Lấy giáo dục hoằng dương Phật pháp. Lấy giảng giải bồi dưỡng nhân tài. Lấy từ bi lợi ích xã hội. Lấy chân thành phát triển giao lưu. Lấy chuyên tu cầu sanh Tịnh Độ.

Trang chủ »Pháp ngữ »Quần thư trị yếu 360

Quần Thư Trị Yếu 360 - Thầy Thái Lễ Húc giảng (Tập 1 -2)

Thứ ba - 25/10/2016 15:56

Các vị trưởng bối, các vị học trưởng, xin chào mọi người! 

Hôm nay là ngày 28 tháng 05 năm 2011, lớp cổ văn của chúng ta cùng nhau học tập “Quần Thư Trị Yếu 360”. Tại vì sao bắt đầu từ tuần này chúng ta cùng nhau học tập 360 câu trích từ bộ sách “Quần Thư Trị Yếu” này? Đầu tiên, xin nói rõ với mọi người về nhân duyên này.

Lần này, chúng tôi ở Đài Loan đã đem “Quần Thư Trị Yếu” in ra được 10.000 bản. Bộ sách quý này là do Hoàng đế Đường Thái Tông ra lệnh cho Ngụy Trưng đại nhân phụ trách biên soạn. Đương nhiên vào lúc đó có rất nhiều đại thần nhà Nho lỗi lạc tham dự, do Ngụy Trưng đại nhân làm đại diện, nhưng bộ sách này sau đời nhà Đường thì đã thất truyền. Sau đời Tống, trong “Nghệ Văn Chí”, trong Sử Thư đều không thấy có ghi chép về bộ sách này. Vào triều Thanh, khi Càn Long thoái vị, Hoàng đế Gia Khánh đăng cơ thì quyển sách này lại được tiến cống từ Nhật Bản về lại Trung Hoa, đồng nghĩa với việc chúng ta mất rồi lại được. Sau khi trở về lại Trung Hoa thì nó cũng không được xem trọng. Sau thời Dân Quốc lại bị quân phiệt chia cắt, vì vậy mà quyển sách này lại bị mai một. Vào cuối năm ngoái, người bạn cùng học tập văn hóa truyền thống với chúng ta đã đem hai bộ “Quần Thư Trị Yếu” đến cho Sư trưởng. Bởi vì Sư trưởng trong khi giảng Kinh đã đề cập đến việc từng xem qua một bộ sách “Chư Tử Trị Yếu”, đây là hai mươi quyển sau cùng trong bộ năm mươi quyển của “Quần Thư Trị Yếu”. Ngài cảm thấy biên soạn vô cùng tinh túy, thấu đáo, cho nên hy vọng có thể tìm được bộ sách “Quần Thư Trị Yếu” này. Quả như Lão Tử đã nói: “Thiên đạo vô thân thường dữ thiện nhân”. Ở trong thời đại này, việc truyền thừa văn hóa là đại sự của dân tộc, bởi vì văn hóa đã gặp phải nguy cơ bên bờ vực tồn vong. Sư trưởng Ngài cũng vô cùng xem trọng việc truyền thừa văn hóa. Được Thánh Hiền và tổ tiên che chở, bộ sách này đã đến được tay của Sư trưởng Ngài và đã mau chóng được in ấn ra với số lượng lớn để lưu thông. Thế gian này không có sự việc nào là ngẫu nhiên, mà đều là có cảm ứng. Sư trưởng có cái sứ mệnh cảm của con cháu đời sau nên liền cảm ứng tổ tiên gia trì, khiến cho hai bộ sách cổ đã tám mươi - chín mươi năm nay được đến tay của Ngài.

Sư trưởng ngoài việc đã tiếp xúc với bộ sách này ra, đồng thời cũng đã nhận được bộ “Quốc Học Trị Yếu”. Đây đều là bảo điển đã được phiên ấn vào thời Dân Quốc, đều sắp bị thất truyền. Trong một cơ hội vào cuối năm ngoái, cả hai bộ sách này đều được đưa đến tận tay Sư phụ và đã in ra một vạn cuốn.

Chữ “trị”  trong “Quần Thư Trị Yếu” này là chính trị trong “trị quốc  bình thiên hạ”, đồng nghĩa với việc trong Quần Thư có tinh hoa cương yếu liên quan đến việc tu thân - tề gia - trị quốc - bình thiên hạ, đều được hội tập lại. Còn chữ “trị” trong “Quốc Học Trị Yếu” lại là trị học, là việc cầu học vấn. Mười sáu năm Dân quốc hoàn thành, những nhân sĩ có chí lúc đó có thể đã cảm thấy văn hóa truyền thống như “Tứ Khố Toàn Thư”, những loại bảo thư hoàn chỉnh như vậy tổng cộng có 1.500 quyển; những con cháu của Trung Hoa thì phải thâm nhập văn hóa của Trung Hoa, nhìn thấy 1.500 quyển này thì không biết phải bắt đầu từ đâu, cho nên từ trong 1.500 quyển này chắt lọc tinh hoa ra thành tám quyển. Chúng ta chỉ cần thâm nhập tám quyển này thì có thể nắm được cương lĩnh của cả nền văn hóa. Ai càng hiểu được văn hóa của mình thì sẽ càng yêu văn hóa của mình hơn, càng sẵn lòng thâm nhập Kinh điển kế thừa văn hóa. Cho nên hai bộ sách này được lưu thông với số lượng lớn cũng là nhờ đức của tổ tiên. Có nghĩa là thế hệ này của chúng ta phải gánh vác trách nhiệm kế thừa văn hóa truyền thống, cũng phải có sứ mạng làm cho văn hóa của chúng ta tại thời đại này có thể được phục hưng trở lại.

Vừa rồi đã nói với mọi người, trên thế gian này không có sự việc gì gọi là ngẫu nhiên. Quyển sách này sao không đến tay của người khác mà lại đến tay của Sư trưởng? Thế hệ này của Sư trưởng có thể xem là một thế hệ sau cùng có nền tảng của nền văn hóa. Sư trưởng Ngài cũng đã nói, em trai của Ngài chỉ nhỏ hơn Ngài sáu tuổi mà đã không còn được học tư thục như Ngài nữa, đã bắt đầu đi học trường như chúng ta rồi. Chỉ có sáu năm mà lại có sự khác biệt về văn hóa vô cùng lớn như vậy. Ngài cũng thường hay nói: “Chính nhờ học tập văn hóa truyền thống mà cả cuộc đời có thể không bị ô nhiễm khi ở trong đại xã hội này, không bị cuốn trôi theo sóng nước cuộc đời chính là nhờ vào văn hóa truyền thống, nhờ đi học tư thục”. Từ nhỏ đã được vun trồng cái gốc đức hạnh, nhờ có nền tảng như vậy mà đã giúp cho một đời đều được bình an, đều có thể không bị ô nhiễm, tiếp đến có thể thành tựu được đạo đức học vấn. Cho nên cái gốc này rất là quan trọng. Nhờ có gốc mới có được sự sống, nhờ có gốc mới có thể vượt qua được những sự khảo nghiệm, mới có thể đứng vững trên đôi chân.

Sư trưởng Ngài mười một tuổi gặp phải cuộc kháng chiến chống Nhật, cho nên lưu lạc khắp nơi. Khi mười mấy tuổi thì Sư trưởng Ngài đã bắt đầu suy nghĩ: Hy vọng thiên hạ không phải chịu sự thống khổ của việc thất học, hy vọng tất cả mọi người đều có thể đọc được giáo huấn của Thánh Hiền, bởi vì bản thân Ngài cảm thấy sự đau khổ của việc thất học. Khi mười mấy tuổi thì Ngài đã suy nghĩ về việc làm thế nào để người trong thiên hạ đọc được sách Thánh Hiền. Chúng ta nghe giảng đến chỗ này thì vô cùng bội phục và rất hổ thẹn. Mười mấy tuổi, theo tôi thấy sẽ suy nghĩ về việc ăn uống vui chơi như thế nào, còn Ngài thì lại suy nghĩ làm thế nào để người trong thiên hạ có được trí huệ, không bị cái khổ giống như Ngài. Cho nên, từ tấm lòng của Sư Trưởng Ngài lúc còn thời thiếu niên, mọi người sẽ không thấy bất ngờ về việc tại sao bộ sách này đến được tay của Ngài, bao gồm cả việc khi ở tại Đài Loan Ngài gặp được ba vị cao Tăng đại đức chỉ bảo, giáo huấn tận tình. Việc này đều có liên quan đến sự cảm ứng với tâm yêu thương, tâm nguyện và tâm hiếu học của Ngài. Đương nhiên việc ngày nay chúng ta cùng nhau học tập cổ văn, cùng nhau học tập “Quần Thư Trị Yếu” cũng không phải là ngẫu nhiên. Các vị học trưởng đều là những người có sứ mệnh: “Vì vãng Thánh tiếp nối tuyệt học, vì vạn thế khai mở thái bình”, cho nên chúng ta đã tụ hội một nơi cùng nhau học hỏi, cùng nhau thâm nhập và học tập cổ văn. Về sau, Sư trưởng theo học với ba vị cao Tăng đại đức tại Đài Loan. Đầu tiên là Giáo sư Phương Đông Mỹ, tiếp đến là người trong nhà Phật - Đại Sư Chương Gia và lão sư Lý Bỉnh Nam. Được ba vị lão sư chỉ dạy, về sau Ngài đã đem giáo lý của ba nhà Nho - Thích - Đạo trong văn hóa truyền thống hoằng truyền ra năm châu trên toàn thế giới.

Lý do vì sao Sư trưởng có thể gánh vác việc truyền thừa lại văn hóa dân tộc? Vì sao Sư trưởng có thể tiếp nhận được bộ sách quý “Quần Thư Trị Yếu” này? Đều xuất phát từ Ngài cảm thấy có một sứ mệnh, trách nhiệm đối với dân tộc. Cho nên, chúng ta cũng noi theo tinh thần của Sư trưởng Ngài, bởi vì văn hóa thì cần phải nhờ vào từng đời từng đời truyền thừa nối tiếp. Vì thế, việc truyền thừa này không thể gián đoạn một đời nào. Chỉ cần một đời không kế thừa thì văn hóa hàng nghìn năm cũng phải mất đi. Cho nên, thân là con cháu đời sau, “thừa tiên khải hậu”, có nghĩa là kế thừa giáo huấn của tổ tiên, sau đó khởi phát cho con cháu đời sau. Đây là nghĩa vụ mà mỗi người phải tận hết bổn phận, nếu không chúng ta sẽ không có mặt mũi nào đối diện với tổ tiên. Cho nên, Sư trưởng đã nêu ra trong thời đại hiện nay có hai sự việc lớn, chúng ta nhất định phải xem trọng.

Việc trọng đại thứ nhất là cứu vãn văn hóa truyền thống của dân tộc.

Bởi vì văn hóa là linh hồn của dân tộc, giáo dục là sự sống còn của văn hóa, văn hóa nhất định phải nhờ vào giáo dục để tiếp tục truyền thừa. Một dân tộc không có văn hóa thì nó không có linh hồn. Bạn xem, chúng ta xem trọng ngũ luân - ngũ thường - tứ duy - bát đức; ngũ luân là đạo, ngũ thường là đức. Tổ tiên chúng ta có thể truyền thừa được mấy nghìn năm lịch sử bởi vì họ xem trọng đạo đức. Bởi vậy, con cháu chúng ta thật là có phước. “Tích thiện chi gia tất hữu dư khánh”. Trên thế giới có nhiều dân tộc có văn minh cổ xưa, trải qua mấy nghìn năm thì cuối cùng chỉ có văn hóa truyền thống Trung Hoa là vẫn tiếp tục còn tồn tại. Mấu chốt là tổ tiên có đức dày, ở hiền gặp lành, nhờ xem trọng đạo đức. Mà cái đức này, thường nói nhất là ngũ thường: Nhân - lễ - nghĩa - trí - tín. Con người nếu như không có ngũ thường cũng giống như người không có linh hồn. Con người suy từ ta ra người, đồng cảm, xúc động lây lan, đây mới giống linh hồn của vạn vật, mới là thiên - địa - nhân tam tài. Nếu như con người không biết nhân ái, đều chỉ biết tự tư tự lợi, họ chỉ là cái xác không hồn, là nô lệ của dục vọng. Theo đuổi danh lợi sẽ có hiện tượng ruồng bỏ cha mẹ.

Gần đây có rất nhiều tin tức xã hội đăng tải, thấy người bị tai nạn (đứa trẻ bị xe cán) mà không có người nào chịu đến giúp. Lòng nhân từ của con người đã phai mờ không còn tồn tại, chủ nghĩa danh lợi đã thống lĩnh. Lịch sử nhân loại trong 200 năm trở lại đây đều bị tài sắc vây hãm, theo đuổi sự hám sắc hám tiền, dường như mục đích của cuộc đời nằm ở dục vọng, là ở hưởng thụ. Sự sai lệch này thật quá đáng!

Người xưa nói: “Đọc sách chí tại Thánh Hiền”, phải thật sự hiểu được ý nghĩa quan trọng nhất của đời người là nâng cao đức hạnh, linh tánh, nâng cao trí huệ của chính mình. Bởi vì biết cái thân thể này của chúng ta là một thứ công cụ. Trong Kinh Dịch, “Hệ Từ Truyện” của Khổng Tử nói: “Du hồn vi biến”, biết được thân thể này là một cái công cụ để cho linh hồn trú vào. Mà công cụ thì sẽ bị hư hỏng, dùng hỏng rồi thì nó sẽ đi về đâu? Cho nên, cuộc đời con người phải không ngừng nâng cao linh tánh để cho nó được đi về nơi tốt đẹp hơn.

Hiện tại, giá trị quan của đời người đã sai lệch rồi, đều là hưởng lạc và buông thả, vì vậy linh tánh đã không ngừng đi xuống, khi kết thúc cuộc đời này chỉ có đọa lạc mà thôi. Cho nên, không có Kinh điển chỉ dẫn thì phương hướng của cả cuộc đời, phương hướng của cả nhân loại đều là sai lệch. Nhìn thấy xã hội hiện tại thì nghĩ đến trong “Chu Tử Trị Gia Cách Ngôn” có nói: “Tử tôn tuy ngu, Kinh thư bất khả bất đọc”. Không đọc Kinh sách thì không thể mở được con mắt trí huệ, ngay cả phương hướng cũng điên đảo hết. Kết quả là mê mờ danh lợi, toàn bộ đã bị dục vọng khống chế. Cho nên, bạn xem văn hóa chính là linh hồn của dân tộc, không có văn hóa thì cũng như không có linh hồn.

Chúng ta thấy con số thống kê, một năm số người phá thai vượt hơn năm mươi triệu người. Chúng ta suy nghĩ xem, đó là con số có đăng ký, vậy còn số lượng chưa đăng ký thì sao? Vả lại, số lượng thiếu nữ dưới hai mươi tuổi lại đặc biệt nhiều, đều là chưa kết hôn. Chúng ta phải bình tĩnh mà suy nghĩ, việc phá thai chính là tự tay mình giết chết con cái của chính mình, hành vi này thì ngay cả động vật cũng đều không làm, thì làm sao mà vạn vật chi linh như chúng ta lại làm như vậy? Bao gồm cả lịch sử lâu dài 5.000 năm, một triều đại nào mà có trường hợp giết hại cha mẹ thì đã thật sự là kinh thiên động địa rồi. Hiện tại không có truyền thừa văn hóa, nên việc giết cha hại mẹ thường nghe xảy ra. Cho nên, nếu nhân - lễ - nghĩa - trí - tín không tiếp tục được truyền thừa thì cả dân tộc sẽ không có tương lai.

“Nghĩa” là đạo nghĩa, không thể thấy lợi mà quên nghĩa. Hiện tại, vợ chồng chưa kết hôn thì tài sản đã phải đem đi công chứng rồi, phải phân ra rõ ràng. Vợ chồng kết hợp mà lại không xem trọng đạo nghĩa thì gia đạo này làm sao truyền lại đây. Cho nên, nhìn thấy hiện trạng hiện nay nếu chúng ta vẫn còn có tâm từ bi, còn có tâm trách nhiệm, chân thật không có sự việc nào quan trọng hơn việc giáo dục và truyền thừa văn hóa. Lắng lòng suy nghĩ tất cả vấn đề của gia đình hiện nay, vấn đề xã hội, sự xung đột giữa các quốc gia, nếu dùng phương pháp khác thì sẽ rất khó giải quyết. Bạn dùng kinh tế, dùng quân sự, dùng chính trị, dường như càng ngày càng phức tạp thêm, xung đột càng ngày càng nghiêm trọng. Duy chỉ có giáo dục mới có thể thay đổi nhân tâm, mới có thể loại trừ được tự tư tự lợi, mới có thể biết suy nghĩ cho người khác, sự xung đột này mới có thể giải quyết. Cho nên, thiên tai cũng vậy, nhân họa cũng vậy, vấn đề căn bản của nó là ở nhân tâm. Việc này thì những câu Kinh được tuyển chọn từ trong “Quần Thư Trị Yếu” đều nói được một cách thấu triệt.

Như “Thượng Thư” là một triết học về chính trị sớm nhất. Trong Thượng Thư có nói: “Làm thiện giáng trăm điều may mắn, làm bất thiện giáng trăm điều tai ương”. Một câu này không phải đã đem vấn đề thiên tai nói thấu triệt rồi hay sao? Hiện nay, con người nhiều tai họa như vậy, trong “Thượng Thư” lại nói: “Trời giáng họa còn có thể tránh, tự gây họa thì không thể sống”. Thân thể của chúng ta, ngôn ngữ của chúng ta, thậm chí là ý niệm, khởi tâm động niệm của chúng ta mỗi ngày đều là đang tạo tội tạo nghiệp, vậy thì làm sao có thể nói cuộc đời sẽ được thuận lợi, được hạnh phúc, được may mắn. Điều này là không thể nào!

Nhưng bạn xem, hiện tại các vị hỏi sinh viên tốt nghiệp ra trường: “Bạn đã tốt nghiệp đại học rồi, sự việc bạn mong muốn làm nhất là gì?”, họ có nói tôi rốt cuộc cũng có thể vì xã hội này mà cống hiến một phần sức lực rồi hay không? Họ có nói tôi rốt cuộc có thể hành thiện tích đức rồi hay không? Những sinh viên này họ sẽ nói: “Tôi muốn làm sao để có thể mau chóng kiếm được thật nhiều tiền, tôi muốn dùng tiền vào việc gì đó”. Giống như một điều tra trong một trường đại học với hơn 10.000 sinh viên, hỏi xem họ cảm thấy sự việc quan trọng nhất cuộc đời là gì. Dường như không quá mười người nói: “Sự việc quan trọng nhất là hiếu thuận”. “Trăm thiện hiếu làm đầu”, việc này đã truyền được 5.000 năm rồi. Khi đến thời đại này của chúng ta, học tập hơn mười năm mà ngay cả sự việc quan trọng nhất của cuộc đời cũng không biết. Hiện tượng này đáng để cho những người làm cha, làm mẹ, làm thầy, làm bậc trưởng bối như chúng ta phải cẩn thận suy nghĩ cái gì mới là giáo dục chân chánh.

“Trưởng thiện cứu thất” mới là giáo dục.

Mọi người có cơ hội hãy đến Hồng Thôn, Tây Đệ, Giang Tây, Trung Quốc, những nơi này đều có dấu tích cổ xưa. Những kiến trúc ở đó đều là kiến trúc truyền thống. Bước ra cổng thì trên tường có điêu khắc một chiếc quạt, ý nghĩa là gì? Tất cả mọi người ra khỏi nhà nhớ phải làm những việc gì? Là hành thiện. Trong tiếng Hoa thì cái quạt phát âm giống như chữ hành thiện. Đương nhiên khi quạt sẽ cảm thấy rất mát mẻ, ý nghĩa là ra khỏi nhà phải làm cho người khác như được tắm gió xuân, phải “dĩ hòa vi quý”. Truyền được 5.000 năm, nhà nhà đều là như vậy. Trên bức tường ở cửa thì trang hoàng như thế nào? Là Mai - Lan - Trúc - Cúc. Đây là xem trọng đức hạnh. Mai - Lan - Trúc - Cúc là bốn người quân tử, khi ra ngoài phải giao du với bạn bè có đức hạnh. Ba loại bạn tốt giúp ích được cho ta đó là: người thẳng thắn, người bao dung và người nghe biết rộng. Những giáo huấn này đều được thể hiện trong phần kiến trúc của chúng ta.

Sư trưởng đã thấy được hiện tượng xã hội ngày nay, đã ra sức kêu gọi, đặc biệt là những học trò như chúng ta phải lấy chí thầy làm chí của mình, như vậy thì Sư trưởng mới thật sự có được đệ tử Thánh Hiền, nếu không thì sẽ là con cháu kém cỏi. Phải lấy chí của thầy làm chí của mình. Cho nên, việc cứu vãn văn hóa của dân tộc là rất quan trọng. Việc này không chỉ Sư trưởng dốc sức đề xướng, mà cả đất nước, chính phủ đã hiệu triệu nhân dân cả nước cùng nhau phát huy văn hóa truyền thống, phát huy tinh thần cùng nhau xây dựng quê hương đất nước. Vả lại, cũng định vị việc đất nước mạnh về văn hóa. Việc này rất quan trọng. Một đất nước có kinh tế mạnh mà không có văn hóa thì xã hội sẽ biến chất đi xuống càng nhanh, gọi là: “Họa phước như hình với bóng”. Có tiền mà không có đức thì người ta có thể sẽ làm ra rất nhiều sự việc trái với lương tâm. Cho nên, rất nhiều gia đình không có tiền thì trong nhà còn có thể an định, đột nhiên phất lên mà người nam lại không có đức, cả gia đình đó liền bị phá hoại mất. Lão Tử đã nhắc nhở: “Họa phước tương ỷ”, “đức giả, bổn dã; tài giả, mạt dã”. Đây là giáo huấn ở trong quyển “Đại Học”. Cho nên, nếu đất nước xem trọng đức thì đây là nắm được căn bản.

Vả lại, phải nâng cao toàn diện sự tự tin về văn hóa của toàn dân tộc, phải có lòng tin. Bạn không thể cứ cảm thấy mặt trăng ở nước ngoài thì sáng và tròn hơn, một mực muốn phương Tây hóa. Mà trong quá trình phương Tây hóa đó cũng không học được tinh hoa của nó, đều là chủ nghĩa công lợi, học đã bị sai lệch rồi. Vả lại, sở trường của phương Tây là gì? Tôn Trung Sơn đã nhìn thấy rất rõ, sở trường của phương Tây là máy móc, là khoa học kỹ thuật. Những thứ khác thì đều phải học từ phương Đông. Kết quả, quan niệm tư tưởng hiện tại của chúng ta, giá trị quan toàn bộ đều học chủ nghĩa công lợi này, cho nên một - hai thế hệ gần đây đã biến chất rất nhanh. Vì vậy, lòng tự tin văn hóa rất quan trọng. Tự giác văn hóa phải được thức tỉnh trở lại. Quý trọng văn hóa của chính mình, phát huy văn hóa của chính mình, tiếp đến văn hóa phải tự cường, phải khiến cho văn hóa sau khi được kế thừa càng thêm phát dương quang đại.

Nhà nước cũng nhấn mạnh việc xem trọng đội ngũ giáo viên, thúc đẩy văn hóa. “Nhân tồn chính cử”, phải có người đi thực hiện, phải có người đi hoằng dương. Chúng ta tin tưởng là dưới sự ra sức đề xướng này của Trung ương thì các địa phương cũng sẽ xem trọng việc truyền thừa văn hóa và bồi dưỡng nhân tài. Các kiều bào ở Malaysia cũng rất hưởng ứng lời hiệu triệu này. Chúng ta nơi này cũng đã học tập rất tốt, về sau nếu có cơ duyên thì trở về nước để phụng hiến tâm sức. Vả lại ở Malaysia, đặc biệt là công tác thúc đẩy văn hóa truyền thống đã làm được rất tích cực, rất có thành tích. Tất cả Hiệu trưởng, công nhân viên chức thúc đẩy “Đệ Tử Quy”, thúc đẩy giáo dục đức hạnh trong 984 Trường Tiểu học Hoa Ngữ. Người Hoa trên toàn thế giới chỉ có người ở Malaysia này làm được. Chỉ tính học sinh tiểu học thì cũng năm - sáu trăm nghìn người. Thế hệ này đều được học qua “Đệ Tử Quy”. Về sau, chúng sẽ có cùng chung giá trị quan. Điều này đối với việc chăm lo cho gia đình của chúng về sau, việc chăm lo sự nghiệp ở trong đoàn thể đều sẽ có tiêu chuẩn chính xác, đều có chuẩn mực của việc làm người. Được như vậy, tôi tin cũng sẽ đem lại sự khai thị rất lớn cho người khác ở trên toàn thế giới. Đất nước cũng đang rất quan tâm. Hiệu trưởng Lý Kim Hoa của chúng ta chính là người có công lao lớn nhất trong việc thúc đẩy “Đệ Tử Quy” trong các Trường Tiểu học Hoa ngữ, cho nên nhà nước đã ban tặng bằng khen “Cống hiến giáo dục trọn đời”. Sau đó, còn mời ông đi phỏng vấn và thăm viếng rất nhiều danh thắng cảnh. Việc này có nghĩa là nhà nước rất xem trọng, cũng là khẳng định sự cống hiến của văn hóa truyền thống đối với mọi người trên thế giới. Đây đúng là việc tốt. Cho nên, việc lớn đệ nhất này chúng ta mỗi một người đều phải nên gánh vác.

“Quần Thư Trị Yếu” này được biên soạn vào thời nhà Đường, lát nữa trong phần lời tựa, chúng tôi sẽ giải thích tường tận hơn với các vị, sẽ giảng giải rõ hơn.

Việc trọng đại thứ hai là giúp đỡ thế giới hóa giải tai nạn.

Hiện tại, các nhà khoa học vẫn đang thảo luận trái đất có còn sinh tồn được nữa không? Hiện tại, nguy cơ lớn nhất của thế giới là ở đâu? Ở khủng hoảng lòng tin. Con người không còn tin tưởng đối với luân lý đạo đức, đối với những giáo huấn về nhân quả, nhân tâm liền biến chất nhanh chóng, cảm chiêu đến những tai nạn. Cho nên, phương Đông không xem trọng những giáo dục của Thánh Hiền, phương Tây lơ là đối với giáo huấn trong Kinh điển các tôn giáo, đây mới chính là căn nguyên của tai họa. Muốn khôi phục lại lòng tin của con người trên thế giới này đối với luân lý đạo đức, đối với giáo huấn của Thánh Hiền thì phải có người làm ra tấm gương.

Vào năm 2005, Sư trưởng đã thành lập một Trung tâm Giáo dục Văn hóa ở quê nhà Lô Giang, dùng bộ Kinh điển “Đệ Tử Quy” này phát huy tại thị trấn Thang Trì với 48.000 người. Trong vài tháng ngắn ngủi mà nhân tâm đã có sự thay đổi rất lớn. Cho nên, chân thật là con người đều có thể dạy trở nên tốt. Tỷ lệ ly hôn vốn rất cao, sau đó đã giảm xuống nhanh chóng, thời gian chỉ khoảng một năm mà dường như giảm được một nửa. Nhưng trong số những người ly hôn không có người nào ở tại thị trấn, đều là những người đi xa làm việc, bên ngoài có mê hoặc. Người ở tại thị trấn đã nghe giảng qua rồi, không có cặp vợ chồng nào ly hôn. Đây đều là chứng minh “nhân chi sơ tánh bổn thiện”, con người đều có tình nghĩa và có đạo nghĩa. Phải có người nhắc nhở, phải có người dạy. Sau cùng, cũng có tổ tiên phù hộ. Nhờ thành quả dạy học ở tiểu trấn này mà năm 2006, tổ chức UNESCO của Liên Hiệp Quốc đã chia sẻ với 192 quốc gia trên toàn thế giới. Những đại biểu của các quốc gia này đều là những người theo đuổi sự nghiệp thế giới hòa bình trong thời gian dài. Xem thấy chân thật có thể thông qua luân lý đạo đức để cải thiện lối sống của xã hội, rất nhiều đại biểu đều muốn đến Thang Trì học tập. Dường như cũng có mười mấy vị đại biểu đã cùng nhau đến Thang Trì để quan sát thực tế. Cho nên, chúng ta thấy được cả thế giới đều đang tìm phương pháp tốt nhất để hóa giải tai nạn. Cho nên, một thị trấn nhỏ làm tấm gương thì sẽ làm cho những người có duyên sanh khởi lòng tin.

Hiện tại, giả như bắt đầu từ chúng ta làm tấm gương, thì sẽ có thể dẫn dắt sự tín nhiệm luân lý đạo đức cho người toàn thế giới. Thâm nhập giáo dục luân lý đạo đức, trên thực tế, ông trời đã cho chúng ta và kiều bào trên cả thế giới một sứ mệnh thời đại, chính là để cứu vãn kiếp nạn của thế giới. Đây không phải là tôi nói. Giả như mọi người vừa nghe xong liền nói: “Đó là cách nhìn của cá nhân anh”. Tôi nói thì có được tác dụng gì. Đây là vào những năm 1970, Giáo sư Thang Ân Tỷ (Arnold Joseph Toynbee) người nước Anh, nhà triết học được công nhận trong lịch sử vào thời đại khi đó của phương Tây, là người có học vấn chân thật đã nêu ra: “Để giải quyết vấn đề xã hội của thế kỷ 21 thì chỉ có học thuyết Khổng - Mạnh và Phật pháp Đại Thừa”. Chỉ có nhờ vào học thuyết Khổng - Mạnh và Phật pháp Đại Thừa, có nghĩa là chỉ cần có thể dựa vào sự giáo huấn của văn hóa truyền thống chỉ ra cho cả thế giới một con đường thênh thang sáng lạn.

Học thuyết Khổng - Mạnh và Phật pháp Đại Thừa nằm ở đâu? Chỉ cần được đọc qua Kinh điển và hiểu được những giáo huấn ở trong đó. Câu nói này của Thang Ân Tỷ (Arnold Joseph Toynbee) cũng có nghĩa là nói chúng ta có bảo vật có thể cứu thế giới. Tuy có bảo vật cứu thế mà vẫn khoanh tay đứng nhìn, đây gọi là thấy chết mà không cứu. “Kiến nghĩa bất vi, vô dũng dã”, thấy chết mà không cứu thì chính là tạo tội nghiệp. Vua Diêm La sẽ ghi chép lại tội trạng đó, cuộc đời này của chúng ta liền trở nên như gỗ đá. Chúng ta ở trong thời đại này, “đương kim chi thế, xả ngã, kỳ thùy dã”, bất luận là vì dân tộc hay là vì thế giới, đều phải nên gánh vác trách nhiệm này.

Chúng ta muốn gánh vác, chúng ta cũng phải có được nền tảng đức hạnh, phải có nền tảng văn ngôn văn. Cho nên, chúng ta từ tháng năm năm ngoái đã bắt đầu cùng nhau học tập cổ văn, văn ngôn văn, đã học được mấy chục bài rồi. Từ nay về sau, chúng ta đem “Quần Thư Trị Yếu” làm chủ đạo trong nội dung học tập cổ văn. Đó là cùng lúc học cổ văn, cùng lúc xây dựng nền tảng đức hạnh, cùng lúc nắm được học vấn về tu thân - tề gia - trị quốc - bình thiên hạ.

Trước khi chúng ta bắt đầu 360 câu này, đầu tiên hãy xem lời tựa mà Sư trưởng đã viết cho bộ sách này. Chúng ta hiện nay mang một sứ mạng đối với dân tộc, đối với thế giới, lấy cái chí nguyện như vậy để học những giáo huấn này. Kỳ thực, một người học Kinh điển tiếp thu sâu hay cạn tỷ lệ thuận với chí hướng của họ. Họ không có chí hướng gì, vừa nghe xong một câu chuyện thì quên rồi, không tiếp nhận được gì. Giả như mang thiên hạ ở trong lòng thì câu câu đều sẽ in ở trong lòng mà không quên mất, gọi là: “Một phần thành kính thì được một phần lợi ích, mười phần thành kính thì được mười phần lợi ích”.

Phần lời tựa vừa bắt đầu nói: ““Quần Thư Trị Yếu” thị Đường Thái Tông - Lý Thế Dân ư trinh quán sơ niên hạ lệnh biên tập”. Chữ “trinh quán” này là niên hiệu của Hoàng đế Thái Tông, do Hoàng đế đã hạ lệnh biên soạn ra. Nhất định nhận được sự xem trọng của đại thần, thậm chí là nhân dân cả nước.

“Thái Tông thập lục tuế tùy phụ tòng quân”, khi còn rất trẻ thì đã đi theo cha khởi nghĩa vào thời đại đó. “Khởi nghĩa bình định động loạn đích xã hội”. Vả lại, sự động loạn này tương đối dài, kéo dài từ những năm cuối triều Hán, Ngụy Tấn Nam Bắc đến Triều nhà Tùy. Việc động loạn này tương đương thời gian một - hai trăm năm. Thời gian của những triều đại này đều rất ngắn. Chúng ta có thể tưởng tượng được trong một - hai trăm năm này, con người cũng là lưu lạc rày đây mai đó, lão bá tánh vô cùng khốn khổ.

“Nhung mã không tổng thập dư niên”. Đánh nhau kéo dài hơn mười mấy năm, cuối cùng thiên hạ đã được định, xây dựng triều Đường. Cho nên, Thái Tông là:“Nhị thập thất tuế tức đế vị hậu”, hai mươi bảy tuổi đăng cơ.

Tiếp đến: “Yển vũ tu văn”. “Yển vũ” chính là đánh nhau nhiều năm. Từ sau thời mạt Hán thì cả xã hội đều rối loạn bất an. Lão bá tánh nhất định vô cùng căm ghét những chiến tranh loạn lạc này, không còn dễ dàng gây nên động loạn nữa. “Tu văn” là xem trọng việc dạy văn, chế lễ tác nhạc giáo hóa lão bá tánh. Kỳ thực, lão bá tánh hiểu được đạo lý làm người thì họ sẽ biết tu thân tề gia, biết xem trọng sự tu dưỡng. Mỗi một người có tu dưỡng, mỗi một gia đình đều biết phải chăm lo như thế nào để gia đình được an định, xã hội cũng được an định. Cho nên “yển vũ tu văn” cũng có nghĩa là cùng với lão bá tánh phục hồi và phát triển kinh tế, trải qua những ngày tháng yên bình.

Để dẫn dắt lão bá tánh thì vua phải có trí huệ. Lão bá tánh đều theo cùng thiên tử, đều tuân theo sự lãnh đạo của đất nước. Cho nên: “Đặc biệt lưu tâm ư trị bình chi đạo, hưu sanh dưỡng dân”. Chữ “trị bình chi đạo” này chính là đạo lý trị quốc, bình thiên hạ. Bởi vì Hoàng đế Thái Tông khi còn trẻ đã đánh trận, cho nên đối với việc dùng giáo huấn Thánh Hiền để trị lý thiên hạ như thế nào, ông tương đối tích lũy chưa đủ. Cho nên, sau khi ông đăng cơ chưa được bao lâu thì hạ lệnh biên soạn, từ trong số lượng lớn sách rút kết ra tinh hoa về tề gia - trị quốc - bình thiên hạ. Có thể nhìn thấy được tấm lòng yêu dân này của Hoàng đế Thái Tông, hy vọng mau mau khiến cho lão bá tánh được sống ngày tháng tốt lành. Tiếp đến, cũng là một người tự biết mình, tự mình biết rõ khuyết điểm của mình. Điểm này thật không dễ dàng.

Chúng ta xem trong lịch sử mấy nghìn năm, rất nhiều nhà lãnh đạo, rất nhiều vua chúa làm được một hai việc tốt thì tự cho mình rất giỏi, liền ngạo mạn, cảm thấy mình còn lợi hại hơn cả những cổ Thánh tiên Vương ngày trước. Rốt cuộc thì những quốc gia như vậy đều suy bại, thậm chí diệt vong. Bạn xem “Tùy Văn đế” triều nhà Tùy, ông cảm thấy mình chính là người đã chấm dứt được sự phân chia của Ngụy Tấn nam bắc triều, tự đánh giá mình quá cao, những người cấp dưới đều khuyên không được, nghe lời xàm tấu nên đã truất ngôi thái tử, thay đổi sang một người con khác là Tùy Dạng Đế, thế là sụp đổ. Cho nên “Ngạo bất khả trưởng”, ngạo mạn vừa khởi, điềm xấu đã lộ ra. Người có khả năng tự biết mình, đây là chỗ đáng quý của Thái Tông Hoàng đế.

Chúng ta xem đoạn thứ hai: “Thái Tông anh võ thiện biện”. Võ công cao cường, suy nghĩ cũng rất nhanh lẹ, rất biết phán đoán, cầm quân đánh giặc, đối diện với tình huống thiên biến vạn hóa đều đưa ra được những quyết sách nhìn xa trông rộng. “Di hận tảo niên tùng quân”, tự mình cảm thấy đọc sách học hành chưa đủ, cho nên ông cảm thấy rất nuối tiếc. “Giám ư tiền tùy diệt vong chi thất, thâm tri sáng nghiệp bất dị thủ thành duy gian”. Chân thật triều Tùy hơn ba mươi năm thì diệt vong, cũng rất ngắn ngủi. Người xưa đặc biệt xem trọng lịch sử, bởi vì lịch sử cũng giống như một tấm gương, xem quá khứ có thể đoán biết được tương lai, để có thể không dẫm lên vết xe đổ. Như triều Chu, trước họ là triều Ân, triều Thương. Cho nên “Ân giám bất viễn”. Kinh nghiệm đau thương của triều Thương cách chúng ta có xa hay không? Chúng ta nên lấy đó làm gương, không thể lơ là thêm nữa, không thể tiếp tục phạm phải vấn đề như vậy nữa. Sâu sắc thể hội được việc sáng nghiệp là không dễ dàng, giữ gìn thì càng gian nan hơn.

Chúng ta trước đây đã cùng nhau học tập qua “Gián Thái Tông thập tư sớ”, trong đó có nhắc đến có thể giữ gìn được sự nghiệp lâu dài thì không nhiều. Vì sao vậy? Vì hưởng phước trong việc giữ vững thành tựu. Con người mà hưởng phước thì cái tâm thái này đã sai rồi, nếp sống của cả xã hội sẽ khác đi.

Trong “Thập Tư Sớ” nói: “Kiệt thành tắc hồ việt vi nhất thể”. Khi sáng nghiệp thì mọi người đồng tâm đồng lực, vì nước vì dân, ngay cả không cùng chủng tộc cũng có thể đoàn kết lại với nhau. “Ngạo vật tất cốt nhục vi hành lộ”. Vừa lên nắm quyền thì liền hưởng phước, tâm ngạo mạn đã nổi lên, không tôn trọng đại thần, nô dịch bá tánh, sau cùng ngay cả cốt nhục chí thân cũng xem như người xa lạ. Cho nên “Thủ thành duy nan”, việc khó khăn nhất chính là giữ lấy được đức hạnh của một người lãnh đạo. Thuận cảnh khó tu hơn nghịch cảnh; nghịch cảnh là rèn luyện cho con người, thuận cảnh là đào thải con người. Không có cảnh giác một cách cao độ thì rất khó mà không bị biến chất khi ở trong quyền quý.

Cho nên, chúng ta thấy trong “Hiếu Kinh”, Chư Hậu Chương nói: “Chiến chiến căng căng, nô lâm thâm uyên như lữ bạc băng”“Tại vị kỳ gian cổ lịch quần thần tiến gián”, chủ động dẫn dắt, khích lệ quần thần khuyên can họ. Đây là một người làm vua có một tấm lòng rất hiếm có, có thể tiếp nhận lời khuyên, thậm chí có thể yêu cầu đại thần khuyên can. Đương nhiên, khi chúng ta nói đến khí phách của Đường Thái Tông, chúng ta ở tại gia đình, trong đoàn thể, thân là một người lãnh đạo thì cũng phải học theo hiền tài. “Cổ lịch quần thần kiến gián” mà còn “phê bình kỳ quyết sách quá thất”, đem những chỗ không thỏa đáng, chỗ sai lầm mà chỉ ra. Vì sao vậy? Một quyết sách sai lầm sẽ ảnh hưởng đến nghìn nghìn vạn vạn lão bá tánh. Thiên tử là đại diện cho ông trời thương yêu con dân thì làm sao nhẫn tâm bởi vì sai xót của chính mình mà để cho nhân dân chịu khổ. Cho nên, giữ gìn cái đã có thật không dễ. Không chỉ mong muốn quần thần cho ông lời khuyên gián, mà cũng mong muốn cổ Thánh tiên Vương từ trong lịch sử đạt được sự giáo huấn quý báu để nhắc nhở chính mình. Cho nên việc tiếp nhận lời khuyên gián này, không những tiếp nhận lời của đại thần khi đó mà cũng tiếp nhận lời của cổ Thánh tiên Vương và cả lịch đại trung thần đã để lại những lời giáo huấn, những tấm gương ấy để thúc giục chính mình. Việc này rất đáng quý.

“Lệnh gián quan Ngụy Trưng cập Ngu Thế Nam đẳng, chỉnh lý lịch đại đế vương trị quốc tư chính sử liệu, hiệt thủ lục kinh tứ sử, chư tử bách gia trung, hữu quan tu thân - tề gia - trị quốc - bình thiên hạ chi tinh yếu, hội biên thành thư”. Vì vậy, nội dung của nó bao hàm Lục Kinh, Tứ Sử, Bách Gia Chư Tử. Tứ Sử này đương nhiên là “Sử Ký”. “Sử Ký” cũng là ghi chép lại từ Hoàng đế mãi cho đến Triều Hán. Lịch sử lâu dài như vậy. “Sử Ký”, “Hán Thư”, “Hậu Hán Thư”, “Tam Quốc Chí” và cả “Bách Gia Chư Tử”, đặc biệt là “Bách Gia Tranh Minh” trong thời Xuân Thu Chiến Quốc đã lưu lại di sản văn hóa vô cùng quý báu. Từ trong Kinh - Sử - Tử chọn ra những tinh yếu tương ứng với tu thân - tề gia - trị quốc - bình thiên hạ biên soạn thành sách.

“Thượng Thủy Ngũ Đế”, trong lịch sử này từ Ngũ Đế bắt đầu, “Hạ ngật Tấn đại”. Trong mấy nghìn năm lịch sử: “Tự nhất vạn tứ thiên đa bộ bát vạn cửu thiên đa quyển cổ tịch trung, bác thái điển tịch lục thập ngũ chủng, cộng ngũ thập dư vạn ngôn”. Chúng ta xem đến chỗ này, thật sự trước khi đọc “Quần Thư Trị Yếu” phải đảnh lễ những Thánh Hiền nhân trong tất cả Kinh - Sử - Tử tam bái, và cũng đảnh lễ tam bái đối với những đại thần đã biên soạn ra “Quần Thư Trị Yếu”, bao gồm cả việc cảm tạ đối với Thái Tông Hoàng đế. “Thành tất linh”, mỗi ngày cung kính lễ bái những Thánh nhân này thì rõ ràng là họ sẽ bảo hộ cho bạn, đặc biệt có thể tương ứng với những giáo huấn này.

Mọi người nghĩ xem, hơn 1.400 quyển sách để ở trước mặt chúng ta thì chắc không biết nên xem từ quyển nào trước. Vả lại, trình độ của chúng ta chỉ xem đã khó khăn, mà chọn từ trong 89.000 quyển sách, 65 bộ sách ra 50 cuốn, 500.000 từ, đều là người có học vấn nhất của thời đó cùng đến để lựa chọn ra. Cho nên, tùy vào sự thâm nhập của chúng ta với “Quần Thư Trị Yếu”, thật sự là bội phục năm vóc sát đất đối với những vị đại thần này.

Đoạn phía sau nói: “Thư thành”, nghĩa là sách này đã được biên soạn thành rồi. “Như Ngụy Trưng ư tự văn trung sở thuyết”. “Quần Thư Trị Yếu” này khi đó biên soạn xong thì lời tựa là do Ngụy Trưng đại nhân viết ra. Lát nữa đây chúng ta cũng sẽ cùng nhau học tập về đoạn lời tựa này của ông.

Trong đoạn văn đó ông nói: “Thực vi nhất bộ, dụng chi đương kim, túc dĩ giám lãm tiền cổ, truyền chi lai diệp, khả dĩ di quyết tôn mưu đích trị thế bảo điển”. Ngụy đại nhân đã nói bộ sách này, thực tại mà nói là dùng cho xã hội, tại thời điểm đó có thể là “Giám lãm tiền cổ”, chính là có thể dùng những kinh nghiệm trí huệ của người xưa để chăm lo cho cuộc đời chính mình. Đặc biệt họ là những người làm về chính trị thì có thể giảm thiểu được việc phải đi những con đường vòng, có thể có được nhiều tấm gương để noi theo, có thể nắm được những trí huệ chính trị từ thời Ngũ Đế đến đời nhà Tấn. “Truyền chi lai diệp”, nghĩa là truyền đến đời hậu thế là có thể “di quyết tôn mưu”. Chữ “di” này có nghĩa là “để lại”, truyền lại, có thể ân trạch cho đời sau. Chữ “tôn mưu” này chính là con cháu đời sau có thể chăm lo tốt cho nhân sinh hạnh phúc của mình. “Mưu” ở đây chính là làm sao để mưu cầu cuộc sống hạnh phúc cho chúng. Bởi vì trong bộ sách này đều là học vấn về tu thân - tề gia - trị quốc - bình thiên hạ, đối với việc đời sau chúng chăm lo gia đình của mình, thậm chí có cơ hội để bước ra mưu cầu hạnh phúc lợi ích cho nhân dân đều có thể dựa vào bộ sách này mà có được khải thị quý báu. Cho nên chân thật là một bảo điển trị thế, xem quá khứ biết tương lai.

“Thái Tông hỷ kỳ quảng bác nhi thiết yếu”. Thái Tông Hoàng đế vô cùng yêu thích. Nó hàm chứa những đạo đức học vấn rất quảng bác. Vả lại, những điều được lựa chọn ra đều là bộ phận vô cùng tinh túy, thiết yếu. Việc này nếu như chưa thật sự đọc thông những giáo huấn của Kinh - Sử - Tử thì cũng rất khó có thể lựa chọn ra được tinh túy và chuẩn xác. Mà Thái Tông Hoàng đế “nhật nhật thủ bất thích quyển”, mỗi ngày hễ có thời gian là tranh thủ giở ra xem, mong muốn bản thân sớm ngày có được trí huệ để chăm lo cho chính trị, thì lão bá tánh sẽ sớm ngày được lợi ích.

Chúng ta nhìn thấy Thái Tông Hoàng đế học tập không quản gian lao như vậy đều bởi vì ông có một động lực căn bản, chính là yêu thương nhân dân. Hiện tại “Quần Thư Trị Yếu” cũng đã đến được tay của chúng ta rồi, vậy chúng ta ngày ngày tay không rời sách để thâm nhập “Quần Thư Trị Yếu” có được hay không? Mọi người cười là có ý gì vậy? Nếu như không thể thì chính là lòng từ bi không đủ, bạn không có sứ mệnh cảm, được ngày nào hay ngày đó. Cho nên chúng ta bình tĩnh quan sát, một người ở thời điểm nào thì trưởng thành nhanh nhất? Chính là lúc người đó có sứ mệnh cảm. Rất nhiều phụ nữ trẻ tuổi sinh con, không có ai dạy, họ đi mua một đống sách dạy con đem về ra sức xem, sợ dạy con sai. Đây là tình yêu của người mẹ. Hễ có lòng yêu thương thì họ sẽ có động lực dồi dào.

Đến trường dạy học, ai là người đốc thúc thầy cô dụng công đọc sách? Đều là phải tự mình chủ động. Không chỉ là học tập trên sách vở, mà còn học tập kinh nghiệm của những người dạy học đi trước. Chúng tôi nhìn thấy những giáo viên trẻ trong trường học đều chủ động tích cực như vậy. Khi nói chuyện với họ, họ nói sợ dạy sai cho học trò, sợ làm lỡ cơ hội người khác. Họ sớm ngày kế thừa được kinh nghiệm thì học sinh sẽ sớm ngày được lợi ích. Cho nên: “Từ bi vi bổn”, động lực ở từ bi; “Phương tiện vi môn”, phải lợi ích cho tha nhân, đặt mình vào người khác, thiện xảo phương tiện.

Thái Tông Hoàng đế tiếp nhận những trí huệ trong các Kinh điển này của cổ Thánh tiên Vương cũng phải tùy theo tình hình mà vận dụng vào. Cho nên Thái Tông Hoàng đế nói: “Viết sứ ngã kê cổ lâm sự bất dụ giả, khanh đẳng lực dã”. Thái Tông đã nói chữ “kê” này có nghĩa là khảo sát. Ông mỗi lần đối diện với sự việc đều có thể dựa vào kinh nghiệm, trí huệ trong mấy nghìn năm lịch sử để phán đoán, để đưa ra quyết sách. Ông sẽ không bị mê hoặc, ông cũng ứng đối được chắc chắn.

Chúng ta hiện tại đừng nói đến trị quốc, bản thân mỗi ngày đối nhân xử thế cũng không biết phải dùng lời lẽ như thế nào để nói. Ngay cả ứng đối tiến thoái có lúc cũng không biết gì. Nguyên nhân là gì? Chúng ta đã đọc lịch sử quá ít. Đọc lịch sử trưởng dưỡng kiến thức. Đọc Kinh điển thì mới có thể quán thông nghĩa lý. Không chỉ phải hiểu nghĩa lý mà còn phải tăng trưởng kiến thức, cho nên nói: “Đọc vạn quyển sách đi vạn dặm đường”. Trong cuộc đời này của chúng ta có bao nhiêu lần đến xin cha mẹ chỉ dạy kinh nghiệm làm người? Bản thân đến đơn vị công ty đã từng bao nhiêu lần chủ động học tập kinh nghiệm cuộc đời với chủ quản? Bản thân có bao nhiêu lần chủ động trong lịch sử văn hóa dân tộc đúc kết ra được kinh nghiệm? “Hiếu học cận hồ tri”, không chủ động cầu học thì rất khó có trí huệ, liền biến thành chỉ có thể mê hoặc mà không thể bất hoặc. Mọi người thật sự hạ công phu vào trong “Quần Thư Trị Yếu” đảm bảo cũng sẽ giống như Thái Tông đã nói. Theo kinh nghiệm người xưa thì đối diện với sự việc sẽ không bị mê hoặc.

Thái Tông nói câu nói này là tấm lòng biết ơn: “khanh đẳng lực dã”. Việc này rất đáng quý! Ông thân là Hoàng đế, Thiên tử mà vẫn có thể thời thời nhớ nghĩ đến ân đức của thần tử, việc này thật sự không dễ dàng. Thường giữ cái tâm cảm ơn này, đặc biệt là Thái Tông Hoàng đế thường hay tán thán Ngụy Trưng đại nhân trước mặt các quần thần, cảm thấy Ngụy đại nhân giống như thầy của mình vậy. Cả quá trình “Trinh Quán thịnh thế”, ông đều quy về công lao từ sự khuyên gián của Ngụy đại nhân. Cho nên tính cách, nhân cách của Thái Tông Hoàng đế thật vô cùng đáng kính đáng yêu.

“Do thị nhi tri, trinh quán chi trị đích thái bình thịnh huống, thử thư cống hiến đại hỷ”. Có thể thành tựu một cái thịnh thế là kết quả, nguyên nhân là ở thiên tử có tư tưởng chính xác, có trí huệ về chính trị chính xác. Từ trong bộ sách này thừa truyền lại. “Thành vi tùng chính giả tất độc chi bảo điển”. Thực tại, người làm công việc chính trị nhất định phải đọc quyển bảo điển này.

Lần này, Sư trưởng khi gặp mặt Thủ tướng nhiệm kỳ trước của Malaysia – ông Mahathir, nói đến bộ sách quý này thì ông Mahathir liền nói: “Tôi cũng muốn học”. Các vị xem, một vị trưởng giả tám mươi bảy tuổi rồi mà còn hiếu học đến như vậy! Ông cũng hy vọng học được trí tuệ về chính trị từ trong bộ sách này để có thể làm lợi ích cho đất nước của chính mình. Tinh thần ham học này rất đáng để cho chúng ta noi theo. Cho nên, Sư trưởng cũng hy vọng chúng ta có thể đem “Quần Thư Trị Yếu 360” dịch ra tiếng Anh, cung cấp cho những người làm chính trị ở các nước trên thế giới thâm nhập vào trí tuệ chính trị này của người xưa. Văn hóa truyền thống không phải chỉ thuộc về người Trung Hoa. Tổ tiên và những Thánh Hiền nhân đời trước có tấm lòng rất rộng lớn, chúng là thuộc về cả nhân loại. Không chỉ là người làm chính trị mới cần phải đọc, mà cả những người làm cha mẹ cũng phải nên đọc, làm thầy cô cũng nên đọc, là lãnh đạo trong các đoàn thể công ty xí nghiệp cũng phải đọc bộ bảo điển này. Đây đều là học vấn về “tu thân - tề gia - trị quốc - bình thiên hạ”. Mỗi một gia đình, mỗi một đoàn thể, nhỏ đến gia đình, lớn đến quốc gia thiên hạ đều cần thiết. Vả lại, chúng ta phải hiểu được, triều Đường cách triều Hán mấy trăm năm lịch sử, trước đó lại trải qua sự động loạn của Ngụy Tấn Nam Bắc triều và triều Đường, trải qua một - hai trăm năm động loạn, chúng ta suy nghĩ phải cần đến bao nhiêu thời gian để thiên hạ được đại trị? Sự thật đã chứng minh thời gian Trinh Quán của Thái Tông Hoàng đế chưa bao nhiêu năm mà cả đất nước đã được an định, thịnh thế. Cho nên có thể hiểu được, chỉ cần làm tốt giáo dục, chỉ cần áp dụng đúng các chính sách chính trị này thì lòng dân sẽ tiếp nhận sự giáo hóa này rất nhanh, thiên hạ liền an định, không cần phải tốn thời gian dài. Cho nên, đó là lý do vì sao những giáo huấn này là bảo vật, nó có thể thay đổi vận mệnh con người rất nhanh, thay đổi vận mạng của quốc gia và đoàn thể.

Trong “Trung Dung” có nói: “Nhân tồn chính cử”. Người có trí huệ nắm quyền, nếp sống của cả xã hội sẽ thay đổi rất nhanh. Vả lại, đối diện với thời đại này, rất nhiều quốc gia đều là dân chủ chính trị, người lãnh đạo là được bầu chọn ra, cho nên người dân tuyển cử cũng phải có năng lực phán đoán nhân tài như thế nào mới là một nhân vật chính trị tốt, mới có thể làm người lãnh đạo. Nếu lão bá tánh đều được học “Quần Thư Trị Yếu” thì họ sẽ biết phán đoán. Người lãnh đạo này vừa nhậm chức thì đã dùng rất nhiều tiền, đặc biệt xem trọng việc hưởng thụ, xác định chắc chắn không phải là tốt, lần sau sẽ không bầu người này nữa. Từ trong lịch sử mấy nghìn năm đã hiểu được đức hạnh quan trọng nhất phải là “hiếu - liêm”, chọn “hiếu - liêm”. Họ về sau bỏ phiếu thì không phải đi nghe người ứng cử mắng người, mà là đi điều tra xem người ứng cử này có hiếu thảo hay không, có liêm khiết hay không, vậy mới có thể chọn ra được người hay, mới có thể làm tốt công tác chính trị. Vi chính tại nhân. Cho nên, quốc gia dân chủ thì lão bá tánh cũng cần phải đọc quyển sách này; nếu không, chọn sai người thì mỗi người đều phải gánh chịu trách nhiệm nhân quả. Người là do chúng ta chọn ra sai thì có gì để oán trách. Con người không có sức phán đoán, không chỉ hủy hoại cuộc đời chính mình mà có khi cũng hủy luôn tiền đồ của đất nước.

Tiếp theo, đoạn phía sau nói: “Nhiên nhân đương thời Trung Quốc điêu bản ấn loát thượng vị phát đạt”, vẫn không phải là rất phát đạt, vẫn không phải là đang vận dụng một cách rất phổ biến. “Thử thư chí Tống sơ dĩ thất truyền”. Vào lúc đó, việc in ấn vẫn chưa phát triển, có thể lúc đó cũng chỉ có được vài bộ sách. Kết quả đến đầu thời Tống thì thất truyền. Người Nhật Bản thật không đơn giản, xem những thứ này như bảo bối, họ đã bảo tồn nó. “Trong “Tống Sử” diệc bất kiến ký tải, sở hạnh giả, Nhật Bổn Kim Trạch Văn khố tạng hữu Liêm Thương thời đại”. Đây là Mộ Phủ cơ quan quân phiệt Nhật Bản, một thời kỳ gọi là Liêm Thương thời đại. “Nhật Bổn tăng nhân”, là người xuất gia của Nhật Bản. “Thủ tả “Quần Thư Trị Yếu” đích toàn dật”. Những tăng nhân này thật không hề đơn giản, họ đã chép lại bằng tay. Có thể thấy, bất luận là Trung Quốc hay là Nhật Bản, người xuất gia trong nhà Phật vào lúc đó đều có sự thâm nhập tương đối đối với văn hóa truyền thống, tương đối có tu dưỡng.

Bộ sách này “Bính ư thanh Càn Long lục thập niên”, chính là sau khi Gia Khánh đăng cơ chính là: “Do Nhật nhân tống hồi Trung Quốc bổn thổ”, mất rồi lại được. “Thượng Hải thương vụ ấn thư quán tứ bộ nghiệp san hòa Đài Loan phân biệt dĩ thử bản vi để bổn ảnh ấn xuất bản”. Đây là sự việc của khoảng 80 năm về trước. “Nhị linh nhất linh niên tuế mạt”, Sư phụ đề cập đến nhân duyên này chính là vào cuối năm 2010. Sư phụ “Hạnh đắc thử thư, phản phục phiên duyệt, hoan hỷ vô lượng”, Sư trưởng cảm thấy bộ sách quý thật sự là có thể cứu dân tộc, cứu thế giới. “Thâm khắc thể hội cổ thánh tiên hiền chi văn hóa giáo dục, đích năng vi toàn thế giới đới lai vĩnh hằng chi an định hòa bình”“Tối cực quan kiện giả”, mấu chốt nằm ở đâu? “Tức quốc nhân bổn thân, tất tu chân chánh nhận thức truyền thống văn hóa, đoạn nghi khởi tín”. Ngài có sự nhận biết chính xác, Ngài tin tưởng, Ngài sẵn lòng thâm nhập Kinh điển. Tiến đến áp dụng thực tiễn, giải hành tương ưng. Sau đó thì có thể không ngừng khế nhập cảnh giới của Thánh Hiền. Đầu tiên sự nghi hoặc có thể đoạn trừ.

“Thánh Hiền truyền thống văn hóa thực vi nhất thiết chúng sanh tự tánh lưu lộ, siêu vượt thời không, hỗ cổ di tân”. Thánh Hiền để lại những văn hóa Kinh điển này tuyệt nhiên không phải họ phát minh ra, cũng như Khổng Tử đã nói: “Thuật nhi bất tác”, họ đều là kế thừa từ cổ Thánh tiên Vương. Vả lại, họ đều là khế nhập tâm tánh, khế nhập minh đức, y theo tánh đức xử sự đối người tiếp vật. Cho nên, chúng ta học tập văn hóa truyền thống không phải là việc để cho Thánh Hiền nhân dắt mũi chúng ta đi, chỉ cần chúng ta lão thật y giáo phụng hành, bản thân chúng ta cũng có thể khế nhập minh đức. Vào lúc đó thì hiểu được tùy thuận tánh đức của chính mình ở đối nhân xử thế, chứ không phải để cho tổ tiên dắt mũi chúng ta. Bởi vì văn hóa truyền thống dẫn dắt chúng ta khế nhập cảnh giới chính là bổn thiện minh đức vốn có của mỗi người, là khôi phục minh đức của chúng ta. Cho nên những tánh đức này là chân lý siêu vượt thời gian không gian, là xưa nay không thay đổi.

Chúng ta từ bát đức và ngũ luân mà xem, ngũ luân và bát đức này tuyệt đối sẽ không thay đổi theo thời gian. Nếu thay đổi thì sẽ loạn. Cho nên cái này không phải là do ai phát minh ra, mà đây đều là học vấn tương ưng với tánh đức. Chúng ta xem “Hiếu - đễ - trung - tín - lễ - nghĩa - liêm - sỉ”, tất cả động loạn của xã hội và gia đình bởi vì không phù hợp tám đức này. Chỉ cần phục hưng bát đức này lại sẽ hóa giải hết những tai nạn của xã hội và gia đình. Mà chúng ta học tập như thế nào vậy? Sư trưởng đã nói: “Học tập quan kiện đoạn tại thành kính nhị tự”, phải chân thành cung kính để học tập, để lĩnh hội những giáo huấn này. Cho nên: “Một phần thành kính được một phần lợi ích, mười phần thành kính được mười phần lợi ích”. Phía sau Sư trưởng cũng có thêm vào: “Trăm phần thành kính được trăm phần lợi ích, nghìn lần thành kính đươc nghìn phần lợi ích, vạn lần thành kính được vạn lần lợi ích”. Mọi người đừng cho rằng tôi nói nhiều, không biết khi tôi đọc câu nói này, mọi người có ai cảm thấy cảnh giới của mình được nâng lên hay không? Vạn phần thành kính chúng ta có thể nâng lên được hay không? Thật sự nâng lên được, mỗi câu đều có chỗ tương ưng. Cho nên “Khúc Lễ Viết”: “Vô bất kính”, lúc nào cũng đều phải giữ gìn thái độ thành kính, đặc biệt là cầu học vấn. Vậy thì phải cung kính đối với Thánh Hiền, cung kính đối với Kinh điển mà họ đã để lại. Sự cung kính này thực tiễn như thế nào? Có lý có sự. Đó chính là trong mỗi một chi tiết nhỏ trong cuộc sống đều nâng cao thái độ cung kính của chính mình.

Tốt rồi! Tiết học này chúng ta tạm thời chỉ giao lưu đến đây. Tiết học tiếp theo, chúng ta sẽ tiếp tục cùng nhau học tập. Xin cảm ơn mọi người!

A Di Đà Phật!

Chia sẻ học tập “Quần Thư Trị Yếu 360” (Tập 1 - 2)

Giảng ngày 28 tháng 05 năm 2011 tại Trung tâm Giáo dục Văn hóa Trung Hoa Malaysia.

Người giảng: Thầy giáo Thái Lễ Húc

Cẩn dịch: Vọng Tây Cư Sĩ, Mộ Tịnh Cư Sĩ, Phước Tịnh Cư Sĩ

 

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Video mới nhất

Pháp ngữ mới nhất

Thống kê lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 58


Hôm nayHôm nay : 6662

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 305210

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 9429696

Các bậc tiền bối mô phạm của Tịnh Độ

Pháp môn Niệm Phật, vốn là bi tâm triệt đễ của Thích Ca Thế Tôn độ chúng sanh; pháp môn này tối giản tiện, tối ổn định, tối cao siêu. Nếu như pháp môn này không thể tu được, vậy thì không cần nói đến pháp khác. Chỗ tốt của pháp môn này, bậc đại học vấn càng nghiên cứu, càng cảm thấy cao thâm; người không biết một chữ, cũng có thể làm đến được. Đáng tiếc người không rõ lý, chỉ đem nó cho là việc của ông già bà lão, thật là quá đổi sai lầm. Mời xem hai vị đại thánh Văn Thù Phổ Hiền trên hội Hoa Nghiêm, đều ở trong Kinh khuyến tu; Mã Minh Long Thụ hai vị Đại Bồ Tát của An Độ, đều có trước luận hoằng dương Tịnh Độ. Cổ đức của Trung Thổ, từ Đại Sư Huệ Viễn mãi đến Đại Sư An Quang, những lịch đại tổ sư này, phần nhiều là trước tu các pháp môn khác về sau quy về Tịnh Độ. Đại Sư Loan Đàm có nhục thân Bồ Tát nổi tiếng, Đại Sư Trí Giả là người truyền đăng Phật, đều hoằng dương Tịnh Độ. Thời cận đại Đại Sư Đế Nhàn của Tông Thiên Thai, Đại Sư Thái Hư của Tông Duy Thức, Đại Sư Hoằng Nhất của Luật Tông, Hư Vân Viên Anh hai vị Đại Sư của Thiền Tông, mỗi vị đều có trước tác, cũng là hoằng dương Tịnh Độ. Các vị cư sĩ nổi tiếng Lô Sơn triều Tần, Bạch Lạc Thiên của triều Đường, Tô Đông Pha Văn Ngạn Bác của triều Tống, Viên Hoằng Đạo của triều Minh, Bàng Xích Mộc Vương Nhân Sơn .v.v của triều Thanh, đều là nhà đại học vấn, họ đều là tức tâm Tịnh Độ, đây là người người đều biết đến. Còn có rất nhiều người, nhất thời không thể nhớ ra hết, cũng không cần phải nêu ra nữa. Hạng như ta tự hỏi : trí huệ, đức năng, so với những thánh hiền trên đây, ai cao ai thấp? Các ngài đều là chuyên tu chuyên hoằng Tịnh Độ, còn ta thì ngược lại xem thường; tri kiến như vậy, có thể nói là chính xác chăng?