ghét hay phẫn nộ của mình mà phán trọng tội cho các vị quan, vậy thì cả hệ thống pháp luật đều bị nhà vua làm đảo lộn hết. Trong một đoàn thể, nội quy thường bị phá vỡ là do người lãnh đạo, chính là người đưa ra nội quy thì ngược lại đi phá vỡ nội quy, chẳng chịu chấp hành luật và nội quy của đoàn thể.

Thưa các vị học trưởng, mười câu trên nên học thuộc lòng. Sau này các vị được làm lãnh đạo, các vị nên nói với mọi người về “Trinh Quán Thịnh Thế”. Người nào chẳng muốn sự nghiệp của họ được thịnh vượng? Các vị nói với họ, sự nghiệp thành công nhất, làm được to lớn nhất trên toàn thế giới là công ty một gia đình, tên của công ty đó là “Trung Hoa Dân Tộc”. Công ty này có lớn không? Rất lớn! Lúc công ty này thịnh vượng nhất là “Trinh Quán Chi Trị” của nhà Đường. Sao mà thịnh vượng vậy? Bộ sách này thịnh vượng, còn có Đường Thái Tông chịu nghe lời của Ngụy Trưng, chịu nghe lời khuyên của những vị trung thần. Phần sâu sắc nhất trong lời khuyến cáo là “Gián Thái Tông Thập Tư Sớ”. Lúc đầu các vị cúng dường pháp cho họ, điều này rất hiếm có, nhắc nhở lãnh đạo về mọi mặt. Cho nên chúng ta ở đây, xung quanh thật sự không có quan cấp dưới “trinh, tín, đôn, phác” thì nên quay người lại phản tỉnh mình có thực tế hay không, có chấp nhận lời khuyên hay không?

Tuy hữu chí thông chí đạt chi chủ, do vô duyên kiến kì phi nhi tri kì ngụy, huống dung chủ hồ”. Tất cả những người cấp dưới không báo cáo lên tình hình thực tế. Cho dù vị lãnh đạo này rất thông minh, có tài đức, nhưng vì không có duyên thấy được sự khiếm khuyết và lỗi lầm của mình, cho nên không biết được bản thân mình đâu là hư ảo, đâu là giả dối. Họ tìm không ra. Bởi vì hết thấy những việc đã làm cần trải qua việc không ngừng ghi nhận, không ngừng sửa đổi, thì mới có thể càng làm càng viên mãn. Nếu như họ không có cách nào để hiểu tình huống chân thật thì họ làm sao sửa đổi, làm sao được nâng cao. Vì vậy, trong việc quản lý công ty phải có công tác kiểm tra. Trong việc lãnh đạo, chúng ta phải chủ đạo, phải chỉ đạo, chúng ta còn phải dạy bảo, còn phải giám sát. Các vị phải giám sát, phải nắm được tình hình. Nắm bắt cơ hội cấp dưới có vấn đề gì thì mới có thể dạy bảo họ, như vậy sự việc đã bị sai lầm mới kịp thời chỉnh sửa. Vì vậy, công tác kiểm tra rất quan trọng. Không thể vừa giao xong công việc cho cấp dưới thì chẳng quan tâm đến nữa, rốt cuộc thì không biết sai đến mức độ nào, đợi đến lúc phát hiện ra thì đã trễ rồi, ở đó nổi trận lôi đình cũng chẳng giúp ích được gì. Một vị vua thông minh nếu như không có sự bẩm báo chân thật của các vị quan thì nhà vua cũng không thể biết được vấn đề thực tại, huống hồ chi là một vị vua bình thường càng loạn hơn.

Nhân chủ chi cao nhi xử áo”. Chỗ ở của nhà vua cao nhất, vua ở trong thâm cung. Chữ này đọc là “áo”, nghĩa là chỗ kín đáo nhất. Chỗ này thật ra là chỉ thâm cung. Trong hoàng cung của nhà vua, những người thông thường không thể tiếp xúc được. Lãnh đạo chúng ta ở vị trí rất cao, cũng không dễ biết được tình huống gì? Việc này phải dụng tâm để hiểu thì mới nắm rõ vấn đề, mới nắm rõ tình hình thực tế. Chữ “áo”này còn có một cách đọc nữa là “úc”. Ngoài việc chúng ta hiểu rõ nghĩa ra, đối với cổ văn cũng phải  nên tích lũy kiến thức cơ bản. Khi đọc “úc” là chỉ những đoạn sông ngòi ngoằn ngoèo;  đọc “áo”, là chỉ những nơi kín đáo chắc chắn. Ở đây là dùng chữ “áo” để chỉ cho chốn thâm cung của nhà vua.

Thí do du Vân Mộng nhi mê hoặc”. Ví như nhà vua đi đến hồ Vân Mộng rộng lớn, cho nên đông, tây, nam, bắc đều không phân biệt được rõ ràng.

Đương tá tả hữu dĩ chánh đông tây giả dã”. Phải mượn tình huống quen thuộc tả hữu của con đường để chỉ phương hướng cho nhà vua. Nếu như tả hữu không thể chỉ ra phương hướng, thì nhà vua không hiểu rõ được tình huống. Ví dụ nếu như tả hữu đều xu nịnh như vậy thì nhà vua càng lúc càng cống cao ngã mạn. Xu nịnh như thế nào?

Tả viết công nguy nguy hỷ”. Bẩm hoàng thượng, công lao của Ngài to lớn như ngọn núi vậy”. “Nguy nguy hỷ”; hai từ “nguy nguy” này là tán thán vua Nghêu, vua Thuấn. “Nguy nguy hồ”, trong “Luận Ngữ” dùng hai từ này là để khen ngợi. Vì vậy, sắc không mê hoặc người mà người tự mê hoặc, danh không làm mê người mà người cũng tự mê.

Những vị quan bên phải bẩm báo nhà vua: “Hữu viết danh hách hách hồ”. Hai từ “hách hách” này nghĩa là hiển hách lẫy lừng, chính là vua có đức tính cao quý nên tán thán nhà vua.

Thật ra thì tình hình rất gay go. Những người ở xung quanh đều tán thán như vậy: “Kim nhật văn tư luận, minh nhật văn tư luận”, hôm nay nghe những lời khen, ngày mai cũng nghe những lời ca tụng.

Cẩu bất hiệu chi dĩ sự loại”. Nếu như không chân thật hiểu được để đối chiếu với tình hình thực tế.

Tắc nhân chủ hiêu nhiên”. Đây là chữ thời xưa, chính là chữ “hiêu” của “hiêu trương”, hung hăng. Có bốn chữ khẩu; bốn chữ ở trên, dưới, trái, phải. Chữ “hiêu” của “hiêu trương”, “hiêu nhiên”.

Nhà vua tự cho là “dĩ vi danh tề hồ Nghêu Thuấn”,  thật sự cảm thấy bản thân mình vĩ đại giống với vua Nghiêu, vua Thuấn.

Nhi hóa hiệp hồ thái bình dã”, cảm thấy sự giáo hóa của bản thân mình đã cảm hóa người dân ở khắp nơi, sau đó là thiên hạ thái bình. Bởi vì ham thích hư danh, rốt cuộc là tình hình thực tế rất tệ.

Quần thần tỏa tỏa, giai bất túc nhiệm dã”. Hai từ “tỏa tỏa” này nghĩa là đê tiện. Điều này là chỉ lo cho ham muốn của bản thân mình. Chức vụ quan lại, bố cục không được lớn, hàng ngày chỉ lo nịnh bợ lãnh đạo.

Giai bất túc nhiệm”, nghĩa là những vị quan này đều là những người không thể đảm bảo trách nhiệm, chỉ biết khua môi múa mép.

Nghiêu Thuấn chi thần, nghi độc đoạn giả dã”, những vị quan bên cạnh vua Nghiêu vua Thuấn là những người chính trực, can đảm, rất quyết đoán. Có một câu nói thế này: “Thang Vũ dĩ ngạc ngạc nhi xương, Kiệt, Trụ dĩ duy duy nhi vong”. Thương, Thang cùng với Vũ vương làm sao có thể để cho quốc gia hưng thịnh? Nguyên nhân chủ yếu là họ chẳng tham danh, họ muốn lợi ích thực sự cho nhân dân. Mỗi một địa vị, mỗi một chức vị, đằng sau địa vị cao này là trách nhiệm, không phải là chấp vào cái danh.

Khi tôi học trung học, có học qua lời dạy của Ngài Tôn Trung Sơn. Trong đó có một câu nói làm cho tôi rất cảm động: “Thà làm việc lớn chứ không làm quan lớn”. “Sinh mệnh đích ý nghĩa tại sáng tạo vũ trụ kế khởi chi sinh mệnh”, nên làm những việc có lợi ích cho con cháu sau này. Mục đích của cuộc sống là làm cho toàn thể cuộc sống của nhân loại được phát triển, bất luận chúng ta làm ngành nghề gì đều là làm lợi ích cho xã hội đại chúng. Mục đích của cuộc sống, ý nghĩa của đời sống này là làm những việc có lợi ích cho hậu thế, cho nên phải làm việc lớn, đừng ham thích làm quan to, ham nổi tiếng.

Vì vậy, tuy các Ngài đã làm vua nhưng mà vẫn không quên cái tâm lúc ban đầu là yêu thương dân chúng. Phải hiểu biết tình hình mới biết làm thế nào để yêu thương dân chúng, cho nên các Ngài mới yêu cầu các vị quan nên nói thẳng vấn đề ra.

Chữ “ngạc ngạc” này chính là các vị quan đều dám nói lời chân thật cho nhà vua. Đặc biệt là khi các vị quan nói đến những chỗ kích động, lời nói có vẻ hơi nặng, nhà vua nghe được cũng phải bao dung, không nổi giận. Nếu như có nổi giận thì có thể lần sau các vị quan không dám khuyên như vậy nữa. Người chánh trực thì khó tránh khỏi có lúc cũng có một chút xung đột. Điều này là bình thường. Không thể yêu cầu mỗi người đều phải làm Thánh Nhân .“Ông ta nói không sai, nhưng thái độ chưa được tốt”,  yêu cầu quá nhiều! Vì vậy, chúng ta làm người thì thái độ rất quan trọng. “Nghiêm dĩ luật kỷ”, yêu cầu tiêu chuẩn bản thân mình là Thánh Nhân. Nếu như nói lấy khoan dung, rộng lượng để đối xử với người thì chúng ta cũng phải nghe theo, không nên soi mói khuyết điểm thái độ của người khác. Điều này không đúng, thậm chí là trở nên hà khắc. Đừng nhận định người xấu chỉ do lời nói. Đây là thái độ xử sự. Nếu nói đúng, tương ưng với Kinh điển thì nên nghe. Nhưng các vị nhìn thấy bạn bè, người thân ở xung quanh chúng ta, lời nói của họ chẳng sai nhưng chúng ta liền nhớ: “Ây da! Thái độ của họ lúc nói không được hay, tôi nghe chẳng lọt lỗ tai”. Đây gọi là gì? Xử trí theo cảm tính, chắc chắn là chỉ có phần đọa lạc. Vì sao vậy? Nói những lời để giúp đỡ các vị, các vị không chấp nhận thì làm sao nhận ra được lỗi lầm của mình.

QUẦN THƯ TRỊ YẾU 360 Tập 18

Một ngày không nhìn ra sai trái của mình thì ngày đó an nhiên, tự nghĩ rằng mình đúng. Một ngày không có lỗi để sửa thì ngày đó không tiến bộ, sẽ mãi thụt lùi.

Thật ra, chúng ta sống ở thế gian này muốn không thụt lùi cũng không đơn giản. Có vị học trưởng nào nói: “Hôm nay tôi không có tiến bộ, cũng chẳng có thụt lùi, tôi đã cố định được một chỗ rồi”. Công phu của các vị tốt như vậy! Một ngày con người ta gặp phải bao nhiêu cảnh giới? Hàng vạn thứ xuất hiện. Nhiều bài thi như vậy tới tấp bay đến, các vị không có tiến bộ cũng chẳng có thoái lui thì tôi không tin. Tùy lúc mà tiến hoặc thoái, không tiến thì sẽ thoái. Khi chính mình chưa có cách nào để nhìn thấy bản thân mình chưa hoàn thiện thì những người xung quanh chính là lực lượng quan trọng nhất nhắc nhở chúng ta.

Vì vậy, “Thang Vũ dĩ ngạc ngạc nhi xương”. Các vị quan không bị liên lụy đối với lời nói thẳng không kiêng nể của họ.

“Kiệt - Trụdĩ duy duy nhi vong” (Hạ Kiệt - Thương Trụ, những vị vua bị mất nước). Hạ Kiệt Thương Trụ đều không nghe lời khuyên của các vị quan, nếu ai khuyên thì liền giết người đó, nên các vị quan không dám khuyên ngăn, tất cả đều nịnh bợ nhà vua nên bị mất nước. Vì vậy, chúng ta xem vua Kiệt, vua Trụ khi đang còn tại vị cũng có trung thần, có Thánh Nhân xung quanh, nhưng vua vẫn bị mất nước, mấu chốt là do bản thân của nhà vua. Các vị xem, vua Trụ lúc đó có Tỷ Can, có Cơ Tử, có Vi Tử, đều là Thánh Nhân. Không phải do ông trời muốn hại các vua này, mà là do họ tự chiêu cảm tai họa đến.

Trước đây chúng ta đã học qua, Hạng Vũ đặc biệt có điều kiện để làm hoàng đế, đúng không? Chúng ta cũng đã học qua trong “Sử Ký” có nhắc đến Hạng Vũ, lúc cuối cùng bị bại trận có nói một câu: “Trời đã diệt ta”, ông trời muốn diệt ta, “phi dụng binh chi tội dã”, không phải là ta không biết đánh trận. Các vị xem, phước báu của ông ấy lớn như vậy nhưng cuối cùng cũng bại trận, vẫn không tỉnh ra, vẫn đẩy trách nhiệm cho ông trời. Nói theo thành ngữ là cuồng vọng cùng cực thì đâu có đạo lý không bị bại trận chứ.

Cho nên ở đây: “Quần thần tỏa tỏa, giai bất thị nhậm dã”, cũng có một mối quan hệ với cấp lãnh đạo. Một người lãnh đạo đã dẫn ra một phong khí của đoàn thể. Các vị quan thời vua Nghiêu vua Thuấn rất quyết đoán, bởi vì vua Nghiêu vua Thuấn đã chỉ dạy các vị quan phải vì nhân dân, phải dũng cảm can gián.

Tiếp theo là: “Bất túc nhiệm chi”. Giả như có những vị quan chánh trực có dũng khí, nhưng các vị không cần họ,bất túc nhiệm chi”. “Thần đương thụ thành giả dã”, những vị quan này tốt nhất là phải nghe lời của ta. Vậy là phiền phức rồi! Đều phải nghe lời của các vị thì “dĩ độc đoạn chi quân”. Đây là sự cố chấp bướng bỉnh, chỉ là thuận theo ý của mình, “độc đoạn chi quân”.

Dữ thụ thành chi thần”, chỉ tiếp nhận mệnh lệnh không biết khuyên can, phản ứng tình huống của các vị quan. Những điều này kết hợp lại: “Soái ngoa ngụy chi tục”, những việc mà vua của họ làm đều là hành vi lừa gạt giả dối, đã làm thay đổi phong tục.

Nhi thiên hạ trị giả”, dùng thái độ, phương cách như vậy để cai trị thiên hạ, mà thiên hạ có thể đại trị là không thể. “Vị chi hữu dã”, điều này thì không thể.

Vì vậy việc giáo hóa lãnh đạo, đoàn thể rất quan trọng, vẫn phải là thật sự “cầu thị”, dũng cảm đối diện với sự thật.

Tôi đã từng nghe được một điều, cảm thấy đối với chúng ta hiện nay cũng là một lời nhắc nhở rất quan trọng. Cho dù là cả một quốc gia hay cả một đoàn thể, “Thượng dĩ ngôn ngữ vi trị, hạ dĩ ngôn ngữ vi học, thế đạo chi sở dĩ nhật giáng dã”.

Thế đạo nhân tâm này vì sao càng lúc càng tệ hại vậy? Trong đó có một nguyên nhân rất quan trọng, chính là không thực tế, là phù phiếm. Là những hiện tượng nào vậy? Những vị lãnh đạo cảm thấy rằng lời nói của họ là hay, mọi người nghe xong liền cổ vũ,  như vậy họ thống trị  tốt rồi. Chúng tôi hiện nay nhìn thấy một số hiện tượng, có lãnh đạo của các đơn vị báo cáo hay vô cùng, báo cáo xong thì bước xuống, tất cả đồng nghiệp của họ nói: “Báo cáo rất hay, báo cáo rất hay!”. Báo cáo hay để làm gì chứ? Thật sự đem lại lợi ích cho đoàn thể sự nghiệp là phải làm. Vì vậy, trong Kinh điển có nói một câu rất quan trọng: “Vi chánh bất tại đa ngôn”. Nói xong là phải đi làm ngay, không phải là nói năng quảng cáo quá nhiều hoặc là những lời tự mãn, như vậy không cần thiết. Ngay cả phong cách của nhà vua là luôn luôn lo sợ nói được mà làm không được. Quân tử biết hổ thẹn vì lời nói vượt quá việc làm. Vì vậy, không nên đem tinh thần đặt vào trong lời nói, không phải làm thế nào để cho người nghe không ngừng tán thán bản báo cáo, mà quan trọng là phải nhanh chóng thực hiện những công việc này.

Nói hay mà làm không được thì sẽ mất uy tín với mọi người. “Phàm xuất ngôn, tín trước tiên”.

Tự cổ giai hữu tử, dân vô tín bất lập”. Nói nhiều mà làm không được thì mất hết uy tín với cả tập thể, có thể không còn khả năng tập hợp mọi người. Người lãnh đạo dùng lời nói mà cảm giác là đã quản lý được tập thể rồi, những người cấp dưới lại cảm thấy lời nói, đặc biệt là người có tài hùng biện thì gọi là có học thức, vì vậy họ ở đó cân nhắc làm thế nào để rèn luyện tài hùng biện càng lúc càng được tốt hơn. Vì vậy, tất cả những người dụng công phu đều là ở trên hư danh, không phải ở trên thực tế, thì làm sao họ tăng trưởng được trí tuệ và năng lực? Điều này gọi là dùng sai tinh thần. Nhìn thấy câu nói này, vì sao tôi lại có ấn tượng đặc biệt sâu sắc? Bởi vì lần đầu tiên trong một ngôi giảng đường lớn ở Bắc Kinh, ngày đầu giảng xong, rời bục giảng, tôi đi về nhà. Đang đi bộ trong khuôn viên trường, chưa ra khỏi cổng, có một bạn sinh viên nam rất phấn khích đến tìm tôi. Câu đầu tiên cậu ấy nói với tôi: Tài hùng biện của thầy Thái thật tuyệt vời!”. Nhưng chú ý, tôi đã giảng hai giờ đồng hồ, họ quan tâm đến điều gì? Khả năng hùng biện. Hai giờ đồng hồ, lời chúng tôi nói là đạo lý trong ngũ luân, nhưng không có câu nào làm xúc động tâm của họ. Đương nhiên việc này cũng phải trách tôi chưa đủ lòng chân thành. Trong tâm của họ chẳng đọng lại được một câu Kinh nào, lại đi ngưỡng mộ là tài hùng biện. Các vị xem, hiện nay, thanh niên sau một thế hệ rốt cuộc là họ chú trọng điều gì? Bạn xem, chúng ta thế hệ trước không hướng dẫn tốt cho họ thì những người thế hệ sau đối với việc gì là quan trọng, điều gì là thứ yếu đã đảo lộn hết. “Đức giả bổn dã, tài giả mạc dã”, hiện nay chỉ cắm đầu cắm cổ để được tăng trưởng tài năng, còn đức hạnh thì không được nâng cao, rốt cuộc là xã hội này ở trong một dòng nước lũ lớn. Đức hạnh của họ không chống đỡ nổi, không chống chọi lại với nhiều điều mê hoặc dụ dỗ.

Đoạn này nhắc chúng ta, thật sự dùng từ “ngoa ngụy” này, lừa dối hư ngụy thì không thể làm cho thiên hạ bình yên được. Vì vậy, “phu Thánh Nhân chi tu kỳ thân”, bậc Thánh Hiền chỉ lo tu dưỡng đức hạnh. “Sở dĩ ngự quần thần dã”. Thánh Nhân ở đây là chỉ cổ Thánh tiên Hiền có thể lãnh đạo quản lý quần thần của họ.

Tiến thêm bước nữa là: “Ngự quần thần dã, sở dĩ hóa vạn dân dã”. Nhà vua đã lãnh đạo tốt các vị quan trong từng nhiệm vụ của mình, còn chăm sóc tốt người dân nữa.

Kỳ pháp khinh nhi dị thủ”. Pháp luật thì không có hình phạt nghiêm khắc, nhân dân rất dễ tuân theo.

Kỳ lễ giản nhi dị trì”. Sự dạy bảo về những lễ nghi của họ rất đơn giản, dễ dàng áp dụng thực hiện trong cuộc sống hàng ngày của người dân. Trọng điểm của tất cả sự quản lý đó là đặt mình vào trong hoàn cảnh của người khác, luôn lo nghĩ cho người dân.

Kỳ cầu chư kỷ dã thành kỳ hóa chư nhân dã thâm”. Họ cầu ở chính mình, tự kiểm điểm lỗi lầm của chính mình, kiểm điểm lỗi lầm vô cùng chân thành sâu sắc. Thái độ này của họ cảm hóa rất sâu sắc người dân cùng với quần thần. Đây là sự chiêu cảm lẫn nhau.

Đường Thái Tông trong những năm đầu Trinh Quán gặp đúng ngay tai họa châu chấu. Châu chấu ăn hoa màu ngũ cốc. Ngay lúc nhà vua ra bên ngoài thì gặp tình hình này. Vua bắt một con châu chấu nói: “Lương thực này là tánh mạng của người dân, không có lương thực thì người dân sẽ chết đói. Nếu như người dân có tội là do ở nơi trẫm không dạy dỗ người dân cho tốt, vì vậy các vị không nên ăn phần lương thực này, sẽ gây họa cho người dân”. Nhà vua nói với châu chấu: “Nếu như các vị có linh tánh, các vị hãy đến cắn xé tâm của ta, không nên gây tổn hại cho người dân”. Nói xong liền đưa con châu chấu vào trong miệng. Động tác này vừa thực hiện, các vị quan ở hai bên liền la lên: “Thưa bệ hạ! Không thể được, Ngài ăn không được đâu, nếu bị bệnh thì phải làm sao?”. Họ lo sợ bên trong con châu chấu này có vi khuẩn hoặc là có cái gì, ăn như vậy sẽ bị bệnh. Đường Thái Tông liền nói: “Trẫm muốn để cho châu chấu giáng tội lên người của trẫm, trẫm còn sợ bị bệnh à!”. Vừa nói xong, liền ăn ngay. Kết cuộc rất kỳ diệu, sau khi nhà vua làm như vậy, nạn dịch châu chấu ở khắp nơi không còn nữa. Vì vậy, các vị xem trong lịch sử, sự phản tỉnh thành tâm của một vị lãnh đạo cao nhất của đất nước thì trời đất cũng động lòng, tai họa đều được hóa giải.

Việc này không phải chỉ có Đường Thái Tông làm như vậy, đời nhà Thanh cách chúng ta không xa có Khang Hy, Ung Chính, Càn Long. Như thời Hoàng đế Khang Hy, một số tỉnh bị nạn hạn hán nghiêm trọng, Hoàng đế Khang Hy đích thân ăn chay, giữ giới thanh tịnh, cuối cùng dùng tâm chí thành đi đến đàn tế trời cầu mưa. Trong lúc đi, bầu trời quang đãng, không có chuyển mưa. Đợi đến lúc hướng lên bầu trời đọc sớ văn, vừa đọc xong liền phát hiện trong không trung bắt đầu thay đổi, khi vua về đến cung vua thì trời mưa, mưa liên tục mấy ngày. Các sớ tấu bẩm báo khẩn cấp từ các tỉnh cách mấy trăm dặm truyền đến, khắp nơi đều có mưa. Vì vậy, tổ tiên đã ấn chứng chân tướng của vũ trụ: “Lòng thành cùng cực, vàng đá cũng tan”. Chúng ta đối xử giữa người và người cũng phải dựa vào lòng chí thành để giao cảm, để cảm hóa hai bên, để đoàn kết hơn, vì lợi ích cho sự nghiệp của đại chúng mà nỗ lực.

Tiếp theo là: “Cẩu phi kỳ nhân, đạo bất hư hành, cẩu phi kỳ đạo, trị bất hư ưng”. Thật ra điều này cũng là nhấn mạnh có những người như vậy làm được những hành động đạo nghĩa này thì có thể cảm động được người dân, cũng là noi theo đức hạnh và hành vi của họ mới có thể có những hồi đáp như vậy.

Thị dĩ cổ chi thánh quân chi ư kỳ thần dã”. Vua chúa thời xưa đối với các vị quan, đặc biệt là những vị quan lớn ở bên cạnh mình.

Tật tắc thị chi vô số”, bị bịnh rồi, rất nhiều lần đi vấn an tình trạng bịnh của họ.

Thừa tướng Ngụy Trưng trước khi lâm chung cũng bị một trận bịnh. Trong khoảng thời gian đó, không biết Hoàng đế Đường Thái Tông đã đi thăm bao nhiêu lần, luôn luôn nghĩ đến vị đại thần này có sự cống hiến đối với cả quốc gia, nhớ đến ơn của ông. Rất nhiều lần trong các buổi tiệc chiêu đãi, Đường Thái Tông đều nói đến việc trị quốc thời Trinh Quán Chi Trị này may mà có một vị trung thần như Ngụy Trưng, nên phải nhớ ơn.

Tử tắc lâm kỳ đại liệm tiểu liệm”, không bỏ qua quá trình tổ chức lễ tang, các khâu khâm liệm cũng đều đích thân đi đến.

Vi triệt thiện bất cử lạc”. Sự ra đi của vị đại thần này làm nhà vua luôn tưởng nhớ, thương tiếc, ăn cơm cũng không có tấu nhạc. Đây cũng là một sự biểu lộ tình cảm tự nhiên của nhà vua.

Lúc Ngụy Thừa Tướng qua đời, trong năm ngày Đường Thái Tông không thượng triều (bãi triều năm ngày). Tình nghĩa vua tôi này như vậy thật sự là kiệt tác xưa nay hiếm có, ông đã biểu diễn rất tinh tế.

Há đồ sắc thủ nhân, nhi thực vi chi giả tai”. Tình cảm tình nghĩa như vậy chỉ là hành nhân nghĩa trên bề mặt, sự thật thì hành vi trái ngược lại, hoàn toàn không phải như vậy.

Nãi thảm đát chi tâm”, chữ này đọc là “đạt”; bên trái có bộ “tâm”, bên phải một chữ “đán” và của nguyên đán. Chữ “thảm đát” nghĩa là tấm lòng đau buồn của nhà vua.

Xuất ư tự nhiên, hình ư nhan sắc”. Người xưa đặc biệt trọng tình nghĩa.

Thế vị hữu bất tự nhiên, nhi năng đắc nhân tự nhiên giả dã”. Trên thế gian không có loại biểu hiện tình cảm chân thật nào lại xuất phát từ sự thể hiện thiếu tự nhiên mà khiến người khác cảm động được. Nhất định không nói chính mình không chân thành mà vẫn có thể cảm được sự chân thành của người khác.

Nếu như thật sự là: “Sắc thủ nhân nhi thực vi chi giả”, trên thực tế nhân nghĩa bề ngoài không phải như vậy. “Vị chi hư”, hành vi của người này là giả dối.

Bất dĩ thành đãi kỳ thần”, không lấy sự chân thành đối đãi với các vị quan của nhà vua.

Nhi vọng kỳ thần dĩ thành sự kỷ, vị chi ngu”, bản thân mình không chân thành mà vẫn cầu mong các vị quan chân thành hầu hạ nhà vua. Có cách nghĩ như vậy thì gọi là ngu muội. Thật ra, con người ngu muội, trực tiếp nhất chính là không biết nhân quả. Con người không hiểu rõ nhân quả, không có gieo nhân thì làm gì có được kết quả, vậy chẳng lẽ toàn bộ tự nhiên đều điên đảo rồi sao? Chân thành là nhân, cảm được sự chân thành của người khác là quả. Bởi vì họ không chân thành mà vẫn muốn có được sự chân thành, điều này chính là nhận thức ngu muội.

Hư ngu chi quân”, ông vua giả dối ngu muội.

Vị hữu năng đắc nhân chi tử lực giả dã”, không được lòng các vị quan, người dân liều mạng hết lòng theo họ. Họ không cảm được, “cố thư xưng”.

“Thượng Thư” này nói đến “Quân vi nguyên thủ”. Các vị xem, hai chữ “nguyên thủ” này là lấy từ trong “Thượng Thư”. “Nguyên thủ” chính là cái đầu.

Thần vi cổ quăng”;  “cổ” là bắp chân, “quăng” là cánh tay, đều là những bộ phận quan trọng nhất của cơ thể.

Kỳ kỳ nhất thể tương tu nhi thành dã”, mong muốn họ phối hợp lẫn nhau, hòa thành một thể, sau đó để cho quốc gia ổn định, an ninh trật tự.

Kỳ kỳ nhất thể tương tu nhi thành”. Câu nói này chúng ta áp dụng trong gia đình, trong đoàn thể của mình. Vợ chồng cũng là một thể, “chồng vợ đồng lòng, tát biển đông cũng cạn”. Trong Kinh Dịch cũng có nói: “Nhị nhân đồng tâm, kỳ lợi đoạn kim”, đoàn kết thì sức mạnh vô cùng lớn. “Tương tu nhi thành”, phối hợp với nhau, hỗ trợ lẫn nhau, sau đó thì thành tựu gia nghiệp, thành tựu sự nghiệp. Có thể hợp thành một thể, đối xử chân thành với nhau vẫn là phải dựa vào sự chân thành của bản thân chúng ta để khơi dậy sự chân thành của những đoàn thể ở xung quanh.

Vì vậy, cuộc sống ở thế gian này cho dù là ở nhà cũng được, hoặc là ở trong đoàn thể công tác cũng được, đều phải nên nghĩ từ nơi bản thân mình bắt đầu, phải nghĩ làm sao để lợi ích cho gia đình, lợi ích cho tập thể, không uổng phí cái nhân duyên khó có được này.

Chúng ta không phải ở trong gia đình để yêu cầu, để trách móc, cũng không phải ở trong đoàn thể để chỉ trích, chúng ta không quên cái tâm lúc ban đầu. Tổ chức gia đình thì phải làm cho gia đình hạnh phúc. Vào đoàn thể phục vụ tốt nhất là phải tận hết phần trách nhiệm của mình đối với xã hội. Đây là cuộc sống có ý nghĩa, là đạo nghĩa của đời người. Đối với bất kỳ người nào, đối với bất cứ nhân duyên nào, họ chẳng có chút đòi hỏi nào ở trong đó. Bất kể ai có bất kỳ yêu cầu gì đều không chỉ trích, thì tâm chân thành mới xuất hiện. Nếu như có xen tạp tham - sân - si - mạn thì tâm chân thành không thể hiện tiền. Cho nên vấn đề là nơi chúng ta, vì tâm chân thành vẫn chưa hiện tiền nên không thể chuyển được những duyên phận xung quanh chúng ta.

Ngài Tăng Quốc Phiên có nói: “Một niệm không sanh thì gọi là thành”. Không sanh một vọng niệm, một tập khí thì sự chân thành liền hiện tiền, không khởi những niệm tham - sân - si này.

Ở đây chúng tôi giảng đến câu thứ bảy là chủ đề “háo danh”. Trong lịch sử, những trường hợp vì háo danh mà mất nước không phải là ít. Vào năm Trinh Quán thứ hai, có một lần Đường Thái Tông nói với những cận thần xung quanh: “Nhà vua giống như là một vật chứa”. Chúng tôi nói đến chỗ này, các vị phải nên nghĩ đến, nhà vua giống như là một vật chứa, nhân dân thì giống như nước vậy. Nước có hình dạng như thế nào là do vật chứa quyết định. Đường Thái Tông rất trí tuệ, ông biết dùng ví dụ.

Đoạn này chúng ta nên tiến thêm một bước là áp dụng cho chính bản thân mình. Vua là vật chứa, cha mẹ cũng là vật chứa, con cái là nước; thầy cô giáo là vật chứa, học trò là nước. Đạo lý “quân - thân - sư” này tương thông với nhau. Các vị học với chúng tôi “Quần Thư Trị Yếu” cả buổi rồi không nên nói: “Chuyện của nhà vua chẳng có liên quan gì đến tôi”, như vậy thì không được khéo rồi, như vậy thì tôi rất có lỗi với mọi người, đã lãng phí rất nhiều thời gian của mọi người. “Một tấc thời gian một tấc vàng”, không thể lãng phí thời gian của mọi người.

Trong Đại Học có một câu nói: “Nghiêu Thuấn suất thiên hạ dĩ nhân, nhi dân tùng chi. Kiệt Trụ suất thiên hạ dĩ bạo, nhi dân tùng chi”. Các vị xem, vua Kiệt vua Trụ tàn bạo ảnh hưởng đến nhân dân, người dân cũng tương đối tàn bạo. Vua Nghiêu, vua Thuấn nhân từ nên người dân lúc đó được vua cảm hóa, cũng rất nhân từ. Hoàng đế Đường Thái Tông nói đến: “Hạ chi sở hành, giai thị thượng chi sở háo ”. Hành vi của người dân chịu sự ảnh hưởng rất lớn từ người lãnh đạo, gọi là trên làm dưới theo.

Tiếp theo, Ngài nêu lên Ngụy Tấn Nam Bắc Triều, Lương Vũ Đế thời Nam triều. Mọi người có biết hay không, có quen với ông không? Tôi nói một ví dụ thì mọi người liền nhận ra. Lương Vũ Đế đã gặp Tổ sư Đạt Ma, tiếp kiến Tổ sư Đạt Ma hỏi: “Thưa Đại sư! Tôi đã xây cất 480 ngôi chùa rồi, vậy có công đức hay không?”.

Lương Vũ Đế tuy là một đời tu hành, nhưng danh đã buông bỏ chưa? Rất vất vả, cái danh này không buông bỏ thì sự nguy hại bao lớn vậy? Ngay cả Thánh Nhân ở trước mặt mà còn không giữ lại được. Nếu như ông không háo danh, Tổ sư Đạt Ma đến Phương Đông, người đầu tiên được độ là ai? Là Lương Vũ Đế. Nhưng mà vua đã bỏ lỡ cơ hội. Vì vậy, phải buông bỏ danh vọng lợi dưỡng thì mới có thể có được lợi ích chân thật của Kinh giáo, nếu không thì vẫn còn cách một khoảng, không tương ưng. Tổ sư Đạt Ma lòng dạ ngay thẳng, không nói vọng ngữ, liền nói với vua: “Hoàn toàn không có công đức gì!”. Công đức không phải là tâm nhiễm trước, tâm tham cầu, mà tâm thanh tịnh bình đẳng mới gọi là công đức. Do đó không có công đức, chỉ có phước đức. Làm công việc thiện nhưng mà tâm nhiễm trước thì chỉ tích được phước, không thể có công đức để thành tựu trí huệ chân thật. Đặc biệt là lúc đó, vua Lương Vũ Đế đang học Phật pháp và giáo huấn của Lão Tử. Vốn là việc tốt, nhưng nếu như học tập giáo lý Thánh Hiền mà còn tham danh, “các vị xem, tôi rất chăm chỉ, mỗi ngày đều tụng Kinh, nghe Kinh, dụng công mười giờ đồng hồ”, lúc nói rất đắc chí. Thật sự trong lúc nói thì bản thân đã có tâm danh vọng lợi dưỡng rồi, rất nỗ lực tu hành chỉ là muốn cho người ta nhìn thấy. Sự chướng ngại của việc háo danh này thật sự là rất lớn. Vào lúc đó, cha con của Lương Vũ đế đối với lời giáo huấn của Thánh Hiền hoàn toàn không thể chân thật thâm nhập, nỗ lực thực hiện, ngược lại còn chấp vào việc nghe Kinh, thường xuyên đi giảng Kinh, quên mất đi “đôn luân tận phận”, ngay cả những việc phải lâm triều, phải xử lý việc triều chính, phải thấu hiểu nổi khổ của người dân, áp dụng đúng lúc sự nhân từ bác ái  thì nhà vua cũng lãng quên mất. Cuối cùng đích thân vua Lương Vũ Đế thường xuyên đến chùa Đồng Thái giảng Kinh Phật, sau đó thì bá quan cũng không hội họp ở trong triều đình nữa, tất cả đều đội mũ cao, mặc quan phục đi đến chùa nghe vua Lương Vũ Đế giảng Kinh. Mỗi ngày đều giảng về những đạo lý của chữ “không”. Thật ra, người háo danh rất khó giảng được rõ ràng về cái lý của “không”, tâm phải thanh tịnh thì mới có thể giảng được rõ ràng chân tướng của vũ trụ. Cái tướng “không” này kết quả là trở nên chấp trước, việc triều chính không lo, quân đội không tập luyện, không áp dụng chính sách của quốc gia. Sau đó thì một vị quan cấp dưới kêu gọi Hậu Cảnh làm phản, đem binh đến đánh. Kết quả là từ Thượng Thư Lang trở xuống tất cả đều không biết điều khiển binh lính, bỏ chạy tán loạn, trên đường chạy trốn số người chết nhiều vô cùng.

Các vị xem, chểnh mảng việc xây dựng quốc gia, kết quả là tai họa chiến tranh, tử vong nghiêm trọng. Vì vậy, rất nhiều vị tu hành chân chánh nhắc nhở chúng ta tu hành không phải rơi vào chỗ “KHÔNG”. Trong cái hư danh này nhất định phải thực hiện từ “đôn luân tận phận”, từ việc tận hết bổn phận của chính mình. Không tận hết bổn phận thì chúng ta không thể là một tấm gương tốt cho xã hội, vậy thì làm sao có thể hoằng truyền giáo lý Thánh Hiền. Phải làm việc tận hết bổn phận để người trong thiên hạ nhìn thấy. Người tu hành phải làm việc gì ra việc đó. Làm mẹ thì phải là một người mẹ tốt, làm lãnh đạo thì phải là một vị lãnh đạo giỏi, làm thầy giáo thì phải là một vị thầy tốt, làm bác sĩ thì phải là một vị bác sĩ lấy từ bi làm gốc. Mọi người vừa nhìn thấy liền nói: “Người học giáo lý Thánh Hiền quá tốt!”, xem họ là tấm gương.

Kết quả là vua Lương Vũ Đế và người con bị Hậu Cảnh ép cho đến đói mà chết, không có gì để ăn. Sau này, con trai của ông là Hiếu Nguyên Đế kế thừa, lên ngôi vua ở Giang Lăng, một vùng của Hồ Bắc. Ông lại tiếp tục giảng “Lão Tử”. Bá quan mãi nghe ông giảng, kết quả là một bộ tộc khác ở phương bắc kéo quân đến đánh chiếm Giang Lăng, vua tôi đều bị bắt giam vào ngục. Người có học thức lúc đó là Dữu Tín cảm thán tể tướng đem quốc gia đại sự làm trò đùa. Những lời nói suông này được xem là dành cho các quan chức có thể dùng để giải quyết những chính sách quan trọng của quốc gia, chính là đàm huyền thuyết diệu, có thể dùng để giải quyết những chính sách quan trọng của quốc gia. Cho nên, nói đến chỗ này, Đường Thái Tông nói: “Những tình huống này thực tế đáng lấy để làm gương”. Việc học những Kinh điển này trở thành việc háo danh, còn nói cho mọi người nghe, không có nhấn mạnh việc thực tiễn. Do đó, háo danh là một tai họa rất lớn.

Các vị xem, đưa ra những ví dụ này không phải là hủy hại quốc gia hay sao? Vì vậy, Đường Thái Tông nói đến: “Điều tôi yêu mến là đạo của Nghiêu Thuấn, là giáo của Chu khổng. Đây là những lời giáo huấn rất hay để trị thế”.

Đương nhiên hiểu được chính xác lời giáo huấn của Lão Tử và Thích Ca Mâu Ni Phật thì nhất định sẽ quản lý tốt đất nước, chỉ là do họ hiểu sai mà lại háo cái hư danh, như vậy sẽ có tai họa. Cho nên Đường Thái Tông nói đến: “Đã có những lời giáo huấn của Chu Công, Khổng Tử, Nghiêu Thuấn rồi, ông như chim thêm cánh, như cá gặp nước, hơn nữa nhất định không rời xa những lời giáo huấn này phút giây nào”. Cá rời xa nước thì không thể sống. Điều này là vào năm Trinh Quán thứ hai, Thái Tông cảm hứng nói ra.

Chúng ta tiếp tục xem câu tiếp theo.

Chúng tôi vừa nói đến, việc tu hành phải bắt đầu từ “đôn luân tận phận”. Tôi đã từng gặp gỡ một số đồng đạo, nghe họ kể có những người tu hành, ví dụ như đang làm bà chủ gia đình nhưng việc nhà không quản, nói phải đi tu, kết quả là làm cho gia đình bất an. Điều này ngược lại đã làm cho xã hội đại chúng hiểu sai về Kinh điển, hiểu sai về giáo lý Thánh Hiền. Thực tế là tôi đã gặp một trường hợp đã làm cho tôi nhìn thấy mà giật cả mình, hơn nữa là một vị Phó Cục Trưởng Giáo Dục của một địa phương nói với tôi. Vị Phó Cục Trưởng giáo dục này nói: “Ở đây chúng tôi có một vị lãnh đạo của một nhà trẻ. Công việc của nhà trẻ không chịu quản lý, đi đến một ngôi chùa cổ ngàn năm để tu hành. Nói là tu hành ở ngôi chùa cổ ngàn năm làm việc lành thì công đức lớn. Sau đó thì ở nhà trẻ rối loạn lên, mấy trăm em học sinh không ai quản lý”. Hiện tượng này có thể là cô ấy chưa nghe qua câu chuyện của vua Lương Vũ Đế, không có được điều răn. Điều này cũng là nhắc nhở chúng ta trong khi học tập văn hóa truyền thống nhất định không nên lạc vào một đống lý thuyết, không áp dụng vào thực tế trong cuộc sống gia đình, trong công việc thì không tốt, tạo nên sự hiểu lầm có thể làm mất cơ duyên của người khác nghe lời giáo huấn của Thánh Nhân.

Chúng ta xem đến câu tiếp theo.

Cổ chi nhân viết, (người xưa nói): “Một nông dân không canh trồng thì bá tánh phải chịu đói, một phụ nữ không dệt vải thì bá tánh phải chịu lạnh”. Vạn vật sinh trưởng đều có thời khắc nhân duyên, nhưng sử dụng không giới hạn tiết chế, như thế tài vật chắc chắn sẽ cạn kiệt. Người thời xưa thống trị thiên hạ đến mức hết sức tường tận chu đáo, cho nên có thể nương tựa vào nguồn tích trữ đầy đủ của đất nước.

Chúng tôi xem đến đoạn này cũng rất cảm phục. Ngày xưa đối với việc trị quốc đều có sự nhận thức chính xác, thậm chí cũng biết được “nhổ một cọng tóc động cả toàn thân”. Cả xã hội này là một thể, một người nông dân không lo canh tác tốt thì có khả năng cận kề với cái đói.

Được rồi, xin cám ơn mọi người!

A Di Đà Phật!

Chia sẻ học tập “Quần Thư Trị Yếu 360” (tập 17 và 18)

Giảng ngày 28 tháng 05 năm 2011 tại Trung tâm Giáo dục Văn hóa Trung Hoa Malaysia.

Người giảng: Thầy giáo Thái Lễ Húc

Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ, Mộ Tịnh Cư Sĩ, Phước Tịnh Cư Sĩ

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 36


Hôm nayHôm nay : 5604

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 218395

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 11181097

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?