Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Quần thư trị yếu 360

Quần Thư Trị Yếu 360 - Thầy Thái Lễ Húc giảng (Tập 13 - 14)

Thứ tư - 24/05/2017 21:52

TU THÂN - TỀ GIA - TRỊ QUỐC - BÌNH THIÊN HẠ

Các vị trưởng bối tôn kính, các vị học trưởng, xin chào mọi người!

Khóa trình của “Quần Thư Trị Yếu” chúng ta trong mấy ngày qua đều là bàn luận về “quân đạo” và “giới tham”. Chúng ta phải tu thân, đầu tiên phải đối trị sự tham dục. Trong mấy tiết học qua, chúng ta đã nói đến các câu: “Nội tác sắc hoang, ngoại tác cầm hoang. Cam tửu thị âm, tuấn vũ điêu tường. Hữu nhất dư thử, vị hoặc phất vong”. Đây đều thuộc về phần dục vọng. Trải qua mấy tiết học rồi, xin hỏi các vị học trưởng, vấn đề tham ăn của chúng ta đã giảm đi hay chưa, sự ham ngủ của chúng ta đã có khắc chế hay chưa? Có à? Xin chúc mừng! Mọi người học xong là có thể làm được, đây là thái độ hết sức quan trọng.

“Văn giáo tiện hành, hề đãi canh khuyến”, nghĩa là một người nghe được giáo huấn của Thánh Hiền liền có thể lập tức nỗ lực thực hành, áp dụng. Thái độ cầu học như vậy thì “đức ngày tăng, lỗi ngày giảm, giải hành tương ưng, không cần đến việc người khác ở bên cạnh nhắc nhở họ. Tất cả người học vấn thành tựu đều là tự động tự giác.

Trong việc cầu học vấn, người xưa cũng đã đưa ra cho chúng ta một nhắc nhở quan trọng, đó là trước tiên phải hàng phục sự nóng vội muốn cho mau thành của mình. Chúng ta thường nói: “Nóng vội sẽ tẩu hỏa nhập ma”, là tâm lý nóng vội. Việc này trong một số tiểu thuyết võ hiệp đều có nói đến. Cho nên, việc học công phu đầu tiên là phải hàng phục được tính khí bao chao. Sự bao chao này đều là từ tâm lý nóng vội muốn thành mà ra. Cho nên chúng ta xem thấy trong câu thứ ba nói đến, đây là Vương Sưởng dặn dò đối với con trai ông. Chúng tôi trong việc chọn câu đều đã nói qua rồi.

Phù vật tốc thành tắc tật vong, vãn tựu tắc thiện chung. Triêu hoa chi thảo, tịch nhi linh lạc; tùng bách chi mậu, long hàn bất suy. Thị dĩ đại nhã quân tử ố tốc thành, giới khuyết đảng dã”.

Người xưa của chúng ta có một chỗ rất đáng quý, đó là học vạn vật, từ trong đại tự nhiên mà lãnh ngộ được. Phải trồng vững cái gốc, “sâu rễ bền gốc”, cũng như xây dựng nhà cửa vậy, nền móng nhất định phải làm cho chắc, tích sâu phát rộng, không thể mong cầu cho mau thành được, gọi là “thừng cưa gỗ đứt, nước chảy đá mòn, nước chảy thành sông, dưa chín cuống rụng, đa nghi như Tào Tháo, dục tốc bất đạt”. Tự kiêu, nóng vội, hoài nghi, hình như là phương pháp của ta còn hay hơn của Khổng Tử. Có ý niệm hoài nghi này, muốn nhanh nhưng hoàn toàn ngược lại.

Trong vấn đề cầu học vấn, đáng quý nhất chính là lão thật nghe lời của Thánh Hiền. Việc này thì được đại lợi ích, việc học tập của họ sẽ đứng trong hàng trí huệ của Thánh Hiền mà học. Mà áng văn chương này cũng là trí huệ cuộc đời của người cha, là sự tha thiết dạy bảo đối với ông. Kỳ thực, chúng ta chăm lo cho cuộc sống của chính mình, cho đến nhìn thấy những bạn bè đồng nghiệp ở bên cạnh, những người bớt phải đi con đường vòng, đại đa số đều là chịu nghe lời khuyên bảo của cha mẹ, chịu nghe lời người lớn và chịu nghe theo Kinh điển. Giả như ngay cả lời của cha mẹ mà cũng không nghe, thì cuộc đời phải vấp ngã lộn nhào mấy lần là chuyện không phải hiếm. Mọi người hãy nhớ lại thử xem, đầu chúng ta sưng bầm mấy lần rồi? Các vị không có phản ứng chắc là đã dập đầu rất nhiều lần rồi, nhớ không hết nổi. Cho nên, đáng quý là phải tổng hợp kinh nghiệm của cuộc sống, phải biết nghe trí huệ của ngôn ngữ, phải biết nghe sự khuyên can quý giá của cuộc sống.

Trong đoạn giáo huấn này, người quân tử có đức hạnh có tài năng, họ cũng là người từng trải. Họ biết đức hạnh, tài năng, trí huệ thì không thể nào một lần là xong ngay, đều phải tích lũy, tuần tự mà tiến. Cho nên nói là “ố tốc thành”, chỉ cần cầu mau chóng thành thì chắc chắn sẽ thất bại. Biểu hiện của các vị cũng nên phối hợp một chút, khi tôi nói chắc chắn thất bại thì ánh mắt của các vị phải ra vẻ công nhận và gật gật đầu chứ. Lạ thật, khi tôi nói chắc chắn thất bại thì thấy ai cũng không có phản ứng gì cả vậy, làm cho tôi đột nhiên có linh cảm không thể tiếp tục nổi nữa.

Khổng Tử nói: “Không dục tốc, không thấy lợi nhỏ; dục tốc tắc bất đạt”, thấy lợi nhỏ sẽ không thành sự lớn. Bao nhiêu là lời dặn dò như vậy, các vị học trưởng, mọi người đã vội vàng buông bỏ rồi chưa, buông bỏ sự cầu mong chóng thành rồi chưa? Lão thực mà an trú vào trong hiện tại rồi hay chưa? “Muốn biết kết quả tương lai như thế nào chỉ cần xem công phu hiện tại”. Cứ luôn ở đó mong cầu ở tương lai, lo lắng cho tương lai, thì tinh thần bị hao tổn vào trong những ý niệm hư huyễn này rồi. Vì sao người nông phu lại chân thật? Vì họ biết đạo lý: “Chỉ hỏi việc cày cấy, không hỏi việc thu hoạch”.

“Giới khuyết đảng dã”. Chữ “giới khuyết đảng” này là một điển tích. Nghĩa là vào thời của Khổng Tử có một thiếu niên thường hay truyền lời lại cho người lớn. Có một hôm, người này đến truyền lời cho đức Khổng Tử, những người bên cạnh nhìn thấy, bởi vì Khổng Tử học vấn rất cao, những người khác đều rất hiếu kỳ hỏi: “Người thanh niên này có phải là đến cầu học vấn hay không?”. Phu Tử nói: “Cậu ấy không phải đến để cầu học vấn. Từ trên những động tác của cậu mà thấy được, cậu là người muốn sớm ngày được làm người lớn”. Từ đâu mà nhìn ra được vậy? Từ chỗ luôn ngồi ở chỗ của người lớn. Chắc là cậu này không có học “Đệ Tử Quy”. “Người lớn đứng, nhỏ chớ ngồi. Người lớn ngồi, cho phép ngồi”. Không ai dạy cậu, cũng không mời cậu ngồi, vậy là tự cậu sẽ ngồi đại xuống. “Ta cũng đã mười tám tuổi rồi, ta cũng đã mười sáu tuổi rồi”, rất muốn làm người lớn. Tôi tự suy nghĩ lại, hình như tôi cũng giống như vậy, thảo nào mà không thể thành người tài được; lúc nhỏ thường hay làm ra vẻ người lớn lắm. Cậu ấy đi đường cũng đi ngang hàng với người lớn, không biết khiêm nhường, muốn mau làm người lớn. Đây là nôn nóng. Phu Tử rất lợi hại. Những người có trí huệ từ nhất cử nhất động của chúng ta có thể nhìn thấy được tâm thái của chúng ta và việc thành tựu của chúng ta trong tương lai. Chút nữa sẽ nói đến nội dung này. Người xưa thật sự là rất lợi hại. Chúng ta suy nghĩ lại những đạo lý này, kỳ thực cũng không phải là phức tạp, tâm hành nhất như. Hành vi của một con người là từ tâm của họ phản chiếu ra ngoài, cho nên từ hành vi của họ mà ta có thể suy đoán ra được tâm thái của họ đã thành thục hay chưa. Cho nên, việc này là Khổng Phu Tử mượn cơ duyên này để nhắc nhở người trẻ tuổi không nên nôn nóng cầu thành.

Tiếp theo, trong đoạn văn có nói đến: “Nhược Phạm Cái đối Tần Khách chí Vũ Tử hệ chi”. Ở đây là nói với mọi người, họ khoe khoang năng lực học vấn của mình, trở về bị cha của mình đánh cho một trận, đánh đến gãy cả cây trâm cài tóc. Tin rằng cả đời cũng không quên. Phạm Văn Tử về sau vẫn là một người rất có học vấn. Người cha chán ghét việc đó mà nhắc nhở ông không thể dùng tài năng của mình để hạ thấp, áp chế người khác.

Tiếp theo, trong đoạn văn nói đến: “Phu nhân hữu thiện tiên bất tự phạt”. Con người có thiện hạnh sẽ rất ít người có thể không tự khen mình.  

“Hữu năng giả quả bất tự căng”, nghĩa là người có năng lực rất ít người không tự kiêu. Chữ “căng” này chính là ngạo mạn.

Những lời này chúng ta có thể từ bản thân mình, từ đại chúng trong xã hội trước mắt mà quan sát. Thời đại này của chúng ta coi trọng tài năng, coi trọng học lực. Chúng ta hãy tỉ mỉ mà quan sát, người có tài năng, có học lực, thậm chí là người có địa vị, có tài phú, có thể tìm được người nào không ngạo mạn hay không? Không dễ tìm được, nhưng có. Vì sao có? Bảo đảm người đó gia giáo rất tốt. Bởi vì khi cả xã hội coi trọng vẻ bề ngoài như vậy thì dễ sinh ra ngạo mạn, xem thường người khác, liền thích so sánh với người khác. So sánh mà hơn người ta thì ngạo mạn, thua thì liền tự ti, có tình trạng này hay không? Các vị trưởng thành khỏe mạnh như vậy chắc là chưa trải qua sự vật lộn này. Các vị là những gia đình hạnh phúc, tổ tiên có đức. Tôi là một người lăn lộn ra từ trong xã hội như vậy, có thể sống được đến ngày nay xem như là không tệ. Tôi từ nhỏ không có tài năng gì, sự thi đua gì cũng đều không có liên quan tới tôi, tôi rất tự ti.

Tôi còn nhớ khi học cấp hai, các bạn học nữ đều ghi chép lại ưu điểm của một nam học sinh nào đó phải cao giống như ai đó, hình thể giống như ai, thông minh giống như ai, giống như ưu điểm của mỗi một ai đó, dường như tạo dựng ra một con người mà trên người đó đã được tập hợp đầy đủ hết tất cả những ưu điểm này. Kết quả các bạn học của tôi có được khoảng mười người được đưa vào danh sách, dường như không thể nào có tên tôi, cần giống điều gì thì không có điều đó, cần tài năng cũng không có tài năng. Sau cùng các bạn nữ cũng rất tốt bụng, họ sợ làm tổn hại tâm hồn bé nhỏ của tôi, cho nên họ đã miễn cưỡng đưa thêm một điều vào, đó là phải giỏi hiểu ý người khác giống như Thái Lễ Húc vậy. Đây là miễn cưỡng mà thêm vào. Cho nên trong thói quen so sánh khập khiễng như vậy thật sự đã có ảnh hưởng rất lớn đối với nội tâm của con người. Có thể không bị tiêm nhiễm thì thật không dễ chút nào.

Các vị học trưởng, các vị có lòng tin hay không? Các vị học trưởng, các vị hoàn toàn không đi so sánh với người khác hay sao? Chúng ta đến thế gian này một cách rõ ràng minh bạch, có đôi mắt trong sáng hồn nhiên, bây giờ đôi mắt ấy có còn trong sáng nữa hay không? Đã ô nhiễm bao nhiêu rồi? Đều không hay không biết. “Bổn lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai”. “Nhạ” đến mức độ nào vậy? “Nhạ” đến mức, từ hai - ba tuổi thì mỗi ngày cười 180 lần (đó là nhà khoa học nói, không phải là tôi nói), ô nhiễm đến hiện tại mấy mươi năm, bây giờ bình quân mỗi ngày chỉ có thể cười được bảy – tám lần. Từ 180 lần/ngày giảm xuống đến mức bây giờ cười không ra nổi, miễn cưỡng lắm thì cũng cười được bảy - tám lần.  Ta đã bị ô nhiễm cái gì rồi? Chính là lòng tham, lo được lo mất, tham cầu; cầu không được thì khổ sở, so tới so lui. Không những một mình mình khổ mà còn kéo luôn cả những người thân khổ lây. “Con à, con thật là không bằng người ta chút nào!”, “anh à! Anh xem người ta một tháng kiếm được bao nhiêu, anh thì kiếm được bao nhiêu”, cả nhà đều khổ theo chúng ta. Tôi vì sao mà lại hiểu rõ như vậy? Bởi vì tôi cũng là một người từng sống như vậy. Cũng như khi tôi đi thi, bản thân rất hồi hộp, cả nhà cũng hồi hộp theo. Cho nên cuộc đời này của chúng ta cần phải đem đến cho những người bên cạnh được hạnh phúc, không phải là đem đến cho họ sự đau khổ.

Các vị học trưởng, khi các vị chuẩn bị đi xuống đầu thai thì các vị nghĩ điều gì? Các vị còn nhớ hay không? Nhất định là phải đem sự hạnh phúc đến cho những người thân của chúng ta, nhất định không thể quên cái tâm ban đầu đó, không thể tiếp tục tiêm nhiễm những tập khí này nữa. Nhiễm rồi thì sẽ hủy hoại chính mình, cũng làm tổn hại những người ở bên cạnh chúng ta. Vì thế, ngạo mạn nhất định phải buông xả.

Cho nên, người phụ thân này đã nhắc nhở ông, rất khó để không bị nhiễm những tập khí này, không nên khoe khoang. Tâm của người xưa rất nhu hòa, họ đều có thể suy luận ra được sự thay đổi của sự vật. Bạn hôm nay tự khoe khoang, tự phô trương, tiến thêm một bước nữa nhất định sẽ bưng bít người ta. Bưng bít chính là hạ thấp người khác, nhất định sẽ kiêu căng với người, chính là ngạo mạn với người. Bạn trồng xuống hành vi ngạo mạn với người khác, có chủng tử rồi, chiêu cảm lại là cái gì? “Hạ thấp người tất sẽ bị người hạ thấp lại, ngạo mạn với người tất sẽ bị người ngạo mạn lại”, cuộc đời của bạn chắc chắn sẽ có rất nhiều chướng ngại. Đó chính là tự mình đã tạo ra. “Yêu thương người thường được người yêu thương lại, kính trọng người thường được người kính trọng lại, bưng bít người thường bị người bưng bít lại”. Cho nên cuộc đời nếu như nghĩ thông được những đạo lý này, bình tĩnh mà suy nghĩ lại, người nào đó vì sao lại nhìn ta không vừa ý? Có thể ta ngày trước có thái độ không đúng đối với người ta, việc gì tất cũng có nguyên nhân của nó. Cái nhân này nếu không phải ở cảnh giới thì cũng ở do người, cũng ở do thái độ của chính mình. Cuộc đời không có gì phước tạp cả, đều là chiêu cảm cả, do tâm của mình chiêu cảm. “Phương dĩ loại tụ, vật dĩ quần phân”. Bạn bè bên cạnh thậm chí là người thân của bạn đều là chiêu cảm ra. Bạn là người có đức hạnh thì chiêu cảm ra là con thảo cháu hiền. Làm việc hổ thẹn với lương tâm thì chiêu cảm đa số đều là phá gia chi tử, đều là chiêu cảm.

Các vị học trưởng, hôm nay các vị ngồi ở đây học về “Quần Thư Trị Yếu”, có ai là bị ép buộc mà tới đây hay không vậy? Tôi có thể giúp các vị kêu oan cho. Việc này cũng là sự chiêu cảm. Chúng ta không có cái tâm muốn kế thừa văn hóa thì làm sao mà ngồi ở đây được kia chứ. Cùng nhau đến học “Quần Thư Trị Yếu”, chân thật hiểu được thế gian này không phức tạp, đều là chiêu cảm. Tâm cảnh của con người sẽ tự thấy có trách nhiệm với hết thảy sự tình, họ sẽ không chỉ trích một ai. Chúng ta phải nên hiểu, trách người thì thường bị người trách lại, “trách móc nhau thì trời long đất lỡ, tự trách mình thì trời yên đất bình”.

Kỳ thật, nhiều giáo huấn như vậy cũng không phải đã đem hết chân tướng sự thực mà nói ra với chúng ta sao. Vì sao dạy chúng ta phải tu thân làm gốc? Bởi vì cả quá trình tổ chức cuộc sống vẫn là chúng ta tự mình chiêu cảm đến. Cho nên người cha này đã đem đạo lý phân tích ra một cách rõ ràng, không chỉ giảng đạo lý mà người cha này học vấn cũng rất tốt, còn lấy ví dụ để cho ông hiểu.

Đã nói đến “Tam khích vi lục ư tấn”.  “Tam tấn” là ba anh em chú bác, là quan lớn của nước Tấn. Cả ba người đều có binh quyền trong tay, ở nước Tấn là những người quyền cao chức trọng, là một gia tộc rất có ảnh hưởng. Ba người này là Khích Kỳ, Khích Thù và Khích Chí. Câu chuyện này là ở trong “Tả Truyện”. Lịch sử chúng ta đều là ghi chép những câu chuyện đặc biệt làm thức tỉnh lòng người. Chữ này đọc là “Thù”, và chữ “Khích Chí”. Họ có quyền cao chức trọng, nhưng sự ngạo mạn và tâm sân hận cũng rất nặng, bởi vì quyền lực quá nặng. Vào lúc đó là thời Tấn Lệ Công (chữ “Lệ” này của từ “nghiêm lệ”), có một trung thần gọi là Bá Tôn, ông đã khuyên Lệ Công nên giảm đi một chút quyền lực của họ, quyền lực của họ quá lớn rồi. Việc này truyền đến tai của Tam Khích, họ liền ôm hận đối với vị trung thần tên là Bá Tôn này, vả lại còn âm mưu muốn giết hại ông. Lúc đó có một vị quan tên là Hàn Hiến Tử rất có học vấn. Hàn Hiến Tử đã cảm khái mà nói: “Một vị trung thần như vậy, một người thiện như vậy, hành vi của ông là kỷ cương của trời đất, nếu như Ngài mà giết chết một người nào đó thì tai họa của Ngài e rằng đã đến cận kề rồi”. Hàn Hiến Tử đã nói như vậy. Cho nên trong Kinh điển cũng là đã nhấn mạnh: “Bế hiền mông hiển lục”, bạn khiến cho một quốc gia không thể dùng đến được những người hiền đức này thì sẽ rất nhanh chóng chịu phải tai họa, khiến cho người hiền không được trọng dụng mà đã nhanh chóng bị tai họa, càng huống hồ là người hiền bị giết hại, cho nên cái họa này sẽ rất nhanh chóng liền đến với mình. Khi đó Hàn Hiến Tử đã nói như vậy. Kết quả sau đó, trải qua không bao lâu, những vị thần tử này, đặc biệt là những người chuyên chỉ nịnh hót bợ đỡ lập công cũng thấy Tam Khích không vừa mắt. Bởi vì họ quyền lực lớn, những kẻ tiểu nhân này lại đang tranh đoạt danh lợi, liền bàn kế giết chết cả ba người này. Đương nhiên Lệ Công cũng là một người ngu muội, bị những người nịnh thần này vây bên cạnh. Sau khi ba người này chết, Lệ Công dường như chỉ một năm sau đó thì cũng bị giết chết. Cho nên những người làm chính trị, làm quan, nếu như không biết “quân đạo - thần đạo”, thì tai nạn của họ sẽ rất khó tránh khỏi. Đây là do tính ngạo mạn, đố kỵ mà đã dẫn đến họa sát thân.

Tiếp theo là: “Vương thục phụ tội ư châu”. Đây là vào thời triều nhà Châu. “Vương Thục” là họ, tên đầy đủ của ông là Vương Thục Trần Sinh. Câu chuyện trong lịch sử thì có rất nhiều tên, mọi người nghe xong có cảm thấy hoa mắt choáng váng không? Nếu như các vị thật sự thấy chóng mặt thì hãy buông bỏ bớt, không cần phải nhớ tên người làm gì, nhớ được nghĩa lý là được rồi. “Y nghĩa bất y ngữ”.

Tôi chỉ muốn giao lưu thêm một chút về bối cảnh khi đó. Hai vị đại thần này tên là Vương Thục Trần Sinh và Bá Dư. Hai người tranh sủng. Vào khi đó, Châu Linh Vương tại vị. Kỳ thực, họ đều phạm phải lỗi ngạo mạn, chiêu cảm sự xung đột của người ta đối với họ, sau cùng đã bị đại thần Bá Dư dùng cách hãm hại. Cuối cùng, vị Vương Thục Trần Sinh này đã bị ép phải rời xa tổ quốc. Lúc trước hình như tôi đã nói qua với mọi người một câu cách ngôn, bây giờ chúng ta hãy ôn tập lại một chút.

“Bộ bộ chiếm tiên giả”, nghĩa là mỗi bước đều giành đứng trước người khác.

“Tất hữu nhân dĩ tễ chi”, nghĩa là nhất định sẽ có người khác đến để chen lấn lại.

“Sự sự tranh thắng giả”, nghĩa là mỗi một việc đều phải tranh đứng đầu, không chịu thua một ai, đều muốn so cao thấp với người ta.

“Sự sự tranh thắng giả, tất hữu nhân dĩ tỏa chi”, sẽ làm cho họ chùn nhuệ khí. Cho nên tuổi trẻ cũng không nên quá kiêu ngạo là vì vậy, phải biết khiêm hạ, nhún nhường, cung kính, nhẫn nhượng, không nên có tâm tình nóng nảy quá trớn, phải khiêm nhượng, phải biết khiêm hạ.

“Bất duy căng thiện tự phạt háo tranh chi cữu hồ”, không phải vì là người kiêu căng khoe tài thì cũng hay tranh giành với người khác, đã chiêu cảm đến là kết quả, là lỗi lầm có phải không?

“Cố quân tử bất tự xưng, phi dĩ nhượng nhân, ố kỳ cái nhân dã”, người quân tử không tự khoe khang tài năng của chính mình, không phải chỉ là người khiêm nhượng, mà họ còn chán ghét sự hạ thấp người khác, sau đó còn có hành vi so sánh với người. Họ thấy thật vô liêm sĩ, không tán đồng.

Cho nên, “phu năng khuất dĩ vi thân”, có thể cong có thể thẳng vậy mới đúng.

“Nhượng dĩ vi đắc”, có thể khiêm nhượng, giành được sự tôn trọng của người khác, giành được sự tín nhiệm của người khác, giành được sự tán đồng của người khác. Ngược lại những người rất có quyền thế xem ra thì dường như họ đã thắng, nhưng trên sự thực thì họ đã thua rồi.

“Nhược dĩ vi cường”, mềm yếu thắng cứng rắn.

Thầy của Lão Tử tên là Thường Tung, tuổi tác đã rất cao. Có một hôm, Lão Tử đến thăm thầy, hỏi: “Thầy ơi, người tuổi tác đã cao như vậy rồi, vậy thầy còn có lời giáo huấn quan trọng nào mà muốn dạy đệ tử nữa không?”. Kết quả Thường Tung nói: “Con không hỏi thì ta cũng sẽ nói với con”. Bạn xem, nghe được những lời này thì rất là cảm động. Họ là người làm thầy niệm niệm đều vì thành tựu cho học trò. Tôi ngày trước ở trong “Luận Ngữ”, xem thấy Tăng Tử Ngài mắc trọng bệnh mà vẫn cho gọi học trò đến. “Tăng Tử hữu tật, triệu môn đệ tử viết”, bị bệnh nặng đến như vậy bất kỳ lúc nào cũng có thể chết, những vẫn suy nghĩ nắm bắt cơ hội để giáo dục học trò của mình, thế là Tăng Tử cho gọi các học trò đến. “Khải dư túc, khải dư thủ”, nghĩa là hãy xem tay của ta, hãy xem chân của ta, đều không bị tổn thương, thận trọng dè dặt, như đứng bên bờ vực, như trên băng mỏng. Thân thể này từ cha mẹ mà có, không dám tổn thương là khởi đầu của hiếu, cho nên Tăng Tử vô cùng hiếu thuận. Đến lúc cuối đời rồi mà vẫn cứ luôn thận trọng tỉ mỉ, không dám để cho thân thể mình bị thương. “Nhi kim nhi hậu, ngô tri miễn phu”, nghĩa là sau khi ta đi rồi, ta không có hối tiếc, ta không có hành vi bất hiếu nào sanh ra. Các vị xem, khi bị bệnh nặng mà cũng vẫn giữ cái tâm nỗ lực thực hiện hiếu đạo, đã để lại cho học trò ấn tượng hết sức sâu sắc.

Vị thầy này của Lão Tử, các vị xem, vị thầy tuổi tác đã cao, đều là một lòng muốn thành tựu học trò, cho nên Lão Tử vừa hỏi như vậy thì Thường Tung đã rất vui mừng nói với ông vài đạo lý. Vả lại cũng rất coi trọng sự gợi ý, không có nói trực tiếp mà hỏi Ngài ba vấn đề.

Thường Tung đã hỏi: “Vì sao khi chúng ta đi ngang qua quê hương của mình thì nhất định phải xuống xe, không thể ngồi ở trên xe”. Các vị học trưởng, tại vì sao? Mọi người có những lúc sẽ nghĩ không thông, vậy thì không nên suy nghĩ bằng đầu nữa, mà dùng gì vậy? Dùng trái tim này để cảm nhận, có lúc các vị sẽ nghĩ thông được. Vì sao mà khi đi qua quê hương phải xuống xe? Chúng ta đổi một vấn đề khác, vì sao nhìn thấy chú bác của mình, nhìn thấy trưởng bối ở trên xe thì phải xuống xe? Đó là cung kính. Làm gì có chuyện các vị trưởng bối này đang ở bên cạnh mà bạn cứ ung dung đủng đỉnh trên lưng ngựa chứ. Người có tâm cung kính thì làm sao lại có hành vi như vậy được? Họ sẽ tự nhiên xuống ngựa xuống xe.

Có một đứa trẻ tuổi cũng còn rất nhỏ, sau khi học “xuất tắc đệ” thì em biết cung kính người lớn. Có một hôm, khi người lớn đang xem truyền hình, đứa trẻ này cũng chưa ai dạy em việc đó, cả thân người của em cúi xuống để không che khuất người khác xem tivi, cúi đến mức còn chút nữa là bò lăn ra sàn nhà, không có che khuất người lớn ngồi ở đằng sau xem tivi. Các vị xem, hành vi đó là từ đâu mà ra? Đó là từ thái độ cung kính mà ra. Không hề dạy em những tình tiết nhỏ, nhưng vì em đã có được tâm cảnh đó rồi, em liền làm ra được động tác đó. Cho nên người khiêm hạ, người biết khiêm hư, cho dù những lễ nghi, những điều vi tế họ không biết, nhưng họ cũng sẽ không thiếu xót gì nhiều, bởi vì tâm cảnh của họ đã đạt được rồi. Quê hương chính là nơi đã nuôi dưỡng mình, chúng ta lúc nào cũng không quên gốc, phải nên nhớ ơn. Nhìn thấy quê hương của mình, tâm cảnh đó, tâm cảm ơn, tâm cung kính khởi lên, liền tự nhiên xuống ngựa xuống xe. Đây là tinh thần không quên nguồn cội.

Tiếp đến lại hỏi tiếp vấn đề thứ hai: “Vì sao khi đi ngang qua một cái cây lớn thì phải mau chóng bước nhanh đi qua”. Lão Tử trả lời: “Đây có phải ý nghĩa là tôn trọng người lớn hay không?”. Mọi người nên hiểu cây rất cao to thì cũng mấy trăm năm tuổi, thậm chí hơn nghìn năm. Tuổi tác đó lớn hơn so với chúng ta rất nhiều, chúng ta cứ ung dung đủng đỉnh thì đúng là không cung kính. Trong “Đệ Tử Quy” nói: “Đến phải nhanh, lui phải chậm”, đây đều là cung kính đối với người lớn một cách tự nhiên. Hôm nay cha mẹ, người lớn gọi chúng ta, chúng ta cứ đủng đa đủng đỉnh, thản nhiên chần chừ đi tới, vậy thì cung kính ở đâu vậy? Vừa gọi liền trả lời “Dạ” một tiếng, phải nhanh nhân chạy đến trước mặt: “Dạ, mẹ gọi con có việc gì ạ?”. Lui phải chậm, cha mẹ dặn dò xong, khi lui ra phải chậm rãi mà bước lui ra một khoảng mới bước quay đi. Vì sao lui ra phải chậm vậy? Vừa nói hết chuyện đã chạy đi mất, giống như là chỉ mong mau mau để được rời đi, thái độ như vậy là không tốt. Vả lại, khi lui ra chậm rãi vẫn còn một sự quan tâm nữa, đó là đúng lúc cha mẹ quên điều gì chưa nói xong thì liền kêu lại: “Trở lại đây, trở lại đây”, đúng không? Nếu như vút một cái không thấy bạn đâu nữa, đột nhiên có việc cần dặn dò thì lại không tìm thấy bạn nữa. Vì vậy người xưa đối với những lễ nghi này kỳ thực đều tương ưng với tâm tánh của con người, không phải là nói giống như là cố ý đặt để lên con người. Khi tương ưng với tánh đức của con người thì hành vi đó sẽ trở nên như vậy. Vì thế, không những là tôn trọng với người lớn mà còn tôn trọng với thiên địa vạn vật.

Hôm nọ, tôi cùng với vài đồng nghiệp cho cá ăn. Trong cái hồ đó có một cụ rùa. Không biết mọi người đã nhìn thấy qua hay chưa, lớn như vầy. Tôi cũng không rõ cụ rùa đã bao nhiêu tuổi, tôi rất hổ thẹn, đức hạnh vẫn chưa đủ, vẫn chưa thể nào giao tiếp với cụ rùa. Các vị xem, học trò của Khổng Tử có người đã vì lòng chân thành mà còn giao tiếp được với chim chóc. Kết quả là hôm đó, khi chúng tôi đem bánh mì ra cho cá ăn, phát hiện cụ rùa “lão gia gia” này bơi đến. Cử chỉ của cụ rùa vô cùng nho nhã từ tốn, rất có công phu thiền định, không nhanh không chậm. Mấy chú cá thì cứ tranh đớp lấy đớp để, cụ rùa thì cứ như như bất động, khi nào tới phiên mình thì mình ăn, không tranh giành, “mọi người cứ tranh đi, còn dư lại gì thì tôi ăn cái đó”. Sau khi ăn được hai - ba miếng, bỗng lặn một cái biến mất tăm. Tôi nói: “Công phu thật là cao, không hề có một chút tâm tham”. Người khác đều ở đó để tranh nhau, tranh từ đầu tới cuối, còn ở đó để đợi nữa, còn cụ rùa già này chỉ ăn vài ba miếng là đủ rồi, liền lặn đi mất. Các vị xem, việc này cho thấy sự tu dưỡng trong cuộc sống là không như nhau. Chúng ta có lúc tâm thô ý thiển, không có tỉ mỉ quan sát. Cho nên vì sao mà Đạo gia thường nói không nên giết rùa đập rắn. Những con rùa rắn này có khi vài chục - vài trăm năm tuổi, linh tánh và sự tu dưỡng của chúng cao hơn rất nhiều so với chúng ta, chúng ta sao có thể không tôn trọng kia chứ. Con người không nên vì được thân người đáng quý như vậy mà cuối cùng lại tự cao tự đại, ngạo mạn như vậy. Đây chính là nói tự mình hủy hoại linh tánh của mình. Cho nên khi đi qua cây cao to, đối với cây, với thần cây phải cung kính. Đây cũng là thái độ kính lão.

Tiếp đến vấn đề thứ ba, thầy Thường Tung mở to miệng ra, sau đó gọi Lão Tử và nói: “Con xem, lưỡi của ta có còn hay là không?”. Lão Tử nói: “Thưa, vẫn còn”. “Vậy răng của ta có còn hay không?”. “Thưa, không còn”. “Được, vậy con thể hội được đạo lý gì?”. Lão Tử trả lời: “Lưỡi thì mềm, tương đối nhu hòa, răng thì cứng cho nên dễ dàng bị hư tổn. Đây chính là nói đạo lý “Nhu có thể thắng cương””. Nói xong thì thầy Thường Tung bảo: “Được rồi, đã hết việc rồi, ta cũng không còn gì để nói với con nữa”.

Chúng tôi tin chắc là thầy Thường Tung khi đó đã thật sự rất lấy làm an ủi, người đệ tử này học vấn cũng khá lắm, đã thành tựu rồi. Cho nên ngày xưa người thầy dạy cho học trò, cha mẹ dạy con cái đều là dặn dò: “Nhược dĩ vi cường”. Nghĩa là: “Nhu hòa mới có thể thắng được bạo cường”. Có thể khiêm hạ, có thể cong, có thể thẳng thì mới có thể thành được việc. Cho nên: “Tiên bất toại hỷ”. Chữ “toại” này chính là thành. Người có sự tu dưỡng rất ít ai lại không thành tựu được sự nghiệp. Cho nên Tuân Tử có một đoạn nói chúng ta cũng rất quen thuộc: “Thành tựu trăm sự tất tại cung kính, thất bại trăm điều tất do ngạo mạn”. Vì sao mà từ thịnh thành suy? Vì do ngạo mạn, “tất do ngạo mạn”.

Tiếp theo, lại nói đến “phu hủy dự ái ố chi nguyên, nhi họa phước chi cơ dã”. Thái độ xử sự của một người; hủy báng người hoặc là tán dương người, thái độ tâm niệm như vậy cũng giống như một loại hạt giống. Hạt giống trồng xuống rồi, chiêu cảm đến là gì vậy? “Dự”, là tán dương người. “Khen người thiện, tức là thiện”, chiêu cảm đến chính là phước phần, là sự yêu thương của người khác. Nhưng giả như là hủy báng, đó có thể chính là hạt giống của họa hại, chiêu cảm tới tai họa. Cho nên chân thật hiểu được những đạo lý này, con người đối với mỗi lời nói việc làm của mình, khởi tâm động niệm đều thận trọng, bởi vì họ rõ ràng minh bạch. Nhất cử nhất động, khởi tâm động niệm, hết thảy đều là chủng tử họa phước của cuộc đời, làm sao có thể không cẩn thận được chứ. Cho nên cổ Thánh tiên Hiền cũng là kỳ vọng vào chúng ta. Trong “Thượng Thư” có nói: “Khắc niệm tác Thánh”, nghĩa là khắc chế cái tà niệm này. Niệm niệm đều là chánh niệm, đều là nhân nghĩa trung thứ để thành tựu học vấn của chính mình. Cho nên chỗ bắt đầu của việc học vấn của chúng ta niệm niệm đều suy nghĩ cho người khác mới có thể đem tập khí tự tư tự lợi nghiêm trọng nhất trừ bỏ.

“Thị dĩ Thánh nhân thận chi”, Thánh nhân vô cùng cẩn thận những thái độ xử sự này, những thái độ chê khen này.

QUẦN THƯ TRỊ YẾU 360 Tập 14

Khổng Tử viết: “Ngô chi ư nhân, thùy hủy thùy dự, như hữu sở dự, tất hữu sở thí, dĩ Thánh nhân chi đức, do thượng như thử, huống dung dung chi đồ, nhi khinh hủy dự tai”. Đoạn này nói đến Khổng Tử Ngài đối nhân xử thế, chung sống với mọi người, khen ngợi ai đó, hủy báng ai đó.

Mọi người chú ý xem phần dưới: “Như hữu sở dự”. Khổng Tử không có nói “hủy”, Khổng Tử chỉ có khen ngợi người không có hủy báng người, xử sự có một thái độ là “ẩn ác dương thiện”. Nhà đạo nói: “Thưởng thiện phạt ác”, nhà Phật thì nói “đoạn ác tu thiện”, đều là những tinh thần này. Phật Đà dạy dỗ đệ tử là một người sai, không chịu nghe lời khuyên của bạn thì cứ “mặc tấn” là được, không nên phô trương cái ác của họ. “Mặc tấn” chính là không nên nói, hãy trông đợi vào việc tự mình làm tốt hơn để cảm động họ. Bởi vì việc phô trương cái ác giữa con người và giữa đoàn thể sẽ không ngừng thị phi. Vả lại, sau khi dương ác lên mà đương sự biết được, thì có thể nỗi hận thù đó cả đời cũng không buông được, sẽ kết oán thù sâu nặng với người ta, gọi là nói người sau lưng.

“Thụ hám giả thường nhược khắc cốt”, nghĩa là khi bạn nói sau lưng người ta, khi người ta biết được thì họ cảm thấy đau lòng đến khắc cốt ghi tâm. Thói quen này nhất định phải thay đổi, không thể nào nói chuyện thị phi của người khác sau lưng họ.

Vừa rồi có chút lạc đề, vào lúc này càng không nên căng thẳng, phải bình tĩnh trở lại. Câu cách ngôn này là nói: “Diện du chi từ, hữu thức giả vị tất duyệt tâm, bối hậu chi nghị, thụ hám giả thường nhược khắc cốt”. Việc này có lẽ cũng đã nói qua với các vị rồi. “Diện du chi từ” chính là ở trước mặt người ta thì tán dương tâng bốc, người có hiểu biết thì chưa chắc là họ sẽ vui mừng, họ có thể vừa nghe đã cảm nhận được bạn đang nịnh nọt tâng bốc họ. Nhưng nói sau lưng người ta, sau đó người bị nói sau lưng này một ngày nào đó nghe được sẽ rất chấn động, có thể sẽ ôm hận cả đời.

“Khẩu vi họa phước chi môn”. Ở đây chúng ta cảm thấy được sự tu dưỡng của Khổng Tử. Trong số học trò của Khổng Tử, tài ăn nói của ai là hay nhất? Là Tử Cống. Cho nên “Luận Ngữ” chính là sự ghi chép lại tất cả cuộc sống của Khổng Tử và các học trò cùng với con người ở thời đại đó, không phải chỉ là kiến thức chỉ để đọc, mà đều là những triết lý nhân sinh linh hoạt sống động và sâu sắc.

Tử Cống có tài ăn nói tốt nhất. Có một hôm, “Tử Cống phương nhân”, nghĩa là Tử Cống nói điều không đúng của người ta, Khổng Tử đã nắm lấy cơ hội này nói: “Tứ dã, hiền hồ tai”, nghĩa là “Đoan Mục Tứ”, con là người có đức hạnh và tài năng, còn ở đó phê bình người ta. “Phu ngã tắc bất hạ”, nghĩa là ta đây thời gian dụng công đối trị với phiền não tập khí còn không đủ, còn con thì lại có nhiều thời gian đến như vậy để đi phê bình người khác hay sao. Đây là nhắc nhở đối với người học trò có tài ăn nói nhất, thậm chí là sợ Tử Cống sẽ gây ra họa hoạn.

“Như hữu sở dự”, nghĩa là Khổng Tử đều chỉ tán thán người khác. Nhưng các vị xem, khi nào thì Ngài mới mắng người khác? Khi Khổng Tử mắng thì đều là muốn đánh động người trong thiên hạ. Phải hiểu rõ ràng phải trái đối với kỷ cương. Khi Khổng Tử phê bình thì không phải là đối lập xung đột với người khác, mà là để cho người trong thiên hạ hiểu được việc thiện - ác, phải - quấy.

Khổng Tử viết quyển “Xuân Thu”, mỗi một chữ đều là chỉ ra thị phi thiện ác, thậm chí là khiến cho những loạn thần tặc tử khi đó khiếp sợ kinh hồn, vì sao vậy? Bởi vì một khi mà Khổng Tử viết một điều gì đó thì nó sẽ lưu lại nghìn đời, cho nên nói “Khổng Tử viết Xuân Thu loạn thần tặc tử sợ”. Khổng Tử không mắng người, khi đáng phải mắng thì Ngài cũng khai duyên. Mà việc đó là chân thật muốn chấn hưng toàn bộ cương thường trong thiên hạ. Nói như vậy mọi người chưa chắc hiểu được hết, chúng ta ôn lại một chút.

Trong “Tả Truyện”, vừa mở đầu, đoạn văn chương đầu tiên là “Trịnh Bá khắc đoạn ư Yên”. Trịnh Trang Công vì sao lại gọi là “Trịnh Bá”? Bởi vì ông làm anh không được tốt, không có dạy dỗ em út cho tốt. “Khắc Đoạn”; “Đoạn” là chỉ em trai của Trịnh Trang Công, ông cũng là một người em trai của hoàng đế, cũng là rất có thân phận. Vì sao gọi ông là “đoạn”? Bởi vì ông đã không tận hết bổn phận của chính mình, chức vị cao như vậy mà không làm tấm gương tốt cho thiên hạ xem, còn anh em đánh nhau. Dùng chữ “khắc” này nghĩa là các nước thảo phạt lẫn nhau, anh em mà dùng chữ “khắc” này là nhắc nhở người trong thiên hạ không nên làm trò cười cho người khác.

Cho nên các vị xem, “Xuân Thu” của Khổng Tử, trọng lượng của mỗi một chữ đều là tuyên truyền giác ngộ. Khổng Phu Tử ở đây đã nhắc nhở “đạo nhân thiện”. “Như hữu sở dự, tất hữu sở thí”, khen ngợi người ta cũng rất cẩn thận, nhất định là người đó chân thật có đức hạnh thì mới khen ngợi họ. Việc này rất quan trọng, danh xứng với thực. Giả như người này đức hạnh không tốt đến như vậy, người ở bên cạnh đều quá tán dương họ, dần dần họ sẽ đánh giá sai bản thân mình, sẽ cảm thấy mình rất giỏi. Vì thế, người trẻ tuổi hầu hết đều không chống đỡ nổi sự khen ngợi. Khen ngợi nhiều quá rồi nhất định sẽ có một chút say đắm trong đó, sẽ có một chút lâng lâng bay bổng, gọi là “tám gió thổi sẽ động”, không phải là thổi không động. Người trẻ tuổi rốt cuộc nền tảng định tánh của họ vẫn chưa vững chắc.

Mọi người hiện tại hãy chú ý xem, hiện tại trẻ con từ nhỏ đã được khen ngợi hết sức quá mức, cuối cùng không thể nói được nữa. Quen nghe những lời lọt tai rồi, đột nhiên sẽ nghe những lời không lọt tai, những câu phê bình, môi sẽ nhếch lên rất cao, không để ý bạn nữa. Chúng ta tự mình suy nghĩ lại cuộc sống này. Tôi trong cả quá trình trưởng thành hai mươi mấy năm, cha tôi không có một câu nào khen ngợi tôi trực tiếp cả. Kỳ lạ thật! Không phải cũng sống được ổn thỏa cả hay sao, làm gì có chuyện nhất định phải khen thì mới có thể sống được?. Kỳ thật, khi cha mẹ có đức hạnh thì con cái sẽ cảm nhận được cái đức phong đó, chúng sẽ làm theo cha mẹ, chúng sẽ có phương hướng mục tiêu của cuộc đời, chứ không phải việc khen ngợi mới là động lực. Nếu như khen ngợi trở thành động lực thì đó là danh văn lợi dưỡng, không có ai khen ngợi thì họ sẽ không làm. Cho nên, “giáo dã giả, trưởng thiện nhi cầu kỳ thất”. Chúng ta dùng phương pháp đó để ảnh hưởng đối với tâm cảnh của họ, chúng ta phải rõ ràng. Đương nhiên phương pháp này cũng không nhất định, phải dạy theo trình độ. Con người này tính cách đã rất thiếu lòng tin rồi, bạn đương nhiên phải khuyến khích họ. Ví dụ người này rất dễ dàng ngạo mạn, bạn đừng khen họ, vì vừa khen thì đã bay bổng. Cho nên, thật sự việc dạy dỗ một đứa trẻ không dễ dàng, phải thật dụng tâm để quan sát. Khổng Tử cũng là đã xác định rồi, đều đã quan sát qua, thử nghiệm qua rồi mới khen ngợi người đó. Đây là có trách nhiệm với thiên hạ. Bởi vì những gì mà Khổng Tử nói thì người ta đều tin, nếu như Ngài khen sai người có thể sẽ khiến cho người khác phán đoán sai. Bao gồm việc những người đương sự phải danh xứng với thực, mới không tạo thành chướng ngại cho đối phương. Danh xứng với thực, đối phương có thể sẽ thay đổi.

“Khổng Tử thượng thư như thử”, hà huống chúng ta không có trí huệ và năng lực phán đoán như Khổng Tử mà lại đi nói ra những lời khinh mạn, hủy báng, tán thán. Đó là không thỏa đáng. Cho nên thái độ “cẩn ngôn” rất là quan trọng.

“Tích phục ba tướng quân Mã Viện”, đoạn văn chương này chúng ta cũng đã cùng nhau học tập qua rồi.

“Giới huynh tử nghiêm đôn thư”, ông khuyên bảo cháu của ông. Mà Mã Viện thì vẫn còn đang cầm binh, trong lúc bận rộn như vậy lại viết về nhà một bức thư. Chúng ta nhìn thấy sự hành trì của người xưa, họ dù bận rộn nhường nào, mệt mỏi nhường nào, nhưng họ luôn ghi nhớ, không quên bổn phận của mình. Dạy dỗ cháu của ông: “Giới kỳ huynh tử ngôn, văn nhân chi ác, đương như văn phụ mẫu chi danh, nhĩ khả đắc văn, khẩu bất khả đắc đạo dã”. Những lời nói phê bình người khác có thể nghe nhưng không thể nói, cũng giống như tên của cha mẹ vậy, chỉ có thể nghe chứ không thể nói hoặc gọi tên của cha mẹ được. Đây là thái độ cảnh giác lo sợ. Đương nhiên “tai có thể nghe thấy”, bởi vì cũng hết cách, đành nghe thôi. Nếu như có thể, khi người ta vừa phê bình ai đó thì bạn liền nói: “Xin lỗi nha, tôi phải vào nhà vệ sinh chút”, vậy thì bạn sẽ không cần nghe nữa. Bởi vì chúng ta cũng có lúc muốn cân thử cân lượng của mình, có thể nào sau khi nghe xong thì không lưu lại ấn tượng gì không? Nói thẳng ra là rất khó. Vừa nghe đến phê bình một ai đó, hôm sau gặp người đó thì “hình như đúng là như vậy, càng nhìn càng giống”, thật sự như vậy. Cho nên chúng ta phải hiểu được tình huống như vậy, không nên nghe lời phê bình. “Đây nói phải, kia nói quấy, không liên quan, chớ để ý”. Hơn nữa, trong lòng cũng không nên ghi nhớ điều không tốt của người ta, lúc nào cũng nên ghi nhớ ơn của người khác. Đây là tâm thái khỏe mạnh vui sướng nhất. “Ân phải báo, oán phải quên”.

Tiếp đến là nói: “Tư giới chí hỷ”. Sự khuyến khích, sự răn dạy này thực tại là quá giỏi rồi, cảm thấy rằng Mã Viện dạy dỗ cháu của mình trong đoạn này thật là đáng quý. “Nhân hoặc hủy kỷ, đương thoái nhi cầu chi ư thân”. Đoạn này cũng là một lời nhắc nhở rất quan trọng đối với chúng ta.

Khi chúng ta chung sống với mọi người, người ta hủy báng chúng ta, hủy báng mình thì phải nên bình tĩnh trở lại, lui lại và tự suy nghĩ về hành vi của chính mình. “Nhược kỷ hữu khả hủy chi hành, tắc bỉ ngôn đương hỷ”. Giả như chúng ta làm ra hành vi đích thực là có chỗ không đúng, có chỗ không tốt, vậy thì tự chúng ta đã chiêu cảm đến sự phê bình hủy báng của người khác. Và ông nói cũng rất đúng. “Đương hỷ” là không có sai, người ta nói không sai. “Nhược kỷ vô khả hủy chi hành”, nghĩa là bản thân mình không có một chỗ nào tự mình làm không đúng mà chiêu cảm đến sự phê bình của người khác. “Tắc bỉ ngôn vọng hỷ”, nghĩa là ông nói đó cũng chưa chắc là sự thực, là hư vọng. Họ nói không phải là sự thật. bạn việc gì phải đi so đo tính toán.

“Tương tắc vô oán ư bỉ”, nếu người ta nói mà thỏa đáng thì đương nhiên bạn không thể oán trách người ta, thậm chí là bạn phải cảm ơn họ, họ chính là quý nhân trong cuộc đời của bạn.

Con người nhất nhật bất tri phi, tắc nhất nhật an ư tự thị” thì sẽ bước đi về chỗ cũ. Họ nói cho chúng ta biết để chúng ta có thể sửa. Không những là không thể oán họ mà còn phải cảm ơn họ. Cho nên có thể thành Thánh Hiền hay không thì thái độ này là mấu chốt.

Tử Cống là hiền nhân, “nghe lỗi mà vui”. Đại Vũ là Thánh nhân “nghe lời thiện mà bái lạy”. Người ta khuyên bảo đúng đắn thì Ngài lễ kính, đảnh lễ, cảm tạ đối với người đó.

“Đương tắc vô oán ư bỉ”, nghĩa là không thể oán người ta, mà phải cảm tạ người ta.

“Vọng tắc vô hại ư thân”. Giả như họ nói không phải là sự thực, lại không tổn hại gì đến thân thể chúng ta. “Hựu hà phản báo yên”, nghĩa là hà tất gì phải báo thù.

Chúng ta xem, “vọng tắc vô hại ư thân”. Câu này có đạo lý hay không? Họ nói đó không phải là sự thật, phê bình mình không đúng, chúng ta có bị mất đi miếng thịt nào hay không? Nếu không có, vậy thì có gì đáng để giận đâu chứ. Xin nói với mọi người, không những là không mất đi miếng thịt nào, có khi còn mập mạp thêm. Thật chứ không phải giả!

“Liễu Phàm Tứ Huấn” đã nói với chúng ta: “Vô quá cữu nhi hoành bị ác danh giả”. Một con người không có lỗi lầm mà vẫn bị nhiều người gieo tiếng ác thì con cháu của họ sẽ càng vinh hiển hơn,“tử tôn vãng vãng châu phát”. Đúng vậy! Họ không có lỗi lầm gì mà bị bao nhiêu là hủy báng và sỉ nhục. Con người có thể nhẫn nhục thì sẽ có đại phước phần về sau.

“Quán đức ư nhẫn, quán phúc ư lượng”. Họ có thể nhẫn, họ cũng là người có độ lượng, họ không tính toán, phước về sau sẽ rất nhiều. Cho nên, khi người ta mắng chúng ta là đã đem nghiệp tội của chúng ta tiêu trừ bớt, và còn đem phước lại cho chúng ta. Có phải không? Cho nên con người vì sao lại nổi giận? Vì không hiểu được chân tướng. Hiểu được rồi thì tâm an lý đắc. Con người ở thế gian này, nói thẳng ra việc gì cũng là việc tốt, không có một việc gì là xấu cả. Người mắng bạn thì bạn hãy nhớ câu phía sau là: “Con cháu đời đời hiển vinh”. Bạn xem, không những bạn mập ra mà con cháu bạn cũng đều có phước. Cho nên, cái lý này phải suy nghĩ cho thấu đáo. Khi đã thấu đáo rồi, ngày mai có người mắng bạn thì bạn sẽ rất vui: “Ây da, tiêu nghiệp được rồi, trả được bớt nợ rồi, lại được tích thêm phước nữa”. Con người một khi rõ lý thì tâm sẽ rất an, mỗi ngày đều vui cười ha ha… Không có chuyện xấu thì đương nhiên là vui cười rồi. Cho nên nếu như học tập văn hóa truyền thống mà vẫn chưa cười ra được thì cái đạo lý này cũng vẫn là chưa thông, câu nói này có một chút nuốt không trôi, dù là “vọng tắc vô hại ư thân” nhưng mà tôi vẫn rất là đau buồn.

Trong “Liễu Phàm Tứ Huấn” cũng có nói: “Nghe lời hủy báng không cần biện minh, tuy tiếng xấu ngút trời, như lấy lửa đốt trời, rồi sẽ tự tan biến”. Họ cho dù mắng đến đâu, mắng đến sau cùng, vốn dĩ là không có, lâu ngày thấy được lòng người, người ta đều nhìn thấy: “Ây da, đâu có đâu, người đó không có biện bạch, người đó thật là có tu dưỡng”. Nghe hủy báng mà đi tranh luận, người ta vừa phê bình thì mau mau đi giải thích, thậm chí là mắng nhau. “Như tằm xuân làm kén, tự mình quấn tơ”. Biện bạch đến sau cùng thì càng tô càng đen, làm cho chính mình bị khốn đốn. Những lời giáo huấn này kỳ thực đối với một con người đối nhân xử thế, ứng đối tiến thoái đều là học vấn then chốt nhất.

Các vị học trưởng, nói đến chỗ này, các vị đã từng đem những đạo lý này dạy cho con cái các vị hay chưa? Nếu như vẫn chưa, vậy thì con cái các vị xung đột với người ta, nguyên nhân nằm ở đâu? “Nuôi không dạy là lỗi của cha. Dạy không nghiêm là lỗi của thầy”. Câu nói này tôi nghe xong cảm thấy hổ thẹn, cho nên khi tôi giở ra xem đều rất cẩn thận. Tôi dạy cho học trò thì có tên trong danh sách hay không vậy? Như vậy thì Vua Diêm La đã ghi thêm cho tôi một tội, cho nên tôi ngay từ đầu đã đem đạo lý nói cho chúng biết.

“Thư văn nhân hủy kỷ nhi phẫn giả”, nghe người ta phê bình mà nổi giận. “Ố sửu thanh chi gia nhân dã”, chính là họ rất làm không hài lòng, rất căm ghét người khác đem lời hủy báng gán lên họ. Nhưng mà họ càng đối đãi như vậy càng không hài lòng, “nhân báo giả tư thậm”. Họ càng không hài lòng, càng tranh cãi với người ta thì người ta lại không ngừng tranh cãi lại, hủy báng càng nhiều hơn.

“Bất như mặc nhi tự tu dã”, nghĩa là không bằng trầm lặng, trầm tĩnh trở lại, phản tỉnh chính mình, tu dưỡng chính mình cho tốt.

“Ngạn viết”, chữ “ngạn” này chính là vào lúc đó. Hầu hết lão bá tánh nói chuyện với nhau đều thường dùng ngạn ngữ. “Cứu hàn mặc như trọng cầu”, vào ngày rất lạnh giá, có thể chống rét giá và tránh được sự tổn thương do giá rét, tốt nhất là áo da dày. “Trọng cầu” ở đây là ví dụ.

Tiếp theo, câu này nói rất hay: “Chỉ báng mặc như tự tu”. Muốn ngăn cản sự hủy báng, phương pháp giải quyết căn bản nhất chính là tự mình tu dưỡng có tốt hay không. Tiêu tốn quá nhiều thời gian để đi giải thích, để tranh cãi, sau cùng thì đức hạnh lại càng ngày càng kém, vấn đề càng ngày càng nghiêm trọng. “Tư ngôn tín hỷ”, những lời này nói ra rất là đáng quý, quá chân thật.

“Nhược dữ thị phi chi sĩ, hung hiểm chi nhân, cận do bất khả, huống dữ đối hiệu hồ, kỳ hại thâm hỷ, khả bất thận dữ”. Câu nói này cũng là lời dặn dò quan trọng. Những người làm ra chuyện thị phi này tâm tánh cũng tương đối hung hiểm, cho nên cận kề còn không được, ở đó mà lý luận, đối lập, tranh cãi với họ, vậy thì họa hại về sau sẽ rất là sâu nặng, làm sao có thể không thận trọng được chứ.

“Ngô dữ thời nhân tùng sự, tuy xuất xứ bất đồng, nhiên các hữu sở thủ”. Tôi khi cùng chung sống với những bà con bạn bè này, những người bằng hữu này, thái độ dù là từ quan, làm quan hay ở ẩn, không như nhau.

“Nhiên các hữu sở thủ”, thái độ này đáng quý. Đối diện với những người giao thiệp đều có thể học tập được ưu điểm của người ta, học lấy sở trường của người ta. “Đệ Tử Quy” nói: “Thấy người tốt, nên sửa mình. Dù còn xa, cũng dần kịp”.

Chúng ta thể hội Kinh điển, quan trọng nhất chính là biến Kinh điển trở thành thái độ xử sự của chính mình. Việc này sẽ có lợi ích vô cùng. Bản thân chúng ta, bao gồm cả con cái, thật sự lúc nào cũng có thể có thái độ thấy người ta thiện thì liền muốn học tập theo, thì con cái của các vị cuộc đời này không cần các vị phải bận tâm nữa. Chúng mỗi ngày tiếp xúc với người, sự và vật đều để cho chúng học tập và nâng cao, chúng sẽ “đức tiến dần, lỗi ngày giảm”. Năng lực, trí huệ, đức năng đều đang tiến bộ, đứa trẻ này còn cần chúng ta lo lắng nữa hay không? Thái độ này tin rằng sẽ trở thành tấm gương vô cùng tốt cho con cái của chúng nữa. Cho nên chúng ta phải quay đầu lại mà hỏi chính mình, chúng ta có “thấy người tốt, nên sửa mình” hay không? Sự suy nghĩ này cụ thể hơn mà nói, ví dụ như mỗi ngày chúng ta thân cận với ai? Bạn nói: “Tôi mỗi ngày đều nhất định nghe Sư trưởng Ngài giảng Kinh”, “thấy người tốt, nên sửa mình”, vậy thì chúng ta nhìn thấy Sư trưởng có những ưu điểm gì, đức hạnh gì? Chúng ta hạ quyết tâm học tập noi theo không? Việc này phải suy nghĩ cho cụ thể. Kết quả là tỉ mỉ suy nghĩ trở lại dường như không có làm được điều gì hết. Cho nên học tập thì không thể dùng cái đầu. Nếu dùng đầu thì chỉ biết nhớ đủ thứ. “Thấy người tốt, nên sửa mình” ai ai cũng biết đọc, chân thật bình tĩnh lại dụng tâm cảm nhận xem, cơ hồ như không có học. Bởi vì nếu có học thì sẽ tiến bộ, không học thì sẽ thụt lùi. “Học như bơi thuyền ngược nước, không tiến ắt lùi”.

Vì vậy, hôm nay trở về là có bài tập quan trọng đấy. Viết ra điều mà các vị bội phục nhất của năm người bạn, người thân, hoặc là thiện tri thức, sau đó lại viết ra bạn đã học được gì từ năm người họ. Hãy viết ra tường tận. Đây là bước thứ nhất. Viết ra là để làm gì? Là để nhìn thấy. Ngay cả nhìn cũng không thấy thì làm sao noi theo. Việc đầu tiên là ghi ra, tiếp theo viết ra là gì? Ưu điểm của họ ta đã học theo được điều gì rồi? Tiếp đến, cụ thể ta học theo như thế nào? Có lúc biết được ưu điểm của Khổng Tử, ưu điểm của Tăng Tử, vừa nghe xong rất cảm động, đi ra khỏi cửa thì đã xa tận chín tầng mây, không có liên can gì đến ta. Nhất định phải tỉ mỉ mà viết hết ra, mỗi ngày đều xem. Ấn tượng sâu rồi thì mới có thể áp dụng. Thái độ này chúng ta kể từ hôm nay bắt đầu. Khi chung sống với người thân, bạn bè đều có thể nhìn thấy được chỗ tốt của người ta, tiến đến là học theo cái tốt của họ.

Tiếp theo là nói đến ví dụ thực tế.

“Dĩnh Xuyên Quách Bá Ích, háo thượng thông đạt, mẫn nhi hữu tri, kỳ vi nhân hoằng khoáng bất túc, khinh quý hữu dư”. “Dĩnh Xuyên Quách Bá Ích” này, các vị xem người xưa, phía trước tên của mỗi một người đều là nơi sinh của người đó, là nguyên quán của họ, đại biểu cho việc con người thì phải có thành tựu, để cho quê hương của mình đều cảm thấy vinh quang. Vừa rồi là rất nhiều người kiến công lập quốc trong lịch sử, sau cùng đều là lấy tên quê hương của người đó để xưng gọi.

“Háo thượng thông đạt, mẫn nhi hữu tri”. Con người này vô cùng dụng tâm trong việc cầu học vấn, đối với đạo lý thì cũng có thể thông đạt, vả lại cũng rất nhạy bén, rất có ngộ tánh. Nhưng “kỳ vi nhân”, họ xử sự độ lượng không đủ. “Hoằng khoán”, là chỉ sự rộng lượng của người, xem nhẹ.

“Khinh quý hữu dư”. “Dư” chính là nhiều, “khinh quý hữu dư”, v.v… Nghĩa là tâm yêu ghét có hơi mạnh một chút, ưa thích thì sẽ rất tốt, chán ghét thì nhìn không thấy họ tốt chỗ nào. Đây là đại kỵ trong việc xử sự. Nói thẳng ra, hễ ưa thích thì sẽ tốt không thể tả, nhìn không thấy vấn đề của người ta; còn mà ghét thì sẽ loại bỏ thẳng tay, không học được chỗ tốt của người ta, thậm chí còn đối lập với người ta. Việc này về sau sẽ tạo thành sự xung đột.

Tiếp theo lại nói đến “đắc kỳ nhân”. Cũng như là có duyên phận với người ta rất tốt, rất nhiều thứ để nói.

“Trọng chi như sơn”, vô cùng coi trọng họ.

“Bất đắc kỳ nhân”, nhìn thấy người này không phải là hợp ý cho lắm.

“Hốt chi như thảo”, coi nhẹ người ta như cỏ rác.

Mọi người hãy suy nghĩ thử xem, nếu như ngày nay chúng ta chung sống với người ta, người nào đó nhìn thấy không vừa mắt thì xem họ như là cỏ lá vậy. Bạn nói việc đó không chiêu cảm đến sự bất mãn đối lập của người ta thì rất khó. Cho nên, trong văn hóa Trung Hoa nhấn mạnh “chủ kính tồn thành”, luôn luôn giữ gìn tâm cung kính đối với người, sự và vật. Không thể thành kính mà còn ngạo mạn, thì cái tâm này đã bị bệnh rồi, bị bệnh nặng lắm rồi.

“Ngô dĩ sở tri, thân chi nặc chi, bất nguyện nhi tử vi chi”. Ông có thể nhìn thấy được ưu điểm Quách Bá Ích, chung sống với người ta cũng rất thân thiết, giao thiệp rất tốt, nhưng không muốn học theo thái độ cả cuộc đời của Bá Ích.

“Bắc hải Từ Vĩ Trường”, Bắc hải Từ Vĩ Trường tiên sinh. “Bất trị danh cao, bất cầu cẩu đắc”, người như vậy là đã xem nhạt danh lợi, không tham cầu. Kỳ thực, chỉ cần cầu danh lợi thì việc học vấn sẽ không thể tiến lên được, đã bị dục vọng chướng ngại mất. Cho nên Khổng Tử nói: Sĩ chí ư đạo, nhi sỉ ác y ác thực giả, vị túc dữ nghĩa dã”. Một người nói phát nguyện muốn cầu đại đạo Thánh Hiền, thế nhưng mỗi ngày lại đi lựa chọn thức ăn, mỗi ngày đều lựa chọn quần áo để mặc, vậy thì không phải là tinh thần của họ đang hao tổn vào những việc tham cầu này rồi sao? Họ làm sao mà lập đạo? Bạn xem, mỗi ngày khi ra ngoài chỉ việc chọn quần áo để mặc mà cũng chọn nửa giờ chưa chọn xong, lựa chọn đến sau cùng lại còn phát cáu nữa, vậy thì tu đạo ở chỗ nào đây? Tham sân si mỗi ngày đều khởi lên.

“Đạm nhiên tự thủ, duy đạo thị vụ”, phải dửng dưng đối với những sự tham cầu vật chất. Chữ “tự thủ” này có nghĩa là luôn có thái độ tự chế định mình cho phù hợp lễ giáo, luôn quán chiếu chính mình có tương ưng với đạo của Thánh Hiền hay không. Chữ “vụ” này chính là vô cùng chăm chỉ, thật thà học tập.

“Kỳ hữu sở thị phi tắc thác cổ nhân dĩ kiến kỳ ý, đương thời vô sở bao biếm ngô kính chi trọng chi, nguyện nhi tử sư chi”. Từ Vỹ Trường tiên sinh trong khi đối diện bàn luận với bằng hữu, có thể là do bằng hữu đã nêu ra, hỏi việc gì đó thế nào là “thị”, thế nào là “phi”. Ông rất phúc hậu, nhu hòa. Ông không trực tiếp nói những người khi đó, thậm chí là những người thân bạn bè bên cạnh không trực tiếp nói những việc thị phi thiện ác của những người này. Bởi vì nói xong có lúc truyền ra ngoài có thể lại tạo ra sự ngăn cách, đó là giả như người ta không thể tiếp nhận. Nhưng lại mong muốn đem cái lý, cái thị phi này nói ra cho rõ ràng, cho nên ông mới “thác cổ nhân dĩ kiến kỳ ý”, nghĩa là lấy ví dụ về sự giáo huấn của người xưa, đem những đạo lý thị phi này hiển bày ra rõ ràng. “Đương thời vô sở bao biếm”, nghĩa là không có sự khen chê trực tiếp đối với những người khi đó. Vì vậy, việc xử sự này xem như rất viên dung.

“Ngô kính chi trọng chi”, ta đối với họ vô cùng tôn kính tôn trọng, mong muốn con cái lấy người đó làm thầy để mà noi theo, học tập.

“Lạc an nhiệm chiêu tiên”, một người đọc sách khác vào thời đó.

“Thuần túy lý đạo”, con người này rất chân thật, rất thiết thực đi thực tiễn đạo đức, con người cũng rất đơn thuần. Nội mẫn ngoại thứ”, nội tâm rất mẫn tiệp, nhạy bén, khoan dung đối với người. Việc này cũng là giáo huấn Thánh Hiền mà chúng ta thường hay nhắc đến, “nghiêm khắc với chính mình, khoan dung đối với người”. Vả lại, việc xử sự thì “xử bất tị ô, khiếp nhi nghĩa dũng, ngô hữu chi thiện chi, nguyện nhi tử tuân chi”. Chung sống với người, gặp phải sự tình gì, chữ “ô” ở đây là chỉ chỗ đất trũng, rơi vào trong vũng lầy. Ví dụ như xử sự đương đầu với khó khăn, cũng có thể nói việc hạ xuống để xử sự tương đối thiệt thòi, đừng sợ khó.

“Khiếp nhi nghĩa dũng”, rất nói đạo nghĩa, cũng rất dũng cảm, nhưng mà không phải nói cái dũng của kẻ thất phu. Chữ “khiếp” này có nghĩa là rất cẩn trọng, biết thận trọng suy nghĩ chứ không lỗ mãng. Chúng ta lúc trước có nói qua “dũng nhi năng khiếp”, rất dũng mãnh. Rất dũng mãnh nhưng cũng biết phải cẩn thận kỹ càng, ta cùng với họ rất là thân thiết, cũng học tập họ, noi gương họ, mong muốn con cái có thể tôn trọng, học tập theo họ.

“Nhược dẫn nhi thân chi”, đem những ví dụ này mà có thể dụng tâm thể hội. Suy rộng ra, “xúc loại nhi trưởng chi”, lấy một suy ra ba.

“Nhữ kỳ thứ cơ cử nhất ngung nhĩ”, ý nghĩa là học một biết mười, tiếp đến là nói sự tình một cách cụ thể, học tập đức hạnh của những người này.

Trong việc xử sự thì “cập kỳ dụng tài, tiên cử tộc”, chỉ cần là dùng đến tài vật thì nhất định phải nghĩ đến những người thân bên cạnh trước tiên, đến những người có cùng chung huyết thống.

“Kỳ thí xả vụ chu cấp”, chỉ cần nhìn thấy những người thân bạn bè gặp khốn khó nguy cấp thì nhất định phải mau đi giúp đỡ họ.

“Kỳ xuất nhập tồn cố lão”, đi khỏi nhà hay quê hương phải thường xuyên nhớ đến người lớn, phải quan tâm người lớn, mua những thứ người lớn thích ăn, ghi nhớ không quên ơn đức của họ đối với cuộc đời chúng ta.

“Kỳ nghị luận quý vô biếm”, khi đàm luận với người ta, không nên hạ thấp người khác hay hủy báng người khác.

“Kỳ tiến sĩ thượng trung tiết”, tiến sĩ nghĩa là làm quan, phải thượng tôn lòng trung, trung với quốc gia, và phải có tiết nghĩa.

“Kỳ thủ nhân vụ đạo thực”. “Thủ nhân” ở đây chính là khi kết giao với người phải tìm đến sự “đạo thực”, nghĩa là tìm đến người bạn thật sự, không tìm những người bạn phù phiếm, không nên tìm những người bạn có tâm yêu ghét quá nặng.

Chúng ta cũng đã nói: “Chọn bạn như chọn thầy”. Việc chọn bạn bè cũng phải cẩn thận giống như chọn thầy vậy, nếu không chính ta bị ảnh hưởng rồi cũng đọa lạc theo.

“Kỳ xử thế, giới ngạo dâm”. Xử thế đối người không được kiêu ngạo, sau đó lại trầm mê dâm loạn.

“Kỳ bần tiện thận vô thích”. Khi mình bần tiện, không nên tỏ ra giống như rất thê lương, rất bi thương. Nghèo mà có khí tiết.

“Kỳ tiến thoái niệm hợp nghi”, nghĩa là ứng đối tiến thoái phải thích hợp, thỏa đáng, phải hợp nhân tình sự lý.

“Kỳ hành sự gia cửu tư”. Đây là khi làm việc, khi ứng đối với người phải có thể dùng “cửu tư”. Chữ “cửu tư” này có nghĩa là suy nghĩ nhiều, thường xuyên quán chiếu chính mình. Có hàm một ý nghĩa khác nữa chính là Khổng Tử đã nói ở trong “Luận Ngữ”:

“Quân tử hữu cửu tư: thị tư minh, thính tư thông, sắc tư ôn, mạo tư cung, ngôn tư trung, sự tư kính, nghi tư vấn, phẫn tư nan, kiến đắc tư nghĩa”. Việc này thì khóa trình lúc trước chúng ta đã nói qua rồi.

“Như thử nhi dĩ, ngô phục hà ưu tai”. Giả như các vị đều đã làm được, thì tôi có thể kê cao gối mà ngủ rồi. Con hiền cháu thảo rồi, mỗi ngày ngồi ở trên ghế mà đung đưa một cách an ổn, không có ưu lo gì cả.

Được rồi, bài giảng hôm nay tạm thời giao lưu với mọi người đến đây thôi. Tiết học tiếp theo, chúng ta sẽ cùng nhau học câu thứ năm. Xin cảm ơn mọi người!

A Di Đà Phật!

Chia sẻ học tập “Quần Thư Trị Yếu 360” (tập 13 và 14)

Giảng ngày 28 tháng 05 năm 2011 tại Trung tâm Giáo dục Văn hóa Trung Hoa Malaysia.

Người giảng: Thầy giáo Thái Lễ Húc

Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ, Mộ Tịnh Cư Sĩ, Phước Tịnh Cư Sĩ

 

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 53


Hôm nayHôm nay : 4091

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 189198

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 10847241

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?