Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Quần thư trị yếu 360

Quần Thư Trị Yếu 360 - Thầy Thái Lễ Húc giảng (Tập 11 - 12)

Thứ bảy - 20/05/2017 12:16

TU THÂN - TỀ GIA - TRỊ QUỐC - BÌNH THIÊN HẠ

Kính thưa các vị trưởng bối, các vị học trưởng! Xin chào mọi người!

Chúng ta tiếp tục xem câu thứ tư trong Ngụy Chí (Ngụy của Tam Quốc). Trong Ngụy Chí có nói đến: “Phu vật tốc thành tắc tật vong, vãn tựu tắc thiện chung, triêu hoa chi thảo, tịch nhi linh lạc, tùng bách chi mậu, long hàn bất suy thị dĩ đại nhã quân tử ác tốc thành”.

Chúng ta xem trên văn tự, rất nhiều sự vật nhanh chóng trưởng thành thì sẽ nhanh chóng diệt vong. Thành tựu chậm, thành tựu sẽ được chắc chắn, như vậy mới có kết quả tốt. “Vãn tựu tắc thiện chung”. Chúng ta xem hai chữ “tốc thành” này thì liền nghĩ đến lời của Khổng Tử: “Dục tốc bất đạt”. Mạnh Tử cũng nói: “Nóng vội hỏng việc”, muốn thành công gấp nhưng lại hoàn toàn trái ngược. Muốn nhanh chóng nhìn thấy kết quả tốt thì rất dễ, chính là công phu ở bề ngoài, làm để cho mọi người xem. Thí dụ như cây đại thụ trong thiên nhiên có thể trở thành cây đại thụ cao chọc trời thì điều quan trọng nhất là rễ của nó có cắm chắc hay không. Mà rễ thì chúng ta không nhìn thấy được, bởi vì “mười năm trồng cây, trăm năm trồng người”.

Giáo dục nếu như muốn nhanh chóng nhìn thấy kết quả, có thể hoàn toàn trái ngược lại. Bởi vì hiện nay chỉ lo cái lợi trước mắt, thật ra trong ngành giáo dục hoặc là trong các ngành nghề khác cũng tốt, ngược lại sự phát triển của mỗi ngành nghề hiện tại thì đầy rẫy những tình huống. Cho nên, tuổi thọ của các xí nghiệp càng ngày càng ngắn lại, đều là do vi phạm vấn đề này: “Tốc thành tức tật vong”, đều là làm ở bề ngoài. Giống như xây nhà vậy, trụ cột không vững chắc, bề ngoài thì tô vẽ rất đẹp, một cơn gió thổi qua liền bị đổ sập. Các vị xem, vạn pháp do tâm sanh, tất cả đồ vật thật ra đều là do tâm của con người sáng tạo ra. Việc tạo ra hình dạng của đồ vật, việc tạo ra đồ vật thực tại có liên quan với người tạo ra hay không? Các vị xem, một cây cầu thời cổ đại có thể dùng tám trăm năm, có thể dùng một ngàn năm, đường xá hiện nay của chúng ta thì như thế nào? Tình trạng hư hỏng rất nghiêm trọng. Các vị xem, chỉ là làm ngoài bề mặt, làm vội vàng cho xong. Cây cầu vô cùng vững chắc mà chúng ta nói đến có lợi ích nhiều thế hệ. Dựa vào lương tâm hay làm vì cái lợi trước mắt thì hiệu quả hoàn toàn không như nhau. Từ đạo đức học vấn của bản thân chúng ta mà nói, muốn nhanh chóng hoàn thành thật ra chỉ là học ở bên ngoài, thậm chí học như vậy để mọi người nhìn thấy là học cũng khá, trên thực tế hết thảy mọi động lực để nỗ lực chính là mong muốn người khác nói mình cũng khá lắm, cơ bản vẫn là cái tâm hư vinh, vẫn là cái tâm mưu cầu.

Lão Tử nói: “Vi đạo nhật tổn”. Đạo nghiệp chân chánh phải được đề cao, chẳng phải là tăng thêm thật nhiều mà là không ngừng buông bỏ những tập khí của nội tâm. Buông bỏ đến khi nào không còn tập khí thì đạo đức tốt đẹp, tánh thiện vốn có hiển lộ ra. Cho nên chân thật cầu học vấn là công phu buông bỏ, buông bỏ tập khí. Đã buông bỏ tập khí rồi thì tâm chân thành của con người mới lộ ra bên ngoài. Có tâm danh lợi thì sự chân thành chẳng thể lưu lộ ra bên ngoài. Thành ý thì tâm mới có thể ngay thẳng, mới có thể tu thân.

Tăng Văn Chánh Công thời nhà Thanh có nói: “Nhất niệm bất sanh thị vị thành”. Một niệm tham cũng chẳng khởi, một tập khí cũng chẳng khởi, không khởi tâm ngạo mạn, không khởi ý niệm ưu tư, đều có thể điều phục được tham sân si mạn, lúc này mới có được chân tâm, thành tâm mới có thể hiện tiền. Nông nổi hoặc có tâm danh lợi, tâm công danh lợi lộc, tâm thích phô bày, sẽ có tổn hại đối với đạo nghiệp. Trong cách ngôn có nói: “Vi học đệ nhất công phu”. Học vấn đạo đức của mỗi người phải được nâng cao, trước tiên phải hàng phục được cái tâm bao chao của chính mình. Hai từ bao chao này từ đâu mà có? Từ sự nóng vội, từ trong việc cầu nhanh chóng mà có. Cho nên trí huệ là từ trong định mà thành tựu, nhân định khai trí tuệ. Chữ “định” này là đến từ việc công phu trì giới, đến từ việc thật sự công phu để đối trị những tập khí, dục vọng. Dục vọng của con người rất nhiều. Tâm không tịnh thì ý niệm sẽ tràn lan. Đương nhiên ý niệm thì chỉ có bản thân mình nhìn thấy. Cho nên, muốn cầu học vấn, trước tiên bản thân chúng ta không thể tự lừa dối mình, “quán tâm vi yếu”, nên biết rõ ý niệm của bản thân  mình có tương ưng với Kinh điển hay không, hễ không tương ưng thì “không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm”.

Hiện nay chúng ta tu học có một chỗ cần phải đột phá, chẳng phải là muốn tự lừa dối mình, mà là tập khí sai khiến, hoàn toàn chẳng biết được tập khí của mình tác dụng ở đâu, ngạo mạn đã nổi lên, thậm chí lời nói đối với trưởng bối làm cho người ta rất khó chịu. Lúc đang nói thì bản thân rất đắc ý, không nhận ra được. Từ những hiện tượng này chúng ta nhìn thấy, trong gia đình, đặc biệt là công đức của người mẹ rất to lớn. Người tu hành hiện nay gặp phải đủ thứ vấn đề là do từ lúc nhỏ nền tảng không được xây dựng vững chắc. Gia giáo tốt thì khi gặp trưởng bối làm sao thể có những lời nói không cung kính chứ. Người thành niên chúng ta hiện nay cũng có thiện tâm muốn truyền bá văn hóa, nhưng nhất định phải bắt đầu từ nơi chúng ta, bắt đầu từ việc đối trị tập khí. Tập khí không trừ, chỉ nghĩ đến việc chúng ta học những câu Kinh này để đi giảng cho người khác nghe là đã truyền bá văn hóa, nhận thức như vậy thì chẳng được ổn thỏa. “Người có thể hoằng đạo” chính là những lời giáo huấn này bản thân chúng ta phải làm được, dùng đức hạnh cảm hóa người khác. Giả như những người thân, đồng nghiệp bên cạnh chúng ta, những người gần chúng ta nhất mà không thân thiết với chúng ta, không thể cảm hóa được họ mà chúng ta lại đi giảng dạy, người ta sẽ nói “hay đấy, nói rất hay”, chúng ta sẽ rất phấn khởi. Điều này vô hình trung đã rơi vào cạm bẫy rồi, ngất ngây trong tiếng vỗ tay. Thậm chí những người ở bên cạnh chúng ta đề xuất ý kiến, chúng ta cho rằng họ cố tình soi mói: “Anh xem, nhiều người đều tán thán tôi như vậy, nói tôi là người tốt, nói tôi rất có tâm”. “Sắc bất mê nhân, nhân tự mê”. Cái danh cũng chẳng làm con người say mà con người cũng tự say. Vì vậy, không có sự cảnh giác cao thì buông bỏ tập khí thật sự chẳng phải dễ, thật sự rất khó. Mạnh Tử nói: “Học vấn chi đạo vô tha, cầu kì phóng tâm nhi dĩ hĩ”. Tâm của chúng ta đã bị tham, sân, si, mạn chướng ngại mất rồi. Phải nhìn cho thấu đáo.

Tiến thêm bước nữa là “không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm”, chuyển nó trở lại, phải phá bỏ tình trạng không hay không biết này. Trước tiên bản thân mình phải tịnh lại để đọc Kinh, quán chiếu bản thân, thường xuyên chủ động lắng nghe người khác đóng góp ý kiến, chỉ ra chỗ sai cho chúng ta. Chúng ta phải tạo thành thái độ này. Giả như người bên ngoài rất tán thán chúng ta, nhưng người thân ở bên cạnh phê bình thì chúng ta cũng vui vẻ. Thậm chí vui vẻ đi ra với những người bạn nhưng không vui vẻ trở về nhà, những người này không phân biệt được tốt xấu, như vậy càng học thì tâm thái càng bị thiên lệch. Những người ở xung quanh chúng ta nhìn thấy rõ ràng nhất.

“Cận xứ bất năng cảm động”, những người ở gần nhất đều không thể cảm hóa. “Vị hữu năng cập viễn giả”, những người ở gần nhất khảo nghiệm chúng ta có chân thành hay không. Thành có thể cảm thông. Ngay cả người ở bên cạnh mà cũng không hiểu rõ, thì sự thành tâm này vẫn còn kém lắm.

Chúng ta hãy suy nghĩ, không nên tự lừa dối mình. Hơn nữa, đối với bản thân ta mà nói, chúng ta hãy bình tĩnh một chút. Nhà Phật có một câu nói: “Vạn pháp nhân duyên sanh”. Hiện nay gia đình chúng ta cũng tốt, sự ngiệp cũng tốt, đều là nhân duyên đã thành tựu. Những nhân duyên này thực ra chính là một số điều kiện khách quan. Trong việc trồng trọt thì phải cần gieo hạt giống, cần phải có nước tưới, cần phải bón phân, đủ thứ điều kiện thì mới thu hoạch được.

Hơn bảy năm trước, tôi ở Hải Khẩu để chia sẻ “Đệ Tử Quy” với mọi người. Việc này cũng là nhân duyên. Đúng vào đó, cả đại lục có chính sách xem trọng việc phục hưng văn hóa truyền thống. Giả như chẳng phải cả một cấp cao khởi xướng như vậy, chúng tôi đi giảng thì người ta sẽ không cho chúng tôi giảng. Cho nên những việc này đều là do nhân duyên. Hơn nữa, lòng người lương thiện, còn có rất nhiều người giúp đỡ tôi, thật ra đều là học trò của sư trưởng. Các vị xem, nhiều nhân duyên như vậy thúc đẩy để cho tôi có một cơ hội  giao lưu cùng với đại chúng. Khách quan mà nói, những đạo lý mà tôi đã giảng, đại đa số là bản thân tôi vẫn làm chưa được tốt. Nhân duyên như thế này, bởi vì chẳng có ai giảng, đúng lúc tôi đi giảng, mọi người rất tán thán. Các vị xem, tôi dần dần không biết bản thân mình là ai nữa, không biết tình hình khách quan của bản thân mình. Thậm chí có người còn xem tôi như một vị thần, nói là thầy Thái điều gì cũng biết. Thật ra thì tôi cái gì cũng chẳng biết. Là thật, người ta xem tôi như một vị thần! Giả như bạn chẳng biết rõ tập khí của chính mình quá nhiều, bất ngờ người đầu tiên xem bạn là một vị thần, bạn lo sợ đến chết khiếp; nhưng đến người thứ mười xem bạn như một vị thần, bạn cảm thấy hình như là giống một chút. Danh so với lợi thì càng khó buông bỏ tập khí hơn, bởi vì nó vô hình, hễ bạn không cẩn thận thì nó liền đi theo bạn. Lợi có hình tướng, vì đồng tiền, của cải nhìn thấy được; còn danh thì vô hình. Chẳng bằng lúc nào cũng “chẳng cầu có công, chỉ mong không có lỗi”, đặt câu này ở  trong tâm không được rời, dù chỉ trong chốc lát.

Danh vọng thật sự rất khó buông bỏ. Có một người vừa nói với một vị trưởng bối của anh ấy: “Con hiện giờ phải đi làm quan, con đã chuẩn bị xong 100 lời tâng bốc”. Vị trưởng bối này vừa nghe xong: “Con là người có học thì phải có chí khí, phải có chánh khí, chánh nghĩa, làm sao mà có thể tâng bốc nịnh bợ. Phải chuyên tâm nhân nghĩa, phải giữ vững cương vị, không nên đi nịnh bợ tâng bốc ai cả”. Người này vừa nghe xong: Thưa trưởng bối! Thời đại này, người giống như ngài thật sự là còn quá ít ạ”. Vị trưởng bối này nói: “Nói nghe cũng phải”. Người này đi ra ngoài nói: “100 lời tâng bốc, lời thứ nhất đã sử dụng rồi”. Mỗi người chúng ta giảng cho những người đang học, nói thật ra, bởi vì đều là lời trong Kinh điển, người ta nghe rồi đương nhiên sẽ có sự đồng tình, đó chẳng phải là trình độ chân thật của bản thân. Thậm chí là càng nói trong tâm càng hổ thẹn, càng thiếu tự tin.

Trong Luận Ngữ có mấy câu đặc biệt nhắc nhở: “Quân tử phải biết hổ thẹn vì lời nói quá so với việc làm”. Người xưa ít ngôn luận, vì sợ không thực hành được điều đã nói mà xấu hổ, không dám nói những lời mà bản thân mình làm không được. Nói càng nhiều bản thân mình làm không được, lo âu thấp thỏm, cảnh giác không yên. Lo sợ mình nói rồi sau này làm không được, ngược lại còn sỉ nhục văn hóa truyền thống. Điều này chẳng phải là chính mình, chẳng phải là bản thân mình làm những chuyện được dự tính ban đầu. Vì vậy, khi có cơ hội chia sẻ cho đại chúng, chia sẻ xong rồi thì phải nhanh chóng dụng công, nhanh chóng như con vịt bơi trong nước mới được. Vì sao vậy? Điều phục những tập khí chẳng phải là việc của một ngày. Cho nên càng thất bại thì càng phải phấn đấu, kiên cường bất khuất. Đối trị chỉ một tính khí xấu cũng không phải dễ, hơn nữa việc này phải cần thời gian huân tập lâu dài, thời gian quán chiếu lâu dài, thậm chí là phải dùng phương pháp, dùng cách thức cụ thể trong cuộc sống để điều chỉnh tập khí mới được. Vì vậy, điều phục tập khí, đế vương, tướng lĩnh chưa chắc làm được, không phải là chuyện dễ, cho nên không thể lơ là, mất cảnh giác. Cảm giác như là đọc mấy quyển Kinh, giảng vài bài học, học vấn thì không thành vấn đề. Phu vật tốc thành tắc tật vong”, quy luật thông thường, càng nhanh nổi tiếng thì càng nhanh sụp đổ. Bởi vì khi chống không lại với danh lợi thì sẽ chịu không nổi.

Các vị xem, rất nhiều quốc gia đều có học sinh học nhảy lớp. Học sinh học nhảy lớp có tốt hay không? Mười ba tuổi học đại học, mười một tuổi học đại học, rất lợi hại. Trái ngược với câu nói trên. Có ai đi điều tra những học sinh học nhảy lớp sau này thì như thế nào không? Xin hỏi mọi người, có thấy người nào trên thế giới này thành công là học sinh học nhảy lớp không? Lạ thật, đều chẳng có tiếp tục điều tra như thế nào. Đi sâu mới phát hiện, những học sinh học nhảy lớp này đối xử chẳng tốt mối quan hệ giữa người với người, bởi vì họ chẳng được học. Mối quan hệ giữa người với người chẳng phải là dựa vào việc ghi chép một quyển sách nào thì mối quan hệ giữa người với người của họ liền ổn. Điều này là một sự cảm nhận, một dạng thể nghiệm mà họ phải từ việc đối nhân xử thế mà lần mò, mà mở mang. Không có cách nào ăn một món gì đó thì họ sẽ biết. Hơn nữa, chúng ta chẳng chú ý đến việc trưởng thành tâm hồn của chúng. Giả như chúng luôn học nhảy lớp, luôn luôn ở trong sự tán thán, thật ra cái tâm được mất của chúng vô cùng nặng nề, chúng chuyển tải không nổi, trong chốc lát thì sự trắc trở sẽ đến, có thể chúng có muốn cũng chẳng rời bỏ được ý niệm đó. Cho nên tất cả phải tuân theo quy luật tự nhiên: “Trăng đến rằm sẽ tròn”.

Cầu học vấn thì trước tiên phải điều phục cái tâm nôn nóng thành công này, phải lập tức ổn định trở lại, ổn định mỗi ý niệm mà hạ thủ công phu. Cho nên, “dây cưa gỗ đứt, nước chảy đá mòn, nước chảy thành sông, dưa chín cuống rụng”. Dưa hái ép thì sẽ không ngọt, đúng không? Trái đào bị hái ép sẽ rất chua. Câu này là tôi tự thêm. Bởi vì Khổng Lão Phu Tử nói suy một mà ra ba, đây là cùng một ý nghĩa. Không thể trái ngược với tự nhiên. Nói thật ra, bồi dưỡng nhân tài phải bắt đầu từ nền tảng căn bản. Đợi đến khi thực lực của chúng tích lũy được rồi, chúng làm người quản lý thì mới có thể đồng tình với tâm nguyện của người cấp dưới, chúng mới có thể chỉ bảo những người cấp dưới, chúng tuyệt đối không phải lý luận suông.

Hiện nay, rất nhiều người thạc sĩ quản lý xí nghiệp, tiến sĩ quản lý xí nghiệp, đúng không? Tốt! Trong ý nghĩ của họ, họ đến đó sẽ làm gì? Họ phải làm người quản lý, sau đó là áp dụng lý thuyết một cách máy móc. Họ có thể cảm nhận được lòng người hay không? “Thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hòa”. Gây được sự cảm động là chính bản thân mình phải thể nghiệm qua một số công việc. “Chẳng trải qua làm việc thì không biết được cái khó”.

Có một vị lãnh đạo lập nên sự nghiệp, đặc biệt rất trọng tình cảm, toàn cả xí nghiệp giống như người một nhà vậy. Khi truyền đến đời cháu của ông, ông nội tốt nghiệp tiểu học, quá trình học rất kém, lập nên sự nghiệp; còn cháu của ông là quản lý thì học tiến sĩ, từ Mỹ trở về. Kết quả là vừa trở về thì nói với toàn thể nhân công: “Tôi không phải đến đây để làm bạn với các vị. Công ty thì có chế độ của công ty, các vị nên cố găng tuân thủ”. Anh ấy là tiến sĩ. Xin hỏi mọi người, lòng người như vậy khác nhau có lớn hay không? Nói thẳng ra, anh ấy nói những lời này, công ty vẫn có thể tiếp tục hoạt động là nhờ năng lực, phước báu của ai? Là của ông nội của anh ấy, những người hiện nay là nể mặt ông nội của anh ấy. Nếu như chẳng có ông nội của anh ấy gian nan lập xí nghiệp, xây dựng nền tảng này, tôi nghĩ, anh ấy nói xong hôm sau không biết bao nhiêu người sẽ bỏ đi. Cho nên toàn bộ việc bồi dưỡng nhân tài, bao gồm việc nâng cao học vấn, đều là do tích lũy, đều không thể gấp gáp thành tựu được. Vì vậy, vừa đúng đoạn văn này: “Dây cưa gỗ đứt, nước chảy thành sông, dưa chín cuốn rụng”, “căng táo hồ nghi, dục tốc chuyển trì”. “Căng” nghĩa là ngạo mạn, nghĩ rằng khả năng của mình ưu việt hơn ông nội, ưu việt hơn người xưa. “Táo” nghĩa là nôn nóng thành tựu. “Hồ nghi” là hoài nghi đối với Kinh điển này, không tin tưởng. Thật sự là đúng như vậy không? Tương đối dễ dàng xuôi theo cách nghĩ của mình, ngã chấp, ngã kiến mà làm. “Căng táo hồ nghi”. “Dục tốc”, muốn phải nhanh chóng đạt được kết quả. “Chuyển trì”, hoàn toàn ngược lại với dự kiến ban đầu.

Mọi người nhìn xem, trong quá trình cầu học vấn, chúng ta rất dễ nôn nóng, dễ dàng hoài nghi giáo huấn của Kinh điển, sau đó rất dễ ngạo mạn. Các vị xem, Khổng Lão Phu Tử là bậc Tiên sư Thánh Hiền, thái độ học tập của các Ngài là “thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ”. Chữ “tín” này là không hoài nghi; “hiếu cổ”, “thuật nhi bất tác” là không ngạo mạn. Đương nhiên chữ “tín”, chữ “hiếu” này thể hiện trong việc y giáo phụng hành, biểu hiện trong tư tưởng của mình, tùy thuận theo lời giáo huấn của cổ Thánh tiên Hiền, không phải tự vỗ ngực nói “tôi đã tin, tôi hiếu học”. Tư tưởng quan niệm, nhất cử nhất động của chúng ta có y theo Kinh điển để thực hiện hay không mới là thật sự tin, thật sự hiếu học. Điều này là trọng thực chất chứ không phải trọng hình thức, chẳng phải nói trên miệng mà thôi.

Về học vấn, trong thành ngữ cũng có nhắc chúng ta: “Hậu tích bạc phát”. Nói thật ra, tôi đã gặp được cơ hội này rồi. Ở Hải Khẩu giao lưu với đại chúng, nếu không có phước báo, không có Kinh điển của tổ tiên, không có oai đức của sư phụ thì ai thèm nghe tôi giảng chứ. Cho nên điều này bản thân mình phải thông suốt tình trạng của mình. Hiện giờ tổ tiên cũng rất gia hộ cho tôi, biết tôi đã rơi vào hoàn cảnh khó khăn, sắp dùng hết rồi, định lực cũng không đủ. Cho nên sư trưởng từ ái, biết được những người trẻ tuổi chúng tôi cũng chẳng có thứ gì, nên xây cho chúng tôi học viện Hán học, kêu chúng tôi bế quan, đừng đi ra ngoài mà mất thể diện, cố gắng tích lũy. Học vấn mà không tích lũy thì chẳng cách nào nhập tâm thâm nhập, Kinh điển chẳng có cách nào trở thành việc xử sự đối người tiếp vật trong cuộc sống của mình, trở thành tâm tánh của mình. Điều này khó, chẳng phải trong thời gian ngắn mà đạt được. Thật sự chúng tôi đều cảm thấy tổ tiên luôn âm thầm gia hộ chúng tôi. Chúng tôi phải nghe lời, không nên chạy lung tung ra bên ngoài. Đi ra bên ngoài tám gió thổi liền động, bị lung lay, ngay cả cái gốc cũng bị nhổ bật lên, như vậy sẽ tạo tội rất lớn, làm xấu đi hình tượng văn hóa truyền thống. “Chẳng cầu có công, chỉ mong không có lỗi”. Con người khi gặp được tri kỷ sẽ nói những lời chân thật. Mọi người đều là tri kỷ, đối với việc hoằng dương văn hóa thật sự là phải tận tâm tận lực. Nhìn thấy mọi người học văn ngôn văn được hơn một năm, tiết học nào cũng không vắng mặt, thật sự là trong tâm tôi rất khâm phục sứ mệnh, sự đảm đương của mọi người. Mọi người rất hiếu học.

 “Triêu hoa chi thảo”, cây cỏ phát triển rất mạnh vào buổi sáng, tràn đầy sức sống. Chữ “tịch” này nghĩa là buổi chạng vạng. Buổi chạng vạng chính là sự tàn tạ. Nhưng mà “tùng bách” thì xanh tốt, cho dù mùa đông lạnh giá cũng không bị suy giảm. “Tùng bách hậu điêu ư tuế hàn”. Tùng bách đều có thể lớn thành cây cổ thụ mấy ngàn năm, nên gốc rễ bám rất chặt, nhưng mà chúng lớn rất chậm. Các vị xem, cây cỏ thực vật lớn đặc biệt nhanh, hai - ba ngày thì chúng lớn như vậy, nhưng cũng nhanh chóng chết đi. Những quy luật của tự nhiên đã gợi ý cho cuộc đời chúng ta rất nhiều.

“Thị dĩ đại nhã quân tử”. “Đại nhã quân tử” nghĩa là những người có tài đức cao, chẳng cầu nhanh chóng đạt kết quả. Dục tốc thì không đạt. Chúng ta cần phải bình tĩnh. Phong khí cả xã hội hiện nay đa số là ham muốn hư danh trước mắt. Trên đường hoằng dương văn hóa của chúng tôi, cái tâm công danh lợi lộc của bản thân chúng tôi thật sự vẫn còn đang điều phục, có khả năng đang thực hành, chúng tôi cũng là dùng tâm công danh lợi lộc để làm. Cho nên, trong một đoàn thể phải nhắc nhở, quan tâm lẫn nhau, dũng cảm nói lời chân thật, mục tiêu tiến độ nhắc nhở toàn cả đoàn thể. Đây là điều cần thiết. Nếu không thì trên hình thức là hoằng dương văn hóa, nhưng thực tế vẫn là truy cầu danh lợi. Việc truy cầu danh lợi này có thể tiêu hao phước báu của tổ tiên, là đang tạo nghiệp chướng. Truy cầu danh lợi đến cuối cùng tập khí của bản thân mình không được điều phục, vừa tiếp xúc với đại chúng liền làm cho đại chúng mất niềm tin: “Làm sao mà người học văn hóa truyền thống làm người, làm việc đều như vậy chứ”. Thế nên, điều quan trọng hiện nay là phải cắm rễ, chúng ta phải áp dụng lời giáo huấn của Kinh điển vào trong đoàn thể, gia đình của mình. Có như vậy mới thật sự là “nhân năng hoằng đạo”. Làm để cho mọi người có niềm tin như vậy mới được lâu dài. Chỉ nói mà không làm, cuối cùng lâu ngày thì thấy được lòng người, mọi người vừa tiếp xúc với chúng ta liền nhận ra được: “Người giảng bài làm sao mà tập khí nặng như vậy, đức hạnh kém như vậy”. Việc này sẽ làm tâm mọi người chấn động, thậm chí bị nản chí. Cho nên, chúng ta gặp phải cái duyên này thì không quên cái tâm lúc ban đầu. Không nên cầu danh, cũng chẳng phải cầu lợi, hy vọng lấy sự chân thành và đức hạnh của chính mình để cho mỗi người tiếp xúc với chúng ta đều có niềm tin vững chắc đối với văn hóa truyền thống. Dùng cái tâm như vậy để kì vọng vào bản thân mình mới được. Danh lợi, huyễn mộng thoáng qua như mây khói, đặc biệt sẽ đầu độc huệ mạng của chúng ta. Thật sự đã nhìn ra rồi thì tránh cũng chẳng kịp.

Câu này nói trên thực tế là có một vị phụ huynh ân cần dạy bảo con của ông. “Quần Thư Trị Yếu” quyển thứ năm, trang 668 có câu nói này. Bài văn này do một phần tử tri thức thời nhà Ngụy, cũng là một vị quan, viết cho con của ông. Ở hàng cuối cùng của trang 666, trên màn bạc của chúng ta cũng có chữ này. Sự giáo huấn của gia đình này thật tuyệt vời, có thể nhận thức được tâm của một vị phụ huynh muốn con mình thành tài. Cái tâm quan tâm đến hạnh phúc và đức hạnh của con.

Chúng ta xem câu đầu tiên.

“Vương sưởng tự văn thư, thái nguyên nhân dã”. Thái Nguyên ở Sơn Tây.

“Thiên Duyễn châu Thích sử”. Thích sử là quan phụ trách một tỉnh, cũng là quan lớn.

“Vi huynh tử cập tử tác danh tự, giai y khiêm thực, dĩ kiến kì ý”. Ông cho con của người anh (là cháu trai của ông), và khi đặt tên cho con của ông đều lấy chữ khiêm nhường, trung thực, trung thành. Những cái tên hàm chứa tên và họ của ông, để đứa con nhận được cái tên này liền hiểu rõ người cha rất kỳ vọng đối với mình, không dám quên. Yêu con từ những chỗ rất tinh tế, đều phải suy nghĩ rất nhiều.

“Cố huynh tử mặc”. Con của anh trai ông tên là Vương Mạc.

“Tự xứ tịnh, thẩm tự xứ đạo”. Hai người con của anh ông, chữ “xứ tịnh”“xứ đạo” đều nhắc nhở ông phải ở trong đạo, tâm phải luôn thanh tịnh. Tịnh thì mới có trí huệ.

“Kỳ tử hỗn tự huyền xung, thâm tự đạo trọng”. Trong “Tam Quốc Chí” thì viết là đạo xung. Tên của ông đặt đều rất có nghĩa lý.

“Toại thư giới chi viết”. Vả lại còn viết thư khuyên can họ.

Thư khuyên can nói đến: “Phu nhân vi tử chi đạo”. Thân phận con người thì phải tuân  theo đạo đức.

“Mạc đại ư bảo thân toàn hành, dĩ hiển phụ mẫu, thử tam giả, nhân tri kỳ thiện, nhi hoặc kỳ nguy thân phá gia, hạm ư diệt vong chi quá giả, hà dã, do sở tổ tập phi kỳ đạo dã”. Người cha rất khẩn thiết đề xuất. “Vi nhân tử chi đạo”. Không bằng việc giữ gìn thân thể của mình. Mọi người nhìn thấy hai chữ “bảo thân” này có nghĩ đến câu Kinh nào hay không? “Thân bị thương, cha mẹ lo”. Câu kế tiếp: “Toàn hành”, “đức tổn thương, cha mẹ tủi”. Tiếp theo một câu nữa: “Dĩ hiển phụ mẫu”, “cha mẹ thích dốc sức làm”. Các vị xem, “Đệ Tử Quy” cũng nhiều lợi ích. Những đạo lý làm người, làm việc đều thông với nhau. Kinh điển chẳng phải nói học nhiều mới có học thức, điều quan trọng là học xong phải hoàn toàn làm được thì đức hạnh mới được nâng cao. “Bảo thân” là giữ gìn thân thể. Thân thể tóc da nhận ở cha mẹ. Mạnh tử cũng nói: “Thờ ai là chuyện lớn?”. Thờ cha mẹ là chuyện lớn. Phụng dưỡng sư trưởng việc nào quan trọng nhất? Phụng dưỡng cha mẹ của mình là quan trọng nhất. “Thủ thục vi đại, thủ thân vi đại”, bảo vệ tốt cái thân này, mở rộng ra đến đức hạnh của chính mình. Đức hạnh bị tổn hại, cả cuộc đời cha mẹ lấy làm tiếc. Một người luôn đặt cha mẹ ở trong tâm thì chắc chắn sẽ bảo vệ thân thể và đức hạnh của chính mình. Học vấn của một người tất nhiên là bắt đầu thực hiện từ việc hiếu thuận. Hiếu chính là căn bản của đạo đức. Chúng ta nhìn thấy chữ “bổn” của câu Kinh này nhất định là không thể (có tâm lý) cầu may, nhất định phải thật sự công phu tại ngay chỗ này. Gốc phải vững thì mới sanh ra đạo. Thật vậy, đối với cha mẹ luôn luôn chân thành, đối với bất kỳ người nào cũng thật sự làm như vậy. Không yêu cha mẹ mình mà đi thương yêu cha mẹ người khác, điều này gọi là trái với đức hạnh.

Bốn chữ “dĩ hiển phụ mẫu” này, chúng ta xem xong rất cảm động. Cổ nhân trong việc hun đúc nền văn hóa, mỗi người đều có tinh thần trách nhiệm đối với gia đình. Việc này chẳng liên quan đến việc nói học vấn của họ có cao hay không. Cho dù họ chẳng biết chữ nào, họ vẫn có tinh thần trách nhiệm đối với gia đình và cha mẹ. Những người có tính cách đặc biệt như vậy, họ đến với xã hội đều có tinh thần trách nhiệm, đều tận trung đối với tập thể. Hiện tại thì phiền phức rồi, từ nhỏ thì chẳng được bồi dưỡng tinh thần trách nhiệm, khi đến đơn vị hoặc đến công ty đều muốn mọi người theo ý của mình, họ làm sao mà tận trung, chẳng phải là họ gây thêm phiền phức sao?

Tôi đã nghe được một sự thật, là cha mẹ đem quà tặng đến công ty để gặp lãnh đạo, gặp người quản lý để nài nỉ người quản lý này: “Xin anh cố gắng chiếu cố con của tôi, những tập khí xấu của con tôi, xin anh rộng lòng khoan dung”. Xem công ty như trường học vậy! Đây là để giữ vững cương vị. Người ta mời mình đến còn trả lương cho mình, mà mình ở đó gây thêm phiền phức cho người ta, điều này chẳng được hợp logic cho lắm. Vì vậy, chúng ta thấy trung thần xuất thân từ nơi người con hiếu, họ ở nhà thì muốn mọi người phục dịch, họ đâu thể nói đến cơ quan thì trở nên độc lập, giữ vững cương vị như vậy chứ. Vậy họ cần uống loại thuốc hiệu gì? Cần phải biết rõ, đâu có loại thuốc như vậy để uống chứ.

Trong “Hiếu Kinh” có rất nhiều lời giáo huấn thông suốt. “Sự thân hiếu, cố trung khả dĩ ư quân, sự huynh đễ, cố thuận khả dĩ ư trưởng, cư gia lý, cố trị khả dĩ ư quan”. Họ ở nhà rất siêng năng, đặc biệt là đại gia đình có rất nhiều vấn đề về nhân sự, họ đều biết cách để phụ trách, để rèn luyện. Họ vừa đến đơn vị, những nhân tình thế sự này họ rất uyển chuyển, rất nhạy bén. Lãnh đạo gặp được những người như vậy, họ tiết kiệm được rất nhiều tinh thần và sức lực, công việc gì giao cho họ cũng chẳng phải lo lắng. Ở nhà được bồi dưỡng cách đối nhân xử thế, “cư gia lí, cố trị khả dĩ ư quan”, khi họ đã làm quan rồi thì ở đoàn thể nào thì họ cũng đều phụ trách tốt công việc của mình.

QUẦN THƯ TRỊ YẾU 360 Tập 12

 Cái tâm có trách nhiệm rất quan trọng, tâm vinh dự rất quan trọng, đây là động lực nỗ lực của một người. Cái tâm có trách nhiệm này rõ ràng nhất chính là tâm hiếu thảo, “dĩ hiển phụ mẫu”. “nhân tri kì thiện”, nói như vậy thì chẳng có ai không đồng ý, đều cảm thấy như vậy là đúng, như vậy là thiện. Nhưng vì sao rất nhiều người biết là phải làm những việc này mà “nguy thân phá gia”, thân thể, đức hạnh của chính mình có vấn đề, sau đó lại để cho gia đình suy sụp lụn bại, gia đạo suy bại, thậm chí là chìm trong tai họa diệt vong? Chúng ta có thời gian hãy quan sát, suy ngẫm, phương hướng cuộc đời của mỗi người là như vậy, sao mà đến cuối cùng đều bị lệch lạc nhiều như vậy, thậm chí còn làm ngược lại? Ở đây chỉ ra một điều quan trọng, vì sao vậy? Chữ “tổ” này chính là từ xưa cho đến nay, khoảng thời gian dài cho đến nay tiếp xúc với việc học tập, “tổ tập phi kì đạo”; tiếp xúc với người, sự, vật, những thứ tiếp thu được là thiên lệch với đạo, nói rộng hơn là bị xã hội tiêm nhiễm, nói gần một chút thì sau khi ra xã hội, chịu ảnh hưởng của bạn bè. Trong Ngũ Luân thì cái luân bạn bè, đặc biệt là khi con người bước vào xã hội chịu sự ảnh hưởng vô cùng lớn. Có câu nói: “Sanh ta ra là cha mẹ, thành tựu cho ta là bạn bè”. “Gần gũi người lành như đi trong sương”. Một người đi trong đám sương buổi sáng sớm, không cảm nhận được hơi sương, hình như quần áo của chúng ta đều bị thấm ướt. Tuy không bị thấm nhanh, “tuy không ướt áo, nhưng sẽ thấm dần dần”, không thể nhận thấy đang tiếp nhận lượng nước này. Bạn bè cũng giống như vậy. Chúng ta thường xuyên tiếp xúc với nhau, đức hạnh sẽ cắt gọt mài giũa, ảnh hưởng lẫn nhau, tánh xấu cũng sẽ ảnh hưởng lẫn nhau, đặc biệt là việc học tánh xấu rất nhanh. “Học điều tốt cả năm cũng chẳng đủ, học điều xấu một ngày cũng dư”. Đặc biệt, những thứ dục vọng này vừa học thì biết liền, còn học hiếu đạo ba năm cũng chưa chắc cắm được rễ. Điều này đáng để cho chúng ta phải thận trọng. Một người học tập như thuyền ngược nước, không thể giải đãi, phải hạ quyết tâm mới được.

Chúng tôi vừa nói: “Học hảo chung niên bất túc”. Thật ra là chúng ta học tập chưa chân thật dụng tâm, chưa chân thật hạ công phu, vẫn là biểu hiện trên hình tướng. Tôi có nghe Kinh mà. Tôi có đọc Kinh mà”. Có nghe, có đọc, nhưng có nhập tâm hay không, có kì vọng vào bản thân của mình hay không? “Bất khả tu du ly dã”. Thật ra, chúng ta xem bản thân mình có hiếu học hay không bằng cách nào? Các vị nghĩ xem hiện nay trong cuộc đời này các vị khâm phục người nào, trong cuộc sống của các vị, các vị khâm phục ai nhất? Các vị nghĩ xong chưa? Giả như chưa nghĩ ra, vậy hãy nhanh chóng nghĩ. Giả như không có, thì “thấy người thiện, nên sửa mình”. Vẫn chưa nhập tâm. Nghĩ ra được rồi thì vấn đề thứ hai, xin hỏi chúng ta học được những ưu điểm nào từ nơi họ? Giả như không có, vậy thì sự khâm phục cũng chỉ là trên hình tướng mà thôi, chẳng phải cảm phục và cung kính chân thật từ nơi nội tâm. Chân thật cảm phục và cung kính thì làm sao có thể không hạ thủ công phu học theo họ được chứ. Con người quí ở chỗ có chí khí, không có chí khí thì tiến hai bước lùi ba bước. Chí khí là gì? Tại vì sao họ có thể nêu gương ngàn đời mà chúng ta lại thân bại danh liệt?  Người ta có đức hạnh như vậy có thể làm gương cho hậu thế, ta làm sao có thể cam lòng đọa lạc chứ! Nói đến chí hướng này, sau đó xác thực là phải noi theo. Những vấn đề này nhắc nhở bản thân chúng ta, không thể tự lừa dối mình. “Đệ Tử Quy” nói: “Gần người hiền, tốt vô hạn, đức tiến dần, lỗi ngày giảm”. Tôi có đọc Kinh, tôi có thân cận người thiện”. Kết quả tôi hỏi thân cận “Đệ Tử Quy” đã làm được câu nào rồi, gần gũi với thiện tri thức thì đã học theo họ được điều gì rồi? Nhìn thấy được ưu điểm của họ thì thỉnh giáo họ, tiếp theo từng bước từng bước làm thế nào để noi theo. Nhất định phải học được, chân thật học tập thì phải công phu sâu mới được.

Chúng ta không cần nói đến thiện tri thức, chỉ nói cha mẹ của chúng ta. Chúng ta được sự che chở thương yêu của cha mẹ hơn hai mươi mấy năm, ưu điểm của cha mẹ chúng ta có học được chưa? Mọi người phải chăm học, phải khéo học. Giả như cái tốt của mọi người chúng ta thể hội chưa được, chưa tiến một bước để làm, còn điểm không tốt của mọi người đều ghi nhớ trong lòng, vậy thì quá phiền phức, học vấn càng ngày càng đi xuống, không tiến nổi. Vì vậy, ở đây nhắc đến người chúng ta chẳng ngừng tiếp xúc có phải là người có đức hạnh phải không, có phải là tư tưởng quan niệm chính xác hay không? Giống như nhà thơ Giả Đảo có nói: “Trạch giao như cầu sư”. Lựa chọn bạn tốt thì thận trọng giống như chọn thầy giáo vậy. Từ chỗ này chúng ta nhìn ra, người xưa thể hội được sự ảnh hưởng của bạn bè đối với đức hạnh của mình.

Tiếp theo là nói đến “Phu hiếu kính nhân nghĩa, bách hạnh chi đạo”. Hiếu thuận, cung kính, nhân từ, đạo nghĩa, đức hạnh như vậy đứng hàng đầu, quan trọng nhất. Một người chỉ cần thật sự chuyên tâm có thể “hiếu, kính, nhân, nghĩa”, họ là người thật sự có học vấn. Cho dù họ chưa đọc được bao nhiêu Kinh điển, nhưng họ chính là tấm gương tốt vì người diễn thuyết.

Thời gian nghỉ hè của chúng ta có mời được một vị nữ cao thủ hiến máu ở Đại Lục. Cô ấy hiến máu được xếp là cao thủ bên phái nữ. Mọi người xem “Thiên hạ phụ mẫu”, phỏng vấn chị Lưu Tô. Lần này tôi đi đến Cát Lâm có gặp được chị, là một người chí hiếu, rất nhân từ. Chúng tôi vừa tiếp xúc với chị liền bị đức hạnh của chị cảm hóa, bởi vì chị là người rất chân thật, tâm chân thành bộc lộ ra. Tấm gương như vậy thật là hiếm. Chúng tôi đã mời chị giảng cho sinh viên. Hơn nữa, càng về sau thì con cái, gia đình của chị càng lúc càng tốt. “Nhà tích thiện thì có nhiều niềm vui”. Chị ấy hiện thân thuyết pháp. Không chỉ là giảng cho sinh viên, cũng sẽ sắp xếp thời gian để cho chị ấy chia sẻ cho đại chúng chúng ta. Trăm nghe không bằng một thấy. Tấm gương như vậy rất quan trọng.

Tôi có quen một người bạn, anh ấy đang kinh doanh rất tốt trên thương trường. Khi anh ấy nghe mọi người nói sư trưởng vì văn hóa, vì chánh pháp, vô tư vô ngã thì anh chẳng tin. Anh nói: “Trên thế giới này, con người đều vì bản thân mình, đâu có người như thế”,  anh ấy chẳng tin. Sau khi mọi người mời anh ấy nhiều lần, cuối cùng anh cũng miễn cưỡng đi nghe giảng. Anh ấy nói, lúc đầu, trong cái sân rộng bao la, anh ấy đứng phía sau cùng. Anh ấy nghe và nghe. Anh ấy nói: Kì lạ thật, nghe được một lúc thì càng nghe càng tiến dần về phía trước. Các vị xem, vô hình trung đức hạnh đó đã cảm hóa người ta một cách chẳng hay chẳng biết. Anh ấy là người giỏi tiếng Anh, Hoa văn thì không thông suốt, nói không được nhiều, thế mà nghe đến hiện nay thì có thể dùng tiếng Hoa để giảng văn hóa truyền thống cho mọi người. Sau đó, những vị quan lớn nói với anh ấy: “Trước đây anh chỉ nói với tôi về việc kinh doanh, hiện giờ sao lại nói về giáo dục vậy?”. Anh ấy nói: “Việc đó không quan trọng bằng việc này”. Anh nói tiếp: “Nếu tôi dùng tiếng Hoa để nói về việc kinh doanh, tôi nói chẳng được, chẳng biết nói, nhưng nếu nói về văn hóa truyền thống thì tôi nói được”. Tôi nghĩ, có thể anh nói về văn hóa truyền thống thì được tổ tiên phù hộ cho anh ấy, linh cảm đặc biệt nhiều, nói về kinh doanh thì không có hứng thú. Vì thế, vì mình thì tổ tiên không phù hộ, vì tất cả mọi người thì tổ tiên mới phù hộ. Sau này, anh ấy nghe giảng thì hiểu được công việc của sư phụ đã làm, đã khâm phục, toàn tâm toàn ý hoằng dương văn hóa truyền thống.

Chúng ta xem, làm gương có quan trọng hay không? Vô cùng quan trọng. Vì thế xin thưa các vị học trưởng, chúng ta cũng phải là tấm gương của Malaysia chúng ta. Tôi nói nữ cao thủ về hiến máu của Malaysia hình như có một chút yêu cầu quá hà khắc đối với nữ học trưởng của chúng ta. Đương nhiên tôi có thể đóng vai diễn này có một chút khó khăn, bởi vì tôi e là nếu tôi đi hiến máu thì cô gái đó sẽ nói: “Tôi nghĩ hay là thầy đến để truyền máu thì tốt hơn”. Mọi người tùy phận tùy lực mà có thể làm lợi ích cho người khác, chúng ta không giữ lại chút nào, đem cho hết là được.

“Phu hiếu kính nhân nghĩa, bách hạnh chi đạo, nhi lập thân chi bổn dã” là nền tảng của việc đối nhân xử thế.

“Hiếu kính tắc tông tộc an chi”. Có tâm hiếu kính thì họ là con cháu hiền ngoan trong đại gia đình. Họ lôi kéo hết thảy những người cùng thế hệ hiếu dưỡng cha mẹ, thế hệ sau sẽ hiếu kính thì gia đình này đâu có bất an.

“Tử hiếu phụ tâm khoan, gia hòa vạn sự hưng”. “Nhân nghĩa tắc hương đảng trọng chi”. Họ lại nói về nhân nghĩa, nhất định sẽ dồn hết sức lực để tạo phước ở quê hương. Quê hương đặc biệt xem trọng anh ấy, tôn trọng anh ấy, thậm chí lấy đó làm niềm vinh dự.

“Thử hành thành ư nội”, đức hạnh đã thành tựu rồi. Những lời giáo huấn này sẽ dao động nội tâm, tự nhiên lưu lộ trong lời nói hành vi của họ.

Thử hành thành ư nội, danh trứ ư ngoại giả hỹ”. Danh tiếng tốt sẽ tự nhiên chiêu cảm đến, bởi vì đức hạnh của họ đã làm lợi ích cho đại chúng.

“Mỹ danh tự nhiên tùy chi nhi khởi, nhược, bất đốc ư chí hạnh, nhi bối bổn trục mạt, dĩ hạm phù hoa yên, dĩ thành bằng đảng yên”. Sự chuyển ý này ở đây nối tiếp theo chính là lời căn dặn rất quan trọng. “Hiếu kính nhân nghĩa” là nền tảng đức hạnh căn bản rất quan trọng. Những điều này nếu chẳng cố gắng thâm nhập, vẫn không biết thực tế hạ thủ công phu ở chỗ nào.

Chí hành, “bất đốc ư chí hành”. Chữ “chí” này có thể là từ “hiếu kính nhân nghĩa” vừa được nói đến, là cái gốc này, nguồn gốc của đức hạnh này. Chữ chí hành này còn có một cách giải thích khác: “Hà vị chí hành viết dung hành”. “Dung” là rất bình thường, tầm thường, “chí hành” là đức hạnh rất cao. Thật ra là được tích lũy từ đâu? Chính là từ khởi tâm động niệm và mỗi lời nói hành động bình thường. Thực hiện rồi thì đức hạnh của họ tự nhiên được nâng cao. Giả như chúng ta không chú ý tất cả những ý nghĩ của chính mình, cùng với rất nhiều chi tiết của cuộc sống, học vấn như vậy thì sẽ không vững chắc, thậm chí là trước mặt mọi người thì một kiểu, sau lưng mọi người thì một kiểu. Lúc có người thì giống như quân tử, khi không có người thì hành vi hoàn toàn khác, cho nên cổ nhân nói phải “thận độc”. Khi không có người thì cũng giống như lúc có người, phải lo sợ cảnh giác, nếu không vừa học thì học thành tấm da hai mặt: mặt trước một kiểu, mặt sau một kiểu. Vì sao lại học trở thành như vậy? Vẫn là cái tâm hư vinh làm mê muội, vẫn là không hiểu rõ “trên đầu ba thước có thần minh”. Làm sao mà lời nói hành vi không cẩn thận được chứ? Có người và không có người thì không như nhau là lừa mình dối người.

“Bất đốc ư chí hạnh”, chẳng bắt đầu từ căn bản, từ những chi tiết của cuộc sống. Nếu như chắc chắn làm đó là “bội bổn trục mạt”. Chữ “mạt” này là cành lá. không có rễ mà muốn cành lá sum suê, rậm rạp, cho nên biến thành “dĩ hạm phù hoa yên” (rơi vào trong sự phù phiếm), “dĩ thành bằng đảng yên”. “Hạm phù hoa” nghĩa là rơi vào trong sự phù phiếm, chính là tham danh, chạy theo danh. “Dĩ hạm phù hoa yên” là theo đuổi, có phe đảng. Vì lợi ích của phe nhóm sẽ không tốt.

“Phù hoa tắc hữu hư ngụy chi lụy”. Hư danh của con người, tâm phù phiếm khởi lên. Thật ra làm người rất mệt, có lúc phải giả vờ. Điều này thật sự là phiền phúc cho thân tâm. Người sáng suốt nhìn ra được, thật sự cảm thấy như vậy rất mệt, rất vất vả. Trước mặt và sau lưng mọi người, cái mặt nạ này phải luôn luôn kéo xuống. Quá vất vả! Mọi người có xem qua tiết mục thay đổi gương mặt của Tứ Xuyên chưa? Trong chốc lát liền biến một ra một gương mặt. Có lúc nào biến sai không?

Phía trước vẫn còn một câu: “Hình thành ư nội”. Thật ra là trong Đại Học nói: “Thành ư trung, hình ư ngoại”, không nên làm cho học vấn phức tạp, chính là trái tim này. Đặc biệt là phục hồi tâm chân thành, phục hồi tâm hiếu thảo là đúng rồi.

“Bằng đảng tắc hữu bỉ thử chi hoạn”. Kết bè kết phái, tai họa gì vậy? Cuối cùng đã xảy ra tình huống là chó cắn nhau. Hoặc giả vì lợi ích phe nhóm, tự bản thân của những người cùng đảng phái cũng xung đột với nhau, chỉ cần không thể mất đi tự lợi. Trong quan hệ bạn bè thì rất khó có đạo nghĩa chi giao, liền trở thành bè phái.

“Thử nhị giả chi giới, chiếu nhiên trứ minh”. Giống như trong lịch sử nói hai điều này. Thậm chí trong khoảng thời gian cách họ không xa, có rất nhiều trường hợp như thế xuất hiện. Tuy là có nhiều trường hợp như vậy, “nhi tuân phúc xa tư chúng”, nghĩa là những người giẫm lên vết xe đổ rất nhiều. Trong lịch sử, tuy là sự nhắc nhở có rất nhiều, nhưng con người chẳng có sự cảnh giác cao để noi theo, để thực hiện. Đọc có nhiều hơn thì vẫn là những việc phạm trọng tội trong lịch sử. Các vị nói xem, có vị hoàng đế nào mà không đọc lịch sử? Vị nào cũng đều đọc, nhưng người không vi phạm hầu như là rất hiếm. Vì vậy có một người đọc sách có viết: “Hậu nhân ai chi nhi bất giám chi”. Thế hệ sau xem lịch sử cảm thấy rất đau lòng: “Những người này làm sao mà đáng thương vậy!.

“Ai chi nhi bất giám chi”, bản thân không lấy đó làm gương. “Diệc sử hậu nhân nhi phúc ai hậu nhân dã”. Chúng ta không lấy đó làm gương, chúng ta cũng đã phạm rồi, sau này thế hệ sau của chúng ta sẽ nói: “Những người này thật đáng thương!. Cho nên, con người thật sự nếu không đi theo vết xe đổ thì không dễ dàng. Thật sự cần cái tâm cảnh giác lo sợ để lúc nào cũng quán chiếu bản thân mình, đặc biệt là bắt đầu từ suy nghĩ.

“Trục mạt di thâm”, những người bỏ phần chính lấy phần phụ là nhiều vô cùng, có thể là phong thái của thành phần trí thức lúc đó không được tốt.

“Giai do hoặc đương thời chi dự”. Tham danh, mê mẩn những mỹ từ tán thán.

Muội mục tiền chi lợi cố dã”, bị lợi ích trước mắt làm mê mờ đi, không nhìn rõ tai họa ở sắp tới.

“Phu phú quý thanh danh”. Phú quý, danh tiếng tốt.

“Nhân tình sở lạc nhi quân tử hoặc đắc nhi bất xử”. Người đời đa số rất thích giàu sang, danh tiếng, nhưng quân tử có được rồi ngược lại là buông bỏ liền. Vì sao vậy? “Hà dã”, “ác bất do kì đạo nhĩ”, nghĩa là đạt được chẳng phải là do cách thức chính đáng. Người quân tử không làm như vậy, cái gọi là “phú quí do bất nghĩa thì coi như mây trôi”.

“Quân tử ái tài, thủ chi hữu đạo”. “Hoạn nhân tri tiến, bất tri thoái, tri dục nhi bất tri túc, cố hữu khốn nhục chi lũy, hối lận chi cữu”. Con người gian nan khổ cực chỉ biết tiến mà không biết lúc nào nên thoái lui. Giả dụ nói một người luôn bận rộn việc chạy theo danh lợi, bận lo sự nghiệp, có lúc cũng nên bình lặng lại để suy nghĩ về phương hướng mục tiêu. Thời gian bình lặng lại có thể là không có, mỗi ngày đều bận rộn, bận đến cuối cùng xảy ra tình huống chỉ biết tiến mà chẳng biết thoái. Không biết tĩnh lặng lại, không biết suy nghĩ lại bao gồm “việc không tốt, chớ dễ nhận, nếu dễ nhận, tiến lui sai”. Biết được tốt, làm được tốt, không có cân nhắc năng lực của chính mình, những suy nghĩ khách quan này cuối cùng quá nhiều đáp án, tiến thoái đều khó. Điều này chính là “biết tiến mà không biết thoái”. Thậm chí có lúc thành đạt thì phải lui về ở ẩn, không nên háo danh, tham sự nghiệp.

“Tri dục nhi bấy tri túc”, chỉ biết thỏa mãn những ham muốn mà không biết đủ, không biết tiết chế, lúc này khống chế không được nữa.

“Cố hữu khốn nhục chi lũy, hối lận chi cữu”, chính là hối hận không kịp nữa, sẽ tự chuốc lấy điều nhục nhã.

Các vị phải thỏa mãn rất nhiều ham muốn, thậm chí có lúc còn nhìn xem vẻ mặt của người khác, phải đi nịnh bợ, có lúc người ta làm cho nhục nhã, người ta xem thường. Thí dụ như, các bạn trai đi tìm người yêu thì phải có khí phách của con trai, chứ không phải một bạn nam đang theo đuổi cô bạn gái giống như là xin người ta giúp đỡ, giống như trở thành đầy tớ của nhà cô gái. Như vậy thật sự chẳng có nhân cách của đàn ông con trai gì, nhìn thấy thì chẳng dám gật đầu chịu bừa. Thật sự khi các vị nhìn thấy những người có lòng tham cầu như vậy, làm ra những hành vi như vậy sẽ xem thường anh ta. Nói thật ra, người con gái đó có xem trọng anh ấy không? Không có. Vì vậy tục ngữ nói, “tự chuốc lấy nhục” cũng hợp lý.

“Năng tri túc giả, thiên bất năng bần, năng vô cầu giả, thiên bất năng tiện”. Người không cầu, không biết làm những hành vi tâng bốc, nịnh bợ thì phẩm đức sẽ tự nhiên cao.

“Năng tri túc giả, thiên bất năng bần”. Họ biết đủ thì luôn an vui, ông trời cũng chẳng có cách nào làm cho họ nghèo khổ.

“Năng vô cầu giả, thiên bất năng tiện”, “năng tùy ngộ nhi an giả”. Không nên cưỡng cầu, tùy duyên làm tròn bổn phận. “Thiên bất năng khốn”, thật sự trong sự tiến triển nhân duyên của cuộc đời chúng ta, có những lúc cảm giác là ta rất tủi thân, chính là cảm giác của từ “khốn” này.

“Hổ xuống đồng bằng bị chó khinh. Rồng gặp nước cạn, tôm bỡn cợt”. Nói thật ra, khi con người khởi lên ý nghĩ này thì học vấn của họ chẳng ra làm sao. Thật sự là như vậy. Vì sao vậy? “Nhất thiết phước điền, bất li phương thốn”. Phước phần và trí huệ đều không rời khỏi sự chủ tâm này, ai có thể gây khó khăn cho chúng ta. Vì vậy, con người một khi đã mong cầu quá đáng có thể đưa đến sự khốn khó nhục nhã. “Năng tùy ngộ nhi an”, nên an trú vào nhân duyên mà làm tròn bổn phận của mình, tự tại trong phước huệ.

“Ngữ viết: Bất tri túc tắc thất sở dục. Cố tri túc chi túc, thường túc hĩ””. Một người chẳng biết đủ, cứ mãi chạy theo dục vọng, ngược lại sẽ mất đi những điều đã cầu, thậm chí những thứ mà họ đã có. Chúng tôi thấy, con người hiện nay cứ mãi đuổi theo danh lợi, cuối cùng thì sức khỏe suy yếu, thứ gì cũng chẳng mang theo được. Đây là do không biết đủ. Thậm chí là do chạy theo đồng tiền, gia đình chẳng được chăm sóc chu toàn, cuối cùng là vợ con ly tán. Đó là do chẳng biết đủ tạo thành. Thật ra, sự giàu sang của thế gian chúng ta phải nên lánh xa, mà lánh chẳng kịp, cớ gì mà hăng hái đi tìm cầu cho cả cuộc sống mất cân bằng chứ. Trong tâm, trong suy nghĩ chỉ có tiền, không nhìn thấy tình người, không cảm thông được với những người chung quanh, như vậy thì không tốt. Cho nên, một người có thể “tri túc chi túc”, nghĩa là họ bằng lòng với cái họ đang có, họ luôn cảm thấy đầy đủ, vui sướng, thậm chí là tràn đầy tâm cảm ơn.

“Lam vãng sự chi thành bại, sát tương lai chi cát hung”, có thể lấy sự thành bại trước đây làm tấm gương.

“Tiền sự bất vong, hậu thế chi sư”. Điều này không chỉ là cuộc đời của chính mình, mà còn bao gồm lịch sử.

Một người cần phải có thái độ làm việc quan trọng. Chúng ta phục vụ trong đơn vị, nhất định phải truyền kinh nghiệm quý báu này lại. Những kinh nghiệm này sẽ trở thành tài sản quý báu cho đoàn thể. Giả như kinh nghiệm làm việc đã nhiều mà không truyền lại thì giống như việc đã sai lầm lại càng sai lầm hơn; nhân lực, vật lực, tài lực của cả đoàn thể sẽ bị tiêu hao rất nhiều, thậm chí rất nhiều kinh nghiệm sẽ bị lãng phí, như vậy là chúng ta không tận trung.

“Sát tương lai chi cát hung”, có thể đoán được điều lành dữ trong tương lai.

“Vị hữu can danh yếu lợi, dục nhi bất yếm, nhi năng bảo thế trì gia, vĩnh toàn phước lộc giả dã”. Câu này nói một cách chắc chắn. “Vị hữu” nghĩa là từ trước đến giờ chẳng có chạy theo danh lợi. Người không bị ảnh hưởng của dục vọng, có thể làm hưng thịnh cho gia tộc, giữ tròn phước lộc tìm không ra.

“Dục sử nhữ tào lập thân hành kỉ”. Cho nên chúng tôi hy vọng các vị đối nhân xử thế “tuân nho giả chi giáo”,  tuân theo lời giáo huấn của Khổng Tử, của Nho gia.

“Lữ đạo gia chi ngôn”. Chữ “lữ” này nghĩa là tin tưởng làm theo, thực hành những lời giáo huấn của của Đạo gia.

Chân ngôn: “Cố dĩ huyền mặc xung hư vi danh dục sử nhữ tào cố danh tư nghĩa”. Chữ “nhữ tào” chính là các vị, triều nhà Hán lúc đó nói “nhữ tào” có nghĩa là “các vị”. Vừa nghĩ đến tên của mình thì lập tức nhắc đến nghĩa ở đằng sau cái tên.

“Bất cảm vi việt dã”, giống như cái tên này trở thành một tiêu chuẩn, lúc nào cũng nhắc nhở họ.

“Cổ giả bàn dư hữu minh”. Nói đến bàn dư hữu minh này liền nghĩ đến “thang chi bàn minh viết: Cẩu nhựt tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân”. Chữ “bàn dư” này đều có khắc chữ để nhắc nhở bản thân.

“Kỷ trượng hữu giới”, bàn uống trà, gậy batoon đều có khắc chữ để nhắc nhở bản thân mình, sợ bản thân mình sẽ quên những lời giáo huấn quan trọng này. Luôn luôn nhắc nhở.

“Phủ ngưỡng sát yên”, giống như lúc nào nhìn thấy liền nhắc nhở bản thân mình, ngẩng đầu lên đã nhìn thấy, cúi đầu xuống cũng nhìn thấy. Tuyệt vời nhất là nằm mộng cũng nhìn thấy.

“Dụng vô quá hành”, sau khi dùng sẽ nhắc nhở cho mình, giúp cho bản thân mình không tạo lỗi lầm.

Hôm nay cũng vừa chuẩn bị xong những tấm giấy dán nhỏ, trên đó có viết một số câu Kinh, chút nữa mọi người lấy một tấm nhé. Chúng ta học rồi thì thực hành ngay, đem những câu Kinh này nên dán ở đâu để ngẩng đầu lên hay cúi đầu xuống đều nhìn thấy, lúc nào cũng đều nhìn thấy để nhắc nhở bản thân mình. Mọi người rút một cách thành tâm, chí thành cảm thông, sẽ rút được trúng câu có thể  nhắc nhở chúng ta.

“Huống tại kỷ danh”. Cổ nhân làm như vậy là để nhắc nhở bản thân, huống chi là tên của các vị cũng là hàm chứa những nghĩa lý này, việc nhắc nhở càng đạt được hiệu quả. “Khả bất giới chi tai”.

Tiếp theo là sự mong đợi vào con của họ.

“Phu vật tốc thành tắc tật vong”. Các vị còn trẻ không nên nôn nóng cầu thành tựu.

“Vãn tựu tắc thiện chung, hậu tích bạc phát. Triêu hoa chi thảo, tịch nhi linh lạc, tùng bách chi mậu, long hàn bất suy, thị dĩ đại nhã quân tử ác tốc thành, giới khuyết đảng dã”.

“Khuyết đảng” này là điển tích ở trong Luận Ngữ. Có một em bé đến hỏi Khổng Tử, còn chuyển lời một một số chuyện cho Khổng Tử nghe. “Khuyết đảng” nghĩa là đứa trẻ đồng hương với Khổng Tử. Mọi người liền hỏi Khổng Tử: “Em bé này có phải là rất hiếu học, cầu tiến phải không?”. Phu Tử trả lời: “Tôi quan sát, cháu đó chẳng phải đến thỉnh cầu giúp đỡ chuyện học vấn. Lúc cháu ngồi đều ngồi ở chỗ người lớn, lúc đi đều đi phía trước người lớn. Cháu đó chẳng phải đến cầu học vấn. Cháu đó rất muốn nhanh chóng lớn lên, giống như người lớn vậy”. Đứa trẻ đó liền nói: “Con muốn lớn lên, lớn lên con có thể ngồi ở chỗ của người lớn, con sẽ làm được rất nhiều rất nhiều việc”. Đó là tâm trí chưa hoàn thiện, muốn nhanh chóng giống như người lớn vậy. Đây là tâm lý muốn nhanh chóng trưởng thành. Từ cách ngồi, cách đi của đứa bé, Khổng Tử liền nhìn ra được. Đúng là người có đức hạnh, từ những chỗ vi tế này Ngài có thể nhìn thấu được tâm lý của đứa bé này.

“Nhược Phạm Cái đối Tần khách, chí Vũ Tử kích chi, chiết kỳ uy kê, ác kỳ yểm nhân dã”. Cha của Phạm Cái là Phạm Vũ Tử. Có một hôm, Phạm Cái về nhà thưa với cha: “Thưa cha, hôm nay có khách nước Tần đến thăm. Kết quả là khách nước Tần hỏi một số vấn đề, những vị quan lớn ở ở bên cạnh không trả lời được, con thì trả lời được” (các vị quan lớn không nói gì, anh thanh niên này liền giành phần trả lời hết các câu hỏi). Cha của anh vừa nghe xong liền đánh cho anh một trận ra trò, đánh đến gãy cây trâm cài tóc của anh ấy. Cha của anh vì sao nổi giận như vậy? Bởi vì anh ta “yếm nhân dã”. Chữ “yếm” này nghĩa là người giỏi áp đảo người khác, thậm chí là hạ thấp uy tín người khác. “Không thành vấn đề, tôi biết, các vị quan này chẳng biết”. Sự kiêu căng này trổi dậy thì phiền phức rồi. Mọi người xem, đánh như vậy mới nhớ được, có đúng không? Cha mẹ hiện nay vừa nhìn thấy: “Ây da, con tôi thật là giỏi, ngay cả người lớn cũng không bằng con”, vậy thì phiền phức rồi. Vì vậy, tìm một người không ngạo mạn trong thanh niên thời nay là chuyện không phải dễ dàng. Việc này có thể liên quan với thái độ của cha mẹ, đặc biệt là khi chúng vừa bắt đầu phạm sai lầm thì lập tức dạy bảo chúng, thì cả đời chúng cũng không quên. Sau khi trưởng thành rồi muốn dạy thì không dễ dạy.

“Phu nhân hữu thiện tiên bất tự phạt”, thông thường con người có thiện hạnh rất hiếm chuyện chẳng khoe khoang bản thân mình.

“Hữu năng giả quả bất tự căng”. Người có năng lực cũng rất hiếm khi tự kiêu. “Căng” có nghĩa là ngạo.

“Phạt tắc yểm nhân”, tự mình khoe khoang là hạ thấp uy tín người khác, làm cho mọi người ở chung quanh giống như xấu hổ không còn chỗ để trốn, hình như là thua kém các vị nhiều lắm.

“Căng nhi lăng nhân”, kiêu căng ngạo mạn, lấn áp người khác, thái độ sống như vậy sẽ chiêu cảm điều gì? “Yểm nhân giả nhân diệc yểm chi”. Các vị làm giảm uy tín người khác, khi gặp được cơ hội thì người ta cũng sẽ làm giảm uy tín lại.

“Lăng nhân giả diệc lăng chi”. Người kiêu ngạo thì người ta cũng sẽ kiêu ngạo với chúng ta giống như vậy. Có một câu cách ngôn nói là: “Bộ bộ chiếm tiên giả, tất hữu nhân dĩ tễ chi”. Việc gì cũng giành trước tiên, nhất định có một ngày sẽ bị người ta ép trở lại. “Sự sự tranh thắng giả”, việc gì cũng tranh giành trước tiên, muốn khoe tài, hiếu thắng. “Sự sự tranh thắng giả, tất hữu nhân dĩ tòa chi”, mọi người nhìn thấy chẳng vừa ý, sau lưng sẽ gây rắc rối cho các vị, cho nên “Mãn chiêu tổn, khiêm thụ ích”.

Tiếp theo là nêu lên một thí dụ: “Cố tam khích vi lục ư tấn”. “Tam khích” là chỉ ba anh em đều là ngạo mạn, kết quả đều bị sát hại. Đây là tai họa do thói kiêu ngạo chiêu cảm đến.

“Vương thúc phụ tội ư châu”. “Vương thúc” là đã vi phạm cách xử thế, chiêu cảm tai họa đến.

“Bất duy căng thiện tự phạt, hiếu tranh chi cữu hồ, cố quân tử bất tự xưng, phi dĩ nhượng nhân, ác kì cái nhân dã”. “Bất duy căng thiện tự phạt, hiếu tranh chi cữu hồ” nghĩa là họ đã chiêu cảm những tai họa đến, bởi vì “căng thiện tự phạt”“hiếu tranh” tạo thành sai trái, lỗi lầm. Cho nên quân tử chẳng tự khoe khoang, tự ca ngợi mình. “Phi dĩ nhượng nhân”, không chỉ thái độ của họ khiêm nhượng. “Ác kì cái nhân dã”, quân tử rất phúc hậu, họ chẳng bao giờ làm mất uy tín người khác, không dùng thế lực áp đảo người khác, họ rất mềm mỏng, như vậy mới là quân tử. Lời nói đều muốn chiếm lợi thế, đều muốn chèn ép người, đều muốn người ta chấp nhận, không chấp nhận không được, đây không phải là phong cách của người quân tử.

“Phu năng khuất dĩ vi thân, nhượng dĩ vi đắc, nhược dĩ vi cường, tiên bất toại hĩ”, “nhu nhược thắng cang cường”. Biết nhường nhịn chính là có sự độ lượng, ngược lại có thể được. Tại sao vậy? Lượng lớn thì phước lớn, có thể nhường nhịn thì tiêu tai họa, phước càng lớn. Người chịu khuất phục thì mới có thể minh oan, cho nên điều này là dạy cho họ không nên kiêu ngạo, phải chịu khuất phục, phải biết nhún nhường, khiêm nhượng, phải biết uyển chuyển, phải có thái độ khiêm nhường.

Được rồi, thời gian đã hết. Hôm nay giao lưu với mọi người đến chỗ này. Lần sau chúng ta tiếp tục thảo luận cho xong những lời dạy bảo trong gia đình. Quyển sách này rất đặc sắc, mọi người về nhà có thể xem lại vài lần. Cám ơn mọi người!

A Di Đà Phật!

Chia sẻ học tập “Quần Thư Trị Yếu 360” (tập 11 và 12)

Giảng ngày 28 tháng 05 năm 2011 tại Trung tâm Giáo dục Văn hóa truyền thống Malaysia.

Người giảng: Thầy giáo Thái Lễ Húc

Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ, Mộ Tịnh Cư Sĩ, Phước Tịnh Cư Sĩ

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 55


Hôm nayHôm nay : 7494

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 297023

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9747996

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?